Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở nước ta - thực trạng và giải pháp - Pdf 25


Đại học quốc gia Hà Nội
Khoa luật

Hoàng Anh Tuấn Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở nước ta -
Thực trạng và giải pháp

Luận văn thạc sĩ luật học
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 5.05.14 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2003

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BUÔN LẬU, TỘI PHẠM BUÔN LẬU
VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN LẬU

1.1. Nhận thức chung về buôn lậu và tội phạm buôn lậu
5
1.2. Nhận thức chung về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn
lậu

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, trong nhiều năm gần đây, tình hình buôn lậu và tội phạm
buôn lậu đã và đang có những diễn biến hết sức phức tạp, có xu hướng tăng
nhanh cả về quy mô đến chủng loại hàng hoá và thiệt hại gây ra. Hoạt động
buôn lậu hình thành nên các tuyến, địa bàn trọng điểm, nóng bỏng ở biên giới
phía Bắc, phía Tây và Tây Nam Bộ, trải dài từ biên giới đất liền đến biên giới
trên biển, các cửa khẩu đường không, đường biển, đường bộ, ở đâu cũng có
buôn lậu. Đối tượng tham gia buôn lậu ngày càng đa dạng với các thành phần
khác nhau trong xã hội, từ bọn buôn lậu chuyên nghiệp đến cả những cán bộ,
đảng viên tha hoá, biến chất trong bộ máy cơ quan nhà nước, trong lực lượng
vũ trang, trong các cơ quan bảo vệ pháp luật và cả người nước ngoài đến Việt
Nam công tác, thăm thân hay du lịch Phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh
vi, xảo quyệt. Để có được lợi nhuận bọn tội phạm buôn lậu không bỏ qua một
phương thức, thủ đoạn nào, từ những hoạt động lén lút bí mật đến công khai
trắng trợn, từ lợi dụng những thiếu sót trong quản lý biên giới của các cơ quan
nhà nước, lợi dụng các kẽ hở trong chính sách xuất nhập khẩu đến dùng tiền,
lợi ích vật chất móc nối với những cán bộ, đảng viên tha hoá, biến chất trong
các cơ quan nhà nước để buôn lậu. Đồng thời, để chống lại các cơ quan chức
năng, tội phạm buôn lậu còn lôi kéo sử dụng dân thường, đối tượng chính
sách vận chuyển hàng thuê. Khi bị phát hiện thì chính những người dân
nghèo, đối tượng chính sách làm thuê này trở thành lực lượng gây sức ép
chống lại các cơ quan chức năng để tẩu tán hàng hoá buôn lậu.
Buôn lậu nói chung và tội phạm buôn lậu nói riêng đang từng ngày, từng
giờ phá hoại kinh tế nước ta, gây thiệt hại rất lớn cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh như làm đình trệ, phá sản các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong nước;
làm nghèo đi các nguồn lợi tự nhiên Bên cạnh đó, buôn lậu còn làm giảm uy
tín, hiệu lực quản lý của nhà nước; góp phần gia tăng nhiều tiêu cực trong xã



