Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam nằm ở vĩ độ từ 8
0
27 Bắc đến 23
0
27 Bắc, trên kinh độ từ 102
0
8
Đông đến 109
o
27 Đông. Với diện tích tự nhiên là 330.991km
2
, vùng biển rộng
lớn trên 1 triệu km
2
, với các đảo và quần đảo, vùng trời thuộc lãnh thổ nớc ta. Việt
Nam phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Campuchia, phía Đông giáp
biển Đông, với đờng biển dài 3260km, đờng biên giới trên bộ dài 450km.
Tính đến hết năm 2006, dân số của Việt Nam đạt 84.155.800 ngời. Dân c
đô thị chiếm 27,2% dân số, dân c nông thôn chiếm 72,8% dân số. Tỷ lệ giới tính
đợc duy trì ổn định: Nam khoảng 49,1%, nữ khoảng 50,9%. Dân số Việt Nam là
loại dân số trẻ, 27,3% từ 0 đến 14 tuổi, 20,5% từ 14 đến dới 18 tuổi, 45,2% từ 18
đến dới 65 tuổi, chỉ khoảng 7,0% dân số có độ tuổi từ 65 trở lên [12].
Lịch sử của dân tộc Việt Nam cho thấy chính lực lợng trẻ là thiếu niên đã
có công lao to lớn góp phần làm nên những chiến công vẻ vang cho non sông Việt
Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Non sông Việt Nam có trở nên vẻ
vang sánh vai các cờng quốc năm châu hay không đấy là nhờ một phần lớn ở
công học tập của các cháu .
Ngày nay, bên cạnh những thiếu niên chăm ngoan học giỏi thì vẫn còn một
Nhng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, trớc xu hớng
hội nhập và mở cửa, toàn cầu hoá, song song với những cơ hội, chúng ta còn phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức tiềm ẩn nhiều những nguyên nhân, điều
kiện làm phát sinh tình hình tội phạm (THTP). Việc đấu tranh phòng chống tội
phạm do NCTN thực hiện hiện nay không chỉ là vấn đề của Quốc gia mà đã trở
thành vấn đề đợc hầu hết các Quốc gia trên thế giới dành sự quan tâm đặc biệt.
Vì những lý do trên đây, việc nghiên cứu đề tài Đấu tranh phòng chống
tội phạm do ngời cha thành niên thực hiện ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả
cho hoạt động đấu tranh phòng chống THTP do NCTN thực hiện ở Việt Nam.
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phạm vi nghiên cứu đề tài: chỉ tập trung vào nghiên cứu THTP do NCTN
thực hiện ở Việt Nam từ năm 2000 2007, những nguyên nhân và điều kiện của
THTP do NCTN thực hiện dới góc độ tội phạm và những biện pháp đấu tranh
phòng chống tội phạm của NCTN đang đợc thực hiện, trên cơ sở đó đề xuất để tiếp
tục hoàn thiện hơn nữa các biện pháp phòng ngừa trên phạm vi cả nớc.
3. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phơng pháp luận: Nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phơng pháp luận
biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin. T tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nớc ta về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thanh
niên; về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và đấu tranh phòng chống
THTP do NCTN thực hiện nói riêng. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
sử dụng đồng bộ các phơng pháp nghiên cứu cụ thể là:phơng pháp thống kê, ph-
ơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phơng pháp mô tả, giải thích, toán học...
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu: Đề ra những giải pháp đấu tranh phòng, chống THTP
do NCTN thực hiện ở Việt Nam từ năm 2000- 2007, góp phần thực hiện nhiệm vụ
đấu tranh phòng chống THTP trên toàn quốc.
Có những đứa trẻ đang là con ngoan trò giỏi, bỗng một ngày lại vi phạm
pháp luật hình sự, gây những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ngợc lại cũng có
những đứa trẻ sau khi phạm tội đợc giáo dục, cảm hoá, nhận ra lỗi lầm của mình
lại trở thành những công dân tốt của xã hội.
