Thực tiễn hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự có tính chất quốc tế của việt nam - Pdf 31

MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………….1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……………………………………………………….1
I.

Lí Luận chung………………………………………………………...1

1. Định nghĩa tội phạm có tính chất quốc tế........................................................1
2. Vấn đề về hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm………………………...1
II. Thực tiễn hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự có tính chất quốc
tếcủa Việt Nam…………………………………………………………..2
1. Thực tiễn hợp tác quốc tế về dẫn độ………………………………………...2
2. Thực tiễn hợp tác quốc tế trong việc chuyển giao người bị kết án………….4
3. Thực tiễn trong hợp tác quốc tế trong tương trợ tư pháp về hình sự………..4
4. Thực tiễn trong hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin……………………….5
III. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự có tính chất quốc
tế…………………………………………………………………………..6
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………………….7
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………..…………8

1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trong bối cảnh mở rộng quan hệ quốc tế một cách đa dạng, quá trình hội
nhập của các quốc gia là một tất yếu khách quan nó tạo điều kiện để các quốc gia có thể
giao lưu trong các lĩnh vực khác nhau như : chính trị, văn hóa, kinh tế…Vì vậy mà sự
dịch chuyển hàng hóa, sức lao động, tiền tệ qua biên giới quốc gia trên quy mô lớn đã
tạo điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm trở nên phức tạp hơn rất nhiều đã đe dọa
nghiêm trọng đến sự ổn định thế giới, khu vực và Việt Nam nói riêng.Vì thế buộc các

hình mới, trong đó nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng,
chống tội phạm, trước hết là với các nước láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống,
các nước trong khu vực ASEAN. Tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định
TTTP, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia
nhập. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ước quốc tế khác liên quan đến
công tác phòng, chống tội phạm”(1).
Trên bình diện pháp lý, hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung, tội phạm có yếu tố nước ngoài nói riêng. Thông qua hợp tác
quốc tế trong TTHS góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Điều này có ý nghĩa quan
trọng trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá hiện nay. Bộ luật Tố tụng
Hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003), lần đầu tiên Nhà nước ta quy định về hợp tác
quốc tế trong TTHS, gồm 2 chương (Chương 36, 37) với 7 điều (từ Điều 340 đến Điều
346). Tiếp đó, ngày 21/12/2007, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật TTTP, gồm 7
chương với 72 điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2008. Luật đã thể chế hoá chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, quan điểm của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống
tội phạm nói chung, hợp tác quốc tế trong TTHS nói riêng. Luật TTTP được ban hành
đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan chức năng của Việt Nam hợp tác với
các đối tác nước ngoài thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong TTHS như: TTTP
về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, góp phần phục vụ
yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực với các
quốc gia trên thế giới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
II. Thực tiễn hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự có tính chất quốc tế
của Việt Nam :
1.Thực tiễn hợp tác quốc tế về dẫn độ
Dẫn độ
Theo quy định tại Điều 343 của BLTTHS năm 2003, có thể hiểu dẫn độ là việc một
nước chuyển giao cho nước khác công dân của nước được chuyển giao đang có mặt trên
lãnh thổ nước mình, mà người đó đã có hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hình sự của nước được chuyển giao; hoặc đã bị Toà án của nước được

Trung Quốc dẫn độ nguyên đại tá Lê Quốc Thuỵ về nước để xét xử, các vụ việc tại Hải
Phòng, TP. Hồ Chí Minh....
Bộ Công an đã nhận được yêu cầu truy bắt 120 đối tượng truy nã của nước ngoài
bỏ trốn vào Việt Nam và hơn 90 đối tượng truy nã của Việt Nam bỏ trốn ra nước ngoài;
phối hợp với nước ngoài bắt giữ 38 đối tượng truy nã, trong đó đã bắt giữ, đưa về Việt
Nam 11 đối tượng phạm tội tại Việt Nam trốn ra nước ngoài và bắt giữ, bàn giao cho
nước ngoài 27 đối tượng phạm tội tại nước ngoài vào Việt Nam lẩn trốn.
Việc bắt giữ, chuyển giao và tiếp nhận các đối tượng phạm tội hiện vẫn chủ yếu
thực hiện qua kênh hợp tác Interpol và Aseanapol.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện ĐƯQT và pháp luật Việt Nam về dẫn độ là chưa cao
và chưa phản ảnh đúng nhu cầu dẫn độ giữa Việt Nam với các nước:
Thứ nhất, Việt Nam chưa có được một văn bản riêng quy định về dẫn độ mà các
quy định về dẫn độ chỉ nằm trong các văn bản luật khác (Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003,
Luật Tương trợ Tư pháp 2007);