3
Chính trị quốc gia 2000; Đề tài khoa học cấp bộ "Đấu tranh chống buôn lậu
trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc" của Viện Nghiên cứu Chiến
lược và Khoa học Công an, năm 2000. Bên cạnh đó, còn có một vài luận văn
thạc sĩ, luận văn cử nhân như: "Đấu tranh phòng chống tội buôn lậu và vận
chuyển hàng hoá, tiền tệ trái phép qua biên giới" của ThS. Nguyễn Văn Giàu;
"Công tác phòng ngừa và đấu tranh chống buôn lậu trên tuyến biển miền
Trung của Bộ đội biên phòng" của ThS. Nguyễn Thành Luỹ 1996. Các công
trình nghiên cứu này đã đề cập một cách khái quát về mặt lý luận của buôn
lậu và tội phạm buôn lậu cũng như đề cập đến công tác đấu tranh phòng
chống buôn lậu của những cơ quan, lực lượng chức năng.
Tuy nhiên, như trên đã trình bày, mặc dù có các công trình đã được công
bố, nhưng việc nghiên cứu về đấu tranh phòng chống tội phạm này vẫn phải
tiếp tục ở nhiều khía cạnh khác nhau. Mặt khác cũng phải thấy rằng, các công
trình đó chưa đặt kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực
nên các dự báo đưa ra chưa thực sự sát hợp với điều kiện thực tế hiện nay, các
giải pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở khía cạnh đấu tranh chống buôn lậu và tội
phạm buôn lậu mà chưa tìm ra giải pháp phòng ngừa thích hợp đối với loại tội
phạm này. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp đấu tranh
phòng chống tội phạm buôn lậu trong điều kiện hiện nay là cần thiết trong điều
kiện nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi từ những vấn đề lý luận đến thực trạng tội phạm buôn lậu và
thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu để đưa ra những
dự báo về tình hình tội phạm buôn lậu trong những năm tới. Trên cơ sở đó xây
dựng giải pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với tội phạm buôn lậu,
góp phần vào việc đẩy lùi tội phạm, xây dựng nền an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu

5
Chương 2: Thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở nước ta trong 5
năm (từ 1998 - 2002)
Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội
phạm buôn lậu ở nước ta
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BUÔN LẬU, TỘI PHẠM BUÔN
LẬU
VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN LẬU

1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ BUÔN LẬU VÀ TỘI PHẠM BUÔN LẬU
1.1.1. Khái niệm buôn lậu và tội phạm buôn lậu
Hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hoá xuất hiện từ khi nền kinh tế - xã
hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, của cải trong xã hội không những
đủ đảm bảo cho đời sống của các thành viên trong xã hội mà còn có tích luỹ
và dư thừa. Quá trình trao đổi, buôn bán lúc đầu chỉ là sự trao đổi những mặt
hàng thiết yếu phục vụ cho đời sống và sản xuất trong phạm vi nhỏ hẹp giữa
các cá nhân có nhu cầu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, trao
đổi hàng hoá cũng không ngừng phát triển và làm xuất hiện tầng lớp thương
nhân chuyên làm trung gian trao đổi hàng hoá giữa người sản xuất và người
tiêu dùng. Hoạt động của tầng lớp thương nhân khiến cho việc trao đổi hàng
hoá không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn ngày càng phát
triển rộng trên phạm vi toàn cầu. Sự mở rộng phạm vi của hoạt động mua bán,
trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát

trong khoảng thời gian dài từ năm này sang năm khác, mặc dù đã bị các cơ
quan chức năng của nhà nước xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau mà vẫn
không thể ngăn chặn, loại trừ được có thể gọi là tệ nạn buôn lậu. Tệ nạn buôn
lậu tồn tại, phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả ở Việt Nam đã
kéo dài hàng trăm năm.
Để đấu tranh với nạn buôn lậu, nhiều nước trên thế giới nói chung và
nhà nước ta nói riêng có quy định các hình thức xử lý khác nhau, tuỳ thuộc
vào tính chất và mức độ vi phạm của hành vi buôn bán trái phép hàng hoá,
tiền tệ qua biên giới. Một trong những hình thức xử lý hành vi buôn lậu
nghiêm khắc nhất là quy định hình phạt đối với tội phạm buôn lậu trong luật
hình sự. Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội thông qua ngày 21-12-1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-

8
2000 đã có quy định về tội phạm buôn lậu tại Điều 153, chương XVI - Các
tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Theo Điều 153, người nào buôn bán
trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá
quý có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu
đồng nhưng đã bị xử phạt về hành chính theo quy định tại Điều luật này (tái
phạm hành chính) hoặc tại một trong các Điều 154, 155, 156, 157, 158, 159,
160, 161 của Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này,
chưa được xoá án tích mà còn vi phạm (tái phạm hình sự); vật phẩm thuộc di
tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm có số lượng lớn hoặc hàng cấm có số lượng
chưa được coi là lớn nhưng lại tái phạm hành chính hoặc tái phạm hình sự
thì cấu thành tội buôn lậu. Như vậy chúng ta có thể xây dựng một khái niệm
chung nhất về tội buôn lậu như sau: Tội phạm buôn lậu là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định tại điều 153, Bộ luật Hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện, do cố ý bằng cách buôn bán trái phép qua
biên giới những loại hàng hoá, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, những vật phẩm
thuộc di tích lịch sử, văn hoá, hàng cấm.