Theo Pháp luật quốc tế, cũng nh pháp luật của các quốc gia trên thế giới,
căn cứ để phân biệt NCTN là ở độ tuổi của họ. ở mỗi quốc gia khác nhau thì độ
tuổi của NCTN lại đợc qui định khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào truyền thống
văn hoá, điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử lập pháp, tập quán và các yếu tố tâm
sinh lý của con ngời trong mỗi quốc gia đó.
Pháp luật Việt Nam qui định NCTN là ngời đã đủ 14 tuổi nhng cha đủ 18
tuổi [8], [9], [13], [15], [17]. Cụ thể, theo Điều 12, Bộ luật hình sự (BLHS) Việt
Nam năm 1999 qui định: 1. Ngời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm
hình sự (TNHS) về mọi tội phạm. 2. Ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhng cha đủ 16
tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng [17]. Hay nói một cách khác đi thì: NCTNPT là ngời có độ
tuổi từ đủ 14 tuổi đến dới 18 tuổi, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc
Luật hình sự qui định là tội phạm [7, tr.176], [10, tr.340], [17].
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đánh giá thực trạng và diễn biến của THTP do NCTN thực hiện ở Việt Nam
là xem xét tổng số các tội phạm cụ thể, số lợng NCTN thực hiện các tội phạm đó
và sự thay đổi của THTP trong khoảng thời gian từ năm 2000 2007.
Theo thống kê hình sự của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC), từ năm
2000 đến Tháng 12.2007 TANDTC đã đa ra xét xử sơ thẩm và kết tội 596.969 bị
cáo, trong đó có 34.831 bị cáo là NCTN, trung bình chiếm trên 5,8%/năm. Điều
đó có nghĩa là cứ 100 bị cáo bị đa ra xét xử thì có tới hơn 5 bị cáo là NCTN. Nếu
tính số tuyệt đối thì trung bình mỗi năm có trên 4354 bị cáo là NCTN trên phạm vi
cả nớc. Xem bảng số 1.1 dới đây:
Bảng 1.1. Tổng số bị cáo và số bị cáo là NCTNPT bị xét xử
ở Việt Nam từ năm 2000 2007
sản (Đ139); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Đ140); Tội huỷ hoại hoặc
cố ý làm h hỏng tài sản (Đ143).
- Nhóm các tội về ma tuý (Chơng XVIII), các bị cáo là NCTN chỉ phạm vào
01 tội: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý
(Đ194).
- Nhóm các tội phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chơng XIX),
các bị cáo là NCTN chỉ phạm vào 04 tội: Tội vi phạm qui định về điều khiển ph-
ơng tiện giao thông đờng bộ (Đ202); Tội phá hủy công trình, phơng tiện quan
trọng về an ninh Quốc gia (Đ231); Tội gây rối trật tự công cộng (Đ245); Tội đánh
bạc (Đ248); Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Đ249).
Thực trạng của THTP do NCTN thực hiện ở Việt Nam từ năm 2000 2007
cho ta thấy: + Số NCTNPT so với tổng số tội phạm xảy ra có xu hớng gia tăng và
chiếm tỷ lệ khá cao;+ Các bị cáo là NCTN chỉ thực hiện hành vi phạm tội chủ yếu
ở 04 nhóm tội phạm tơng ứng với các chơng trong phần các tội phạm cụ thể của
BLHS Việt Nam 1999; +Trong mỗi nhóm các tội phạm, bị cáo là NCTN chỉ phạm
vào một hoặc một số tội cụ thể đợc qui định tại các điều của BLHS Việt Nam
1999.