4


Thứ hai, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tương trợ Tư pháp
còn chậm;
Thứ ba, nhiều Hiệp định được ký kết trước khi Luật Tương trợ Tư pháp 2007 được
ban hành đã thể hiện sự không phù hợp với quy định của Luật Tương trợ Tư pháp 2007
nhưng chưa thể đàm phán sửa đổi;
Thứ tư, chế độ, chính sách, kinh phí, trang thiết bị cho các hoạt động về tương trợ
tư pháp nói chung và về dẫn độ nói riêng còn rất hạn hẹp;
Thứ năm, đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động dẫn độ tội phạm còn hạn chế về số
lượng và khả năng làm việc;
2.Thực tiễn hợp tác quốc tế trong chuyển giao người bị kết án.
Chuyển giao người bị kết án
Việc bắt giữ, chuyển giao và tiếp nhận các đối tượng phạm tội hiện vẫn chủ yếu thực

hiện yêu cầu.
3.2. Thực tiễn
Theo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan đầu mối
thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp trong lĩnh vực
này trong thời gian từ năm 2008 đến tháng 5/2011, cụ thể như sau:
- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự của các cơ quan tư pháp nước
ngoài: Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận 164 hồ sơ yêu cầu TTTP đến từ 28
nước, đã thực hiện xong 102/164 yêu cầu TTTP từ nước ngoài, chiếm 62,2%, trong đó
các nước có nhiều yêu cầu là: Cộng hòa Séc 59 hồ sơ; Cộng hòa Ba Lan 19 hồ sơ; Cộng
hòa Liên bang Đức 08 hồ sơ; Liên bang Nga 06 hồ sơ.
Nội dung chủ yếu của các yêu cầu TTTP là chuyển giao để truy cứu trách nhiệm
hình sự, tống đạt tài liệu, thu thập, cung cấp chứng cứ; xác minh nhân thân, lý lịch... Các
yêu cầu TTTP về hình sự ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực và
tội phạm nghiêm trọng như giết người, buôn bán ma túy, tội phạm tham nhũng, lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, rửa tiền ...
- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam
cho nước ngoài: Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đối với các yêu cầu
TTTP về hình sự của Việt Nam ủy thác tư pháp ra nước ngoài, từ năm 2008 đến hết
tháng 5/2011, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận 33 hồ sơ; trong đó đã chuyển
28 hồ sơ đến các cơ quan có thẩm quyền của 18 nước được yêu cầu để giải quyết; có 05
hồ sơ lập chưa đúng yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hướng dẫn cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam lập lại hồ sơ nhưng chưa nhận được hồ sơ mới.
Đến nay, trong số 28 hồ sơ đã chuyển đi, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực hiện
được 15/28 có kết quả, chiếm 53,6%
4. Thực tiễn hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin
Trao đổi thông tin
Việc trao đổi thông tin chủ yếu thực hiện qua kênh hợp tác Interpol và Aseanapol
Thực tiễn
Tổng kết hoạt động từ năm 2007 đến nay cho thấy, cơ quan tiến hành tố tụng
trong Công an nhân dân Việt Nam đã tiếp nhận và xử lý hơn 9.600 lượt thông tin liên

hiện hành vi phạm tội.
III/ Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự có tính chất quốc
tế:
Thứ nhất, phải tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, phối hợp chặt chẽ với các
nước láng giềng. Tăng cường hội nhập quốc tế về lĩnh vực phòng, chống tội phạm, nhất
là lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ bảo đảm chủ động phòng ngừa và hợp tác
có hiệu quả trong đấu tranh trấn áp tội phạm xuyên quốc gia ở Việt Nam. Tăng cường
việc ký kết, tham gia các điều ước quốc tế đa phương, song phương về phòng, chống tội
phạm xuyên quốc gia.
Thứ hai, phải tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật để nâng cao
hiệu quả cao nhất trong việc phòng chống tội buôn bán phụ nữ - trẻ em, ma túy, khủng
bố.
Thứ ba, kiện toàn hành lang pháp lý. Hệ thống pháp luật trong nước ngày một
hoàn thiện, nhưng chưa thực sự đồng bộ, chưa thay đổi kịp so với những diễn biến và sự
7


phát triển của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; chưa tạo được hành lang pháp lý thật
sự thuận lợi cho các lực lượng thi hành pháp luật trong thực thi nhiệm vụ. Vì vậy cần
kiến nghị để các cơ quan lập pháp sửa đổi bổ sung nhằm kiện toàn hành lang pháp lý
giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng ngừa tội phạm có tính quốc tế này.
Tiếp tục bổ sung hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo thực hiện có hiệu quả Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
Nhà nước cần sớm ban hành Luật đấu tranh chống tội phạm có tổ chức như nhiều
nước đã làm, trong đó cần có những biện pháp trừng trị những kẻ là thành viên của các
tổ chức tội phạm, dù mới chỉ tham gia tổ chức, chưa trực tiếp thực hiện những hành vi
phạm tội. Đây là công cụ hữu hiệu nhất vừa để phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện
nhen nhóm câu kết thành những băng nhóm với mục đích phạm tội. vừa để trừng trị một

Sinhvienluat.vn
Café.luathoc.vn

và các tài liệu khác……..

9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status