phủ ty nếu không ngăn chặn được việc chở hàng trốn thuế của người ngoại
quốc phương Bắc; bên cạnh đó, triều đình sẽ trừng trị (hạ chức - biếm, đồ)
nếu các quan vâng mệnh đi sứ nước ngoài chỉ lo buôn bán kiếm lời tư túi, nếu
giấu diếm không khai với quan ải thì xử hạ chức hoặc bãi chức, đồ vật bị tịch
thu sung công (Điều 221, Bộ luật Hồng Đức) [34, tr.95-96]. Cuối thời Lê, để
ngăn chặn nạn lái buôn Trung Quốc mua gom hết gạo trong nhân dân, năm
1785, Chúa Trịnh đã chọn đất mở chợ, định giá mua bán rõ ràng và lệnh cho
các trấn tuần xét vùng biển kỹ lưỡng, chống việc buôn bán trộm gạo ra nước
ngoài bằng đường biển [25, tr.32]. Đồng thời, triều đình cũng rất chú trọng
đến việc quản lý, khám soát thuyền buôn nước ngoài chở hàng vào Việt Nam.
Theo Lê Quý Đôn, tại cảng Hội An thời Trịnh - Nguyễn, tàu buôn nước ngoài
khi vào Hội An thì Thuyền trưởng và Tài phó phải trình cai bạ, sau khi cai bạ
xác nhận đã làm tờ khai đầy đủ và báo cho cai tàu, Tuần ty đưa tàu vào bến

10
cửa biển rồi bến Sở tuần; sau đó, các Nha đến khám xét, điểm mục kê khai
của Thuyền trưởng, Tài phó về số người, hàng hoá. Thuyền trưởng phải kê
khai cụ thể hoá vật trong tàu, nếu giấu diếm từ một vật trở lên khi khám thấy
sẽ bị tịch thu và trị tội theo phép nước [24, tr.232-233].
Triều Gia Long còn có thể chế thành luật pháp về thuế quan, ngăn ngừa
buôn lậu. Điều 133, Luật Gia Long quy định rõ: Tất cả các tàu buôn nước
ngoài khi cập cảng phải khai báo ngay lập tức, đầy đủ và thành thật mọi loại
hàng để chịu thuế Nhà nước, những hàng hoá không kê khai đầy đủ đều bị
tịch thu sung công. Ai gian lận đem ra khỏi bờ cõi ngựa, bò, quân dụng hay
sắt thép để làm khí giới hay tiền, tơ lụa, gấm vóc, bông vải để bán cho nước
ngoài sẽ bị phạt một trăm trượng. Thuyền dùng để chở đều bị sung công, 3/10
của tổng số hàng hoá sẽ được dùng để thưởng cho người tố giác kẻ buôn lậu
[50, tr.22]. Ngoài ra, triều đình đã ban hành lệnh cấm tất cả các thuyền buôn
từ Tân Châu (Trung Quốc) vào Việt Nam và khám xét tất cả các thuyền buôn
nước ngoài vào các cảng dọc theo bờ biển nước ta [40, tr.34].