Song song với quá trình vận động và phát triển thì cái cũ mất đi, cái mới ra
đời nhng cha hoàn thiện lại chịu sự tác động của nền kinh tế thị trờng đã tạo ra
những môi trờng thuận lợi làm nảy sinh và phát triển những hiện tợng tiêu cực
trong xã hội, đặc biệt là các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm với tính chất,
mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Qua nghiên cứu về diễn biến của THTP do NCTN thực hiện ở Việt Nam từ
năm 2000 2007 cho thấy: THTP do NCTN thực hiện giai đoạn hiện nay có
chiều hớng gia tăng. Điều này là do ảnh hởng khá rõ nét của cơ chế tác động vào
NCTN trong giai đoạn đầu của hội nhập, mở cửa, toàn cầu hoá.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xem bảng 1.2 và biểu đồ 1.1:
Bảng 1.2. Diễn biến của THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn cả nớc
147,1%
174%
182,5%
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Qua việc nghiên cứu và phân tích 34.831 NCTNPT bị truy tố ở Việt Nam từ
năm 2000 2007 cho thấy họ phạm hầu hết các tội danh đã đợc qui định trong
BLHS 1999. Tuy nhiên, cơ cấu tội phạm do NCTN đợc thực hiện có những nét đặc
thù về lứa tuổi, vị trí, vai trò xã hội của NCTN, và do cấu thành tội phạm của một
số tội đòi hỏi chủ thể phải có những dấu hiệu đặc biệt. Nên về mặt thực tế thì
NCTN thực hiện chủ yếu là các tội phạm xâm phạm sở hữu và các tội phạm có sử
dụng bạo lực. Riêng các tội xâm phạm an ninh quốc gia, đợc qui định tại Chơng
XI BLHS Việt Nam 1999 đòi hỏi ngời phạm tội phải có ý thức chính trị rõ ràng.
Có trờng hợp ngời thực hiện tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc
gia, đủ 14 tuổi trở lên nhng cha đủ 16 tuổi, cha có ý thức chính trị rõ ràng nên
không bị xử lý về hình sự. Có trờng hợp ngời thực hiện tội phạm khác xâm phạm
an ninh Quốc gia đủ 16 tuổi nhng cha đủ 18 tuổi không bị xử lý về hình sự.
Để minh chứng cho nhận xét trên, ta xem bảng 1.3 sau:
Bảng 1.3. Cơ cấu của THTP do NCTN thực hiện
theo nhóm tội danh
STT Nhóm tội Số bị cáo là NCTN
Tỉ lệ % so với
tổng số bị cáo
CTNPT
1 Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
con ngời
7196 20,66
2 Xâm phạm sở hữu 22243 63,86
3 Về ma túy 2947 8,46
4 Về an toàn công cộng, trật tự
công cộng
6 Tội tàng trữ, vận chuyển... ma tuý 1623 4,66
7 Tội hiếp dâm và hiếp dâm trẻ em 1484 4,26
8 Tội vi phạm ATGT đờng bộ 902 2,59
9 Các tội phạm khác 5329 15,3
Tổng số bị cáo là NCTNPT 34,831 100%
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Biểu đồ 1.3. Cơ cấu tội phạm do NCTN thực hiện
(theo tội phạm cụ thể) từ năm 2000 2007
Các tội phạm cụ thể từ năm 2000 2007 do NCTN thực hiện ở Việt Nam
chủ yếu gồm 16 loại tội tơng ứng với 16 tội danh đợc qui định trong BLHS 1999.
Sau đây chúng ta cùng đi vào các tội danh cụ thể đó:
* Tội trộm cắp tài sản (Đ138): qua nghiên cứu 34831 NCTN bị truy tố từ
năm 2000 2007 cho thấy: Tội trộm cắp tài sản là tội đợc NCTN thực hiện nhiều
nhất với 9140 bị cáo, chiếm tới 26,24%. Những thiệt hại gây ra thờng là không
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đáng kể, những tài sản bị chiếm đoạt cũng chủ yếu là những đồ dùng trong sinh
hoạt gia đình hoặc cá nhân bởi những tài sản đó vừa dễ lấy trộm lại vừa dễ dàng
mang đi tiêu thụ.
