Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam của Tổ
Quốc có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội
của vùng và của cả nước, với tiềm năng, nhân lực cùng chính sách thông
thoáng “Trải chiếu hoa mời gọi đầu tư” tỉnh đã thu hút nhiều tổ chức, cá nhân
trong nước và ngoài nước đến đầu tư phát triển kinh tế, do đó đã tạo cho Bình
Dương những bước phát triển vượt bậc, kinh tế liên tục tăng trưởng ở mức độ
cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, tình hình dân nhập cư đến làm ăn sinh sống
chiếm tỷ lệ cao, hiện nay có khoảng 500.000 dân nhập cư đến làm việc trong
các khu, cụm công nghiệp chiếm 1/3 dân số của tỉnh. Bên cạnh những thuận
lợi về phát triển kinh tế sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về ANTT, tội
phạm và tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, xu thế hình thành các băng, nhóm
tội phạm xuyên quốc gia với sự câu kết chặt chẽ giữa các đối tượng trong và
ngòai tỉnh với đối tượng ở nước ngòai, thủ đọan ngày càng tinh vi, xảo quyệt,
tệ nạn xã hội trong xu hướng gia tăng. Tính từ năm 2002 đến 6 tháng đầu năm
2007 trên địa bàn tỉnh Bình Dương xảy ra 5.195 vụ phạm pháp hình sự, trong
đó có