người tham dự, dùng thủ đoạn gian lận. Ngày 03-7-1966, Thủ tướng Chính phủ
ra Chỉ thị số 118/TTg về tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh chống đầu cơ
buôn lậu trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ: "Đối với các hoạt động đầu cơ
buôn lậu cần phải xử lý nghiêm khắc theo các thể lệ Nhà nước đã ban hành".
Chỉ thị cũng quy định: "Việc xử lý các vụ việc vi phạm sẽ căn cứ và các quy
định của Sắc luật số 001/Sl ngày 14-4-1957, Nghị định số 163/TTg ngày 19-4-
1957". Có thể nói từ năm 1945 đến những năm cuối của thập kỷ 60, hoạt động
chống buôn lậu của chúng ta chủ yếu tập trung vào phòng chống các tội phạm
buôn lậu thuốc phiện và các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống.
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập, việc
thống nhất và khôi phục nền kinh tế càng được Nhà nước ta quan tâm hơn.
Đồng thời, để bảo hộ nền sản xuất trong nước, Hội đồng Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 76/CP ngày 25-3-1977 về chống đầu cơ, buôn lậu. Đến
năm 1982, nhằm ban hành những quy định pháp lý cụ thể, rõ ràng hơn và có
hiệu lực cao hơn để đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu, ngày 30-6-

12
1982, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh chống đầu cơ, buôn lậu. Sau
đó, ngày 10-5-1983, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 46/HĐBT
quy định về việc xử lý hành chính đối với các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm
hàng giả và kinh doanh trái phép. Tuy vậy, buôn lậu vẫn không có dấu hiệu
thuyên giảm. Thời kỳ này, tội buôn lậu thường gắn với tội đầu cơ, kinh doanh
trái phép; đối tượng tác động của tội phạm buôn lậu là các mặt hàng thiết yếu
cho cuộc sống của nhân dân, số lượng hàng hoá buôn lậu thường không lớn.
Trước tình hình đó, năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định
số 68/HĐBT ngày 25-4-1984 về chống buôn lậu và vận chuyển hàng hoá, tiền
tệ qua biên giới.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Bộ luật Hình sự của nước ta, được
Quốc hội thông qua ngày 27-6-1985 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong hoạt động lập pháp của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các

quản lý kinh tế (Chương XVI, Bộ luật Hình sự) [1, tr.181].
Nhìn chung, trong thời kỳ nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp thì buôn lậu chỉ là một khái niệm bao gồm các hành
vi buôn bán hàng cấm, buôn bán trốn lậu thuế. Khi kinh tế - xã hội chuyển
sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt
động buôn lậu lại càng diễn ra nghiêm trọng và phức tạp hơn. Do đó, Nhà
nước đã nhanh chóng xây dựng những chế định pháp luật phù hợp nhằm kịp
thời điều chỉnh vấn đề này, trong đó luật Hình sự cũng quy định về tội danh
buôn lậu một cách cụ thể và khái quát hơn.
1.1.3. Phân biệt tội buôn lậu với một số tội và hành vi tương tự
Để phân biệt tội phạm buôn lậu với các hành vi tương tự cần nắm được
các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này được quy định trong Bộ luật hình sự.
Theo Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội buôn lậu cho thấy: Khách
thể của tội buôn lậu là sự xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước về ngoại
thương; xâm phạm chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước, chính sách bảo

14
hộ sản xuất trong nước. Mặt khách quan của tội phạm buôn lậu được thể
hiện ở các loại hành vi sau đây:
a) Buôn bán trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ,
kim khí quý, đá quý (hành vi này được coi là tội phạm khi hàng hoá, tiền Việt
Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc
người có hành vi đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án và chưa được
xoá án tích về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các Điều 154,
155, 156, 157, 158, 159, 160 và 161 Bộ luật Hình sự);
b) Buôn bán trái phép qua biên giới vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn
hoá (hành vi này luôn bị coi là tội phạm, không phụ thuộc vào giá trị của vật
phẩm bị buôn bán qua biên giới);
c) Buôn bán trái phép qua biên giới các loại hàng cấm theo danh mục
do Nhà nước ban hành (hành vi này bị coi là tội phạm khi hàng cấm được