* Tội cớp tài sản (Đ133): Tội cớp tài sản là loại tội chỉ đứng thứ 2 sau tội
trộm cắp tài sản do NCTN thực hiện, với 8718 bị cáo chiếm 25,03%. NCTN thực
hiện hành vi cớp cũng chỉ nhằm chiếm đoạt những tài sản có giá trị trung bình với
mục đích để tiêu xài, chơi game, chat... Nhng cá biệt có những nhóm cớp nhí rất
liều lĩnh, gây các vụ cớp táo tợn khiến d luận nhân dân hết sức hoang mang nh vụ
cớp sau:
Khoảng 16h30 ngày 5.3.2008, một phụ nữ tìm đến trụ sở công an thành
phố Lạng Sơn trình báo về việc nhà chị vừa bị một toán cớp xông vào cớp hết tài
sản. Đó là chị Đào Thị Ngọc Lan, trú tại xã Hùng Sơn, Huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên vừa lên thành phố Lạng Sơn thuê trọ tại nhà số 7 đờng Lê Đại Hành, ph-
ờng Vĩnh Trại để bán nớc kiếm tiền sinh sống. Vào khoảng 15h cùng ngày, khi chị
đến chết ngời hoặc gây cố tật suốt đời cho nạn nhân. Đặc biệt trong thời gian gần
đây, NCTN đã tham gia hoặc thực hiện những hành vi cố ý gây thơng tích nhng ở
mức độ rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nh: có tổ chức, sử dụng hung
khí kiếm, côn, súng, tính chất phạm tội côn đồ, hung hãn, hậu quả để lại là rất
nghiêm trọng, để lại thơng tích, cố tật nặng cho nạn nhân, gây mất an toàn cho xã
hội.
* Tội giết ngời (Đ93): Trong cơ cấu các tội do NCTN thực hiện thuộc nhóm
tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của ngời khác phải kể đến
tội giết ngời do NCTN thực hiện. Tội giết ngời là tội đặc biệt nghiêm trọng. Tội
phạm do NCTN thực hiện những năm gần đây đã có diễn biến khá phức tạp và
việc NCTN tham gia thực hiện tội giết ngời từ năm 2000 2007 chiếm tới 4,79%
với 1663 bị cáo trong tổng số 34.831 bị cáo là NCTNPT đã bị truy tố.
Khách thể của tội phạm này là đặc biệt quan trọng, đó là quyền sống
một trong những quyền tối cao của mỗi con ngời. Mặt khác, tuy chỉ mới ở độ tuổi
CTN mà các bị cáo đã phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng này, phần nào cho thấy
sự mất nhân cách của một bộ phận thế hệ trẻ, sự coi thờng tính mạng của những
ngời khác là hồi chuông cảnh tỉnh đối với mỗi chúng ta. Nh ví dụ sau:
Nguyễn Văn Đông (sinh ngày 17.5.1988), Phạm Đức Nam (sinh ngày
26.01.1990) là bạn cùng học tại trờng PTTH Hà Đông - Thanh Hà - Hải Dơng.
Ngày 29.10.2006, Nam và Đông rủ nhau đi Bình Dơng thăm ngời quen nhng
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không có tiền, Nam bàn với Đông đi cớp xe ôm bán lấy tiền. Đông đồng ý và bàn
với Nam phải giết lái xe ôm mới không bị phát hiện.
Ngày 03.11.2006, Đông và Nam đến gặp Phạm Văn Hoàng là bạn Nam và
học ở trờng PTTH Thanh Hà, Hoàng đang trọ ở thị trấn thanh Hà xin ở nhờ. Chiều
5.11.2006, Đông và Nam bàn nhau lên thành phố Hải Dơng để cớp xe máy, Nam
hỏi mợn Hoàng 01 con dao phay cũ bằng sắt (dài 26cm, rộng 3,5cm) nhng nói dối
là để phòng thân. Nam cho dao vào cặp sách, sau đó Nam và Đông thuê xe ôm lên
thành phố Hải Dơng rồi đi bộ đến đờng Nguyễn Hữu Cầu. Thấy con dao Nam mợn
đê hớng Cao Quí Tứ Kỳ. Nam mở ví của anh Tiến thấy có 140.000đ cùng toàn
bộ giấy tờ xe và giấy tờ tuỳ thân của anh Tiến. Trên đờng đi, chúng đỗ lại một m-
ơng nớc để rửa tay và thay quần áo, bỏ lại quần áo mặc khi gây án và chiếc cặp
sách, sau đó vào trạm y tế lau rửa vết thơng của Đông rồi đi Hải Phòng để bán xe.
Vì chúng không phải là chủ sở hữu nên không bán đợc. Đến 7h45 ngày
06.11.2006, 2 tên đến hiệu cầm đồ của anh Trần Trọng Duy ở Lễ Độ Kim Anh
Kim Thành Hải Dơng nhằm cầm đồ lấy tiền thì bị công an Kim Thành phát
hiện.
TANDTP Hải Dơng đã tuyên: Nguyễn Văn Đông và Phạm Đức Nam phạm
tội giết ngời và cớp tài sản [23].
* Tội hiếp dâm (Đ111) và Tội hiếp dâm trẻ em (Đ112): Chỉ tính riêng trong
năm 2005 đối với tội hiếp dâm đã xét xử 58 bị cáo là NCTN trong cả nớc chiếm
11,30% tổng số bị cáo đã xét xử về tội hiếp dâm trong cả nớc. Và cũng trong năm
này toà án đã xét xử 92 bị cáo phạm tội hiếp dâm trẻ em chiếm tới 14,53% tổng số
bị cáo đã xét xử về tội này trong cả nớc. Vào những năm trớc đây thì loại tội hiếp
dâm do NCTN thực hiện có đặc điểm nổi rõ nét là lợi dụng sự thiếu hiểu biết, lợi
dụng hoàn cảnh vắng vẻ ít ngời qua lại để thực hiện tội phạm. Nhng thời gian gần
đây, tội hiếp dâm trẻ em có nét nổi bật đó là tội hiếp dâm do NCTN thực hiện th-
ờng là hiếp dâm tập thể, công khai trắng trợn và rất táo tợn, nạn nhân là các em gái
còn rất nhỏ tuổi và phần lớn các vụ hiếp dâm trẻ em đợc thực hiện vào ban ngày
khi ngời nhà các em đi làm vắng. Đây là hồi chuông cảnh giác đối với lớp trẻ nhng
đã có những suy thoái về đạo đức, sự nhận thức sai lầm do những luồng văn hoá
không lành mạnh từ bên ngoài du nhập vào các em.
*Có thể nhận thấy ngay rằng so với hành vi phạm tội của ngời đã thành niên
thì hành vi phạm tội của NCTN thờng là đơn giản hơn và mức độ nguy hiểm cho
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xã hội thấp hơn nhiều. Hậu quả của hành vi phạm tội do NCTN gây ra cũng không
lớn lắm.
Những năm 80 thấy rất ít các trờng hợp NCTN có sử dụng bạo lực để phạm
ở mỗi địa bàn khác nhau, tội phạm do NCTN thực hiện cũng có những đặc
trng khác nhau, nếu nh ở các vùng nông thôn và miền núi, tội phạm do NCTN
thực hiện chủ yếu và phổ biến là trộm cắp tài sản, cố ý gây thơng tích và một số ít
tội ít nghiêm trọng khác thì các đô thị, ngoài những tội trên, các tội rất đặc trng
cho vị thành niên còn là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cớp tài sản, cớp giật tài sản,
gây rối trật tự công cộng và chống ngời thi hành công vụ.
Và một điều đáng chú ý nữa mà chúng ta dễ nhận thấy đó là:phạm tội của
các em trong thời gian gần đây thờng tập trung ở những chỗ đông ngời nh các hội
hè, chợ, bến tàu, bến xe, nhà ga, công viên, rạp hát... để có thể nhanh chóng và dễ
dàng thực hiện hành vi trộm, cớp rồi tẩu thoát mau lẹ. Nhng không chỉ thực hiện
tội phạm ở các địa điểm quen thuộc nh trên mà các em còn phạm tội ngay trên đ-
ờng phố vắng vẻ, trên các phơng tiện giao thông, trong khu tập thể, trụ sở cơ
quan, các nhà kho, trờng học.