các cơ quan, lực lượng chức năng có lúc, có nơi chưa có sự nhận thức sâu sắc,
thống nhất giữa một số loại tội phạm nói chung với nhau, trong đó chưa có sự
phân biệt chưa rõ ràng giữa tội phạm buôn lậu và hành vi buôn lậu không phải
là tội phạm; tội phạm buôn lậu với tội phạm vận chuyển hàng hoá trái phép
qua biên giới; tội phạm buôn lậu với tội phạm buôn bán hàng cấm; hành vi
buôn lậu và hành vi gian lận thương mại. Do đó, việc tìm hiểu những điểm
giống nhau, khác nhau và mối quan hệ giữa chúng có một ý nghĩa rất quan
trọng không chỉ về mặt lý luận mà cả trong thực tiễn.
1. Phân biệt tội buôn lậu và hành vi buôn lậu không phải là tội phạm
Giữa tội phạm buôn lậu và hành vi buôn lậu không phải là tội phạm có
nhiều điểm giống nhau và khác nhau đòi hỏi phải được phân biệt rạch ròi để
tránh những sai lầm đáng tiếc trong việc xác định mức độ vi phạm và áp dụng
các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm đó. Ở đây ta nhận thấy, tội phạm
buôn lậu và hành vi buôn lậu không bị coi là tội phạm có những điểm chung
sau đây:

16
Thứ nhất, tội phạm buôn lậu và hành vi buôn lậu không phải là tội
phạm đều xâm phạm đến chế độ, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu của Nhà
nước - quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
Thứ hai, cả tội phạm buôn lậu và hành vi buôn lậu không phải là tội
phạm đều được thể hiện bằng hành vi buôn bán trái phép qua biên giới các
loại hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý và hàng cấm.
Thứ ba, cả hai đều giống nhau về yếu tố lỗi. Tội phạm buôn lậu và
hành vi buôn lậu không phải là tội phạm đều được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý
trực tiếp). Nói cách khác, người thực hiện hành vi nhận thức được hành vi
buôn bán trái phép qua biên giới là hành vi vi phạm pháp luật, thấy trước
được hậu quả xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Thứ tư, người phạm tội buôn lậu và người thực hiện hành vi buôn lậu
không phải là tội phạm đều có mục đích giống nhau là hướng tới lợi nhuận

trong các điều từ 154 đến 161, Bộ luật Hình sự thì không bị coi là tội phạm
buôn lậu, mà bị coi là hành vi buôn lậu không phải là tội phạm và được xử lý
theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải
quan.
Thứ ba, hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi buôn bán trái phép
qua biên giới của tội phạm buôn lậu nếu bị kết án và bị áp dụng hình phạt thì
còn bị coi là có án tích. Trong khi đó người có hành vi buôn lậu không bị coi là
tội phạm nếu bị xử lý chỉ là xử phạt vi phạm hành chính và không có án tích.
2. Phân biệt tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ
qua biên giới (Điều 154, Bộ luật Hình sự 1999)
Trước đây, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định hai tội phạm này trong
cùng một điều luật (Điều 97, Bộ luật Hình sự 1985, Tội buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới). Nhưng Bộ luật Hình sự năm
1999 lại tách riêng hai tội phạm này và quy định tại hai điều khoản khác nhau:
Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153, Tội vận chuyển trái phép hàng hoá,
tiền tệ qua biên giới được quy định tại Điều 154.

18
Hai tội trên đều có dấu hiệu pháp lý giống nhau về mặt khách thể của
tội phạm: xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương của Nhà nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ thể của hai loại tội phạm này đều giống nhau là
người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Về mặt chủ
quan của tội phạm, cả người thực hiện hành vi buôn lậu và người thực hiện
hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới đều do lỗi cố ý.
Về mặt khách quan của tội phạm thì tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái
phép qua biên giới hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý;
vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm. Còn tội vận chuyển trái
phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới là hành vi vận chuyển trái phép qua biên
giới quốc gia hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý; vật
phẩm thuộc di tích văn hoá, lịch sử; hàng cấm.