Về động cơ và mục đích phạm tội của các em đợc xác định khá rõ ràng là:
trong nhóm tội xâm phạm sở hữu thì động cơ và mục đích phạm tội là để lấy tiền
ăn tiêu, đánh bạc, chơi lô đề, chơi điện tử, nghiện hút. Còn động cơ ở nhóm tội
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm do NCTN thực hiện thì đa số
là do có thù hằn cá nhân, muốn thể hiện cái tôi và khẳng định tính yêng hùng,
do bắt chớc phim chởng, phim khiêu dâm.
Đối tợng xâm hại của các hành vi phạm tội do NCTN thực hiện tập trung
chủ yếu vào những đồ vật gọn nhẹ, có giá trị lớn nh xe đạp, xe máy, đồng hồ, nhẫn
vàng, tiền mặt. Qua đó thấy nhu cầu sinh hoạt của NCTN là rất cao. Đôi khi họ
phạm tội không chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu bình thờng của bản thân mà
còn muốn đáp ứng những đòi hỏi quá đáng về ăn mặc, vui chơi, giải trí trong
khi gia đình không có điều kiện để chu cấp.
Nạn nhân của những hành vi phạm tội do NCTN thực hiện tập trung chủ
yếu vào những ngời không quen biết, những ngời cùng xóm, cùng phố, bạn học
cùng và cuối cùng là đến những ngời thuộc họ hàng thân thích. Nạn nhân là nam
giới, nữ giới, tập thể hoặc nhà nớc.
Thiệt hại do các hành vi phạm tội do NCTN thực hiện gây ra tuy không lớn
Về giới tính: Qua nghiên cứu 34.831 bị cáo là NCTN, thì NCTNPT là nam
chiếm tỷ lệ rất cao, chiếm tới 96% với 33.438 bị cáo; nữ giới phạm tội chiếm chỉ
khoảng 4% với 1393 bị cáo trong tổng số NCTNPT.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về trình độ văn hoá: NCTNPT đều là những đứa trẻ thiệt thòi. Đúng vậy,
chúng học hành động không đến nơi đến chốn, chúng học yếu, trốn học, lời học,
bỏ học, vi phạm kỷ luật nhà trờng, cãi lại thầy cô, không nghe lời cha mẹ, và th-
ờng xuyên xích mích với hàng xóm, làm những chuyện bậy bạ khác [6]. NCTNPT
chủ yếu là những ngời có trình độ văn hoá thấp, có tới 5,4% mù chữ; 92,3% trình
độ tiểu học và trung học cơ sở. Nó khiến chúng ta chú ý và xem xét lại vai trò,
trách nhiệm của nhà trờng đối với việc quản lý, giáo dục nhân cách tuổi thơ của
các em.
Về hoàn cảnh gia đình: Đây là yếu tố có tính chất chi phối rất lớn đến hành
vi của NCTNPT. Kết quả nghiên cứu tội phạm học cho thấy chủ yếu các em phạm
tội là con em của những gia đình có hoàn cảnh thiếu hẳn sự chăm sóc của bố mẹ
đẻ, gia đình có kinh tế khó khăn, các bậc làm cha làm mẹ vì những lý do nào đó
mà thiếu hẳn đi sự quan tâm trong việc chăm sóc, giáo dục các em khi các em vừa
bớc vào ngỡng cửa cuộc đời. Ngoài ra NCTNPT còn có gia đình mà có bố, mẹ
hoặc cả hai bố mẹ đang phải chấp hành hình phạt tù; những gia đình có bố mẹ
buôn bán, làm ăn phi pháp, những gia đình này thờng không có sự quan tâm giáo
dục đúng mức đối với NCTN, thậm chí còn xúi giục, lôi kéo, che giấu cho
NCTNPT.