hành vi vận chuyển hàng hoá, tiền tệ trái phép đó bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội buôn lậu với vai trò người đồng phạm.
3. Phân biệt tội buôn lậu và tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán hàng cấm (Điều 155, Bộ luật Hình sự 1999)
Hai tội phạm này mặc dù có sự giống nhau về khách thể loại là trật tự
quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, nhưng khách thể trực tiếp của chúng
lại hoàn toàn khác nhau. Tội phạm buôn lậu xâm hại đến chế độ quản lý ngoại
thương của Nhà nước; tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm lại xâm hại đến chế độ quản lý một số loại hàng hoá đặc biệt theo danh
mục của Nhà nước. Đối tượng tác động của tội phạm buôn lậu rộng hơn đối
tượng tác động của tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm. Bởi vì, ngoài những đối tượng là hàng hoá mà Nhà nước cấm sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển và buôn bán (trừ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật
quân sự, chất ma tuý, ), tội phạm buôn lậu còn có đối tượng tác động khác
là: hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. Về mặt khách
quan của tội phạm: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có
4 loại hành vi: hành vi sản xuất hàng cấm; hành vi tàng trữ hàng cấm; hành vi
vận chuyển hàng cấm và hành vi buôn bán hàng cấm. Nếu so sánh, hành vi

20
buôn bán hàng cấm và hành vi buôn lậu những mặt hàng là hàng cấm, chúng
ta sẽ thấy hành vi buôn bán hàng cấm là hành vi mua đi bán lại hàng cấm
dưới bất kỳ hình thức nào, được thực hiện ngay trong phạm vi lãnh thổ nước
ta mà không nhằm mục đích đưa hàng cấm qua biên giới để thu lợi bất chính.
Trong khi đó, hành vi buôn lậu hàng hoá là hàng cấm cũng là hành vi mua
bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lợi, nhưng sự trao đổi, mua bán ở đây phải
có yếu tố qua biên giới quốc gia, nghĩa là người có hành vi đó mua hàng cấm
từ bên ngoài đưa vào nước ta hay bán hàng cấm ra nước ngoài. Ở đây, yếu tố
qua biên giới là yếu tố quan trọng để phân định tội phạm buôn lậu (hàng cấm)
với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.

phương tiện thông tin đại chúng. Cụm từ “gian lận thương mại” thường đi
liền với “buôn lậu”, “hàng giả” Vậy hành vi gian lận thương mại là gì; nó
khác với hành vi buôn lậu ở chỗ nào; giữa chúng có mối quan hệ như thế nào?
Đó là những vấn đề mà chúng ta cần đề cập tới và phân tích làm rõ.
Tại Hội nghị chống gian lận thương mại lần thứ V của Tổ chức Hải
quan Thế giới, họp vào tháng 10 năm 1995 tại Bruxell - Bỉ cũng đã nêu tóm
tắt 16 loại hình gian lận thương mại phổ biến là:
1. Buôn lậu hàng hoá, kể cả hàng bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu và đặc biệt
là hàng hoá thuộc Công ước Washington về bảo vệ động vật quý hiếm và các
quy định quốc gia về bảo vệ môi trường qua biên giới hoặc ra khỏi kho hải
quan;
2. Khai báo sai;
3. Khai tăng, giảm giá trị;
4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế);
5. Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công;
6. Lợi dụng chế độ tạm nhập;
7. Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất, nhập khẩu;
8. Lợi dụng chế độ quá cảnh (đem dùng trong nước);
9. Khai sai về phẩm cấp, xuất xứ hàng hoá;

22
10. Lợi dụng chế độ, mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng
được ưu đãi thuế nhập khẩu dành cho những đối tượng sử dụng nhất định;
11. Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định bảo vệ người
tiêu dùng;
12. Hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã;
13. Hàng giao dịch, buôn bán không sổ sách;
14. Yêu cầu giả, khống hoặc truy hoàn thuế hải quan (kể cả chứng từ về
hàng đã xuất khẩu);
15. Kinh doanh “ma”, đăng ký lậu nhằm hưởng tín dụng, thuế trái phép;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status