*Về đặc điểm tâm lý: Bớc vào độ tuổi này ở các em thờng hình thành một
nhu cầu khá lớn, đó là muốn khẳng định cái tôi, muốn trở thành ngời lớn, muốn đ-
ợc độc lập trong suy nghĩ, hành động. Nhng bởi các em vẫn còn đang ở độ tuổi
phát triển cha đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần nên các em không nhận thức đợc
hết những việc làm của mình. ở các em trong độ tuổi này cha có đợc các kỹ năng
ứng xử đầy đủ cần thiết nên dễ phạm phải những sai lầm mà chính các em cũng
không biết. Đôi khi chỉ vì cha mẹ, anh chị trong gia đình nhắc nhở một việc làm
phạm chuyên nghiệp. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng cần có biện pháp xử
lý thích hợp ngay từ khi bị cáo là NCTN lần đầu để ngăn ngừa tình trạng tái phạm.
Sau những phân tích đánh giá một cách khái quát nhất về THTP của NCTN
ở Việt Nam từ năm 2000- 2007, chúng ta có thể thấy có một cái nhìn tổng quát
nhất với những đặc điểm cơ bản sau:
- Diễn biến của tội phạm do NCTN thực hiện có xu hớng gia tăng đều đặn
về số lợng vụ việc, số lợng ngời phạm tội, tính chất của hành vi cũng nh mức độ
thì ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con ngời, các tội xâm phạm sở hữu.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tội phạm có sử dụng bạo lực diễn ra trầm trọng đã góp phần làm cho
tình hình trật tự an toàn xã hội diễn ra phức tạp. Tội phạm có tổ chức nh hình
thành phe nhóm, băng nhóm ở NCTNPT cũng đã xuất hiện ngày càng đáng báo
động thời gian vừa qua.
- Chủ yếu những NCTNPT là những ngời có trình độ văn hoá rất thấp.
- Đa số tội phạm của NCTN là ở lứa tuổi từ 16 18 tuổi, nh ng số
NCTNPT từ 14 16 tuổi thực hiện hành vi giết ng ời, cớp tài sản có chiều hớng
gia tăng, số NCTNPT có tiền án ngày càng chiếm tỷ lệ cao, số NCTN đồng
phạm với ngời đã thành niên cũng là một vấn đề đáng lo ngại.
Những khái quát trên đòi hỏi chúng ta phải đánh giá đợc những nguyên
nhân, điều kiện của THPT do NCTN thực hiện và tìm đợc những biện pháp tích
cực để giải quyết nhằm bảo vệ NCTN nói riêng và trật tự xã hội nói chung, để có
thể loại bỏ đợc vấn nạn trên ra khỏi đời sống xã hội.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
Nguyên nhân của tình hình tội phạm
do ngời cha thành niên thực hiện ở việt nam
Từ NĂM 2000-2007
nhân của xã hội là gia đình.
Theo số liệu thông kê của TANDTC:
11.250 bị cáo là NCTN (chiếm 32,3% tổng số bị cáo là NCTNPT) xuất thân
từ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Tuy nhiên không thể khẳng
định rằng chỉ do gia đình có khó khăn về kinh tế mà 11.250 bị cáo kia phạm tội.
Nhng một điều dễ nhận thấy là vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn không đáp
ứng đợc những nhu cầu tối thiểu nh ăn, mặc vui chơi, học hành của trể thì dễ dẫn
đến trẻ tự có những hành động nhằm đáp ứng nhu cầu cho bản thân trong khi bản
thân trẻ lại cha đợc hoàn thiện các kỹ năng cơ bản, cha đợc trang bị các chuẩn
mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật thì điều khó tránh khỏi là các em dễ có hành vi
trái với đòi hỏi của xã hội.
8568 bị cáo là NCTNPT (chiếm 24,6% tổng số bị cáo là NCTNPT) xuất
thân từ những gia đình khá giả, giàu có nhng các bậc phụ huynh dạy dỗ con cái
nhất là khi chúng đang độ chập chững bớc vào đời. Các bậc làm cha làm mẹ hiện
nay vẫn còn quan niệm cha mẹ sinh con trời sinh tính.
Chính ngời cha ngời mẹ là tấm gơng đầu tiên có ảnh hởng đến sự hình
thành nhân cách sau này của các em. Các bậc cha mẹ giáo con cái không chỉ bằng
cách bắt các em nghe theo những điều giáo huấn khô cứng mà phải bằng chính
cách sống tích cực, gơng mẫu của mình, bản thân cha mẹ phải gơng mẫu cho các
em. Do đó, thật không khó giải thích khi trong một gia đình mà bố mẹ sống
không gơng mẫu, vi phạm các quy tắc của cuộc sống, của gia đình, phạm tội
không chăm lo, giáo dục Thì sớm hay muộn những đứa trẻ của họ cũng đi vào
con đờng h hỏng hoặc phạm pháp nh cha mẹ của chúng.
Ví dụ: Em Nguyễn Thiện Cảnh 16 tuổi (Thanh Chơng-Nghệ An) Bố mẹ của
Cảnh tham gia đờng dây buôn bán ma tuý, buôn lậu, lại đi biền biệt cả ngày vì
chuyện làm ăn, buôn bán. Gặp con chỉ trong thời gian vài giờ đồng hồ, vứt cho
con một sấp tiền bảo cho con tiều sài và học tập, có nhiều tiền lại không có bàn
tay chăm sóc của mẹ, không có sự giáo dục của bố, nên em đã bị bọn thanh niên
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của ngời cha hoặc ngời mẹ hoặc thậm chí của cả hai ngời. Các em luôn sống trong
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không khí lạnh lẽo, buồn tẻ, chứa chất đầy tức tối, hận thù bởi những quyền lợi ích
kỷ của cha mẹ chúng. Các em mặc cảm tự ti thiếu tự tin, mất niềm tin với mọi ng-
ời dẫn đến tâm lý chán nản. Vì vậy chúng dễ bị lợi dụng lôi kéo vào con đờng
phạm tội, hoặc bản thân các em tự tìm đến các tệ nạn xã hội để giải toả tâm lý
chán chờng mà không biết đợc rằng từ đó để dẫn đến con đờng phạm tội là không
xa. Những đứa trẻ bất hạnh đó luôn sống trong đau khổ trong sự dồn nén và bất
cần đời, luôn sống trong tâm trạng muốn đập phá muốn trả thù, đời theo cách
riêng của chúng con đờng phạm tội không xa đó là những cờ bạc, rợu chè, đi
hoang rồi trộm cắp
- Bố mẹ hoặc các thành viên khác trong gia đình dung túng, bao che, đồng
tính với hành vi phạm tội của trẻ. Điều này đã vô hình trung làm nảy sinh động cơ,
thúc đẩy khuyến khích các em dẫn các em vào vòng lao lý nh ví dụ sau:
Em Trần Xuân Bình 14 tuổi (Hà Tây) có cha và 2 anh trai nghiện hút, hàng
ngày Bình đợc bố và 2 anh trai sai đi mua thuốc phiện về cho họ hút. Từ việc mua
cho bố và 2 ngời anh, Bình đã biết mua ma tuý để bán cho ngời khác lấy tiền tiêu
xài [22].
- Trong gia đình có sự bất hoà giữa bố mẹ, có thái độ khinh miệt lẫn nhau
giữa bố và mẹ, nếu trẻ nghe theo mẹ thì bị bố ngợc đãi và ngợc lại, do đó trẻ bị
mất phơng hớng, mất niềm tin, mất chỗ dựa tinh thần, tâm lý chán nản, dễ có
những hành động nổi loạn, bất cần đời, muốn trả thù đời.
- Bản thân các em bị bố mẹ hoặc các thành viên khác trong gia đình lạm
dụng, bị ức hiếp vô cớ. Một vài trờng hợp cá biệt, khi chính ngời cha lại cỡng hiếp
con gái mình, dẫn đến sự muốn phản kháng và nổi loạn của con cái trong gia
đình, hoặc các em dễ rơi vào trạng thái thụ động, mất phơng hớng dẫn đến dễ bị
lợi dụng, lôi kéo, bị sai khiến thực hiện những hành vi trái với đòi hỏi của xã hội.
Về phơng pháp giáo dục sai lầm trong gia đình, trớc hết phải kể đến việc bố
mẹ thờng xuyên đánh đập hành hạ con cái. Thực tế cho thấy, sự đánh đập thô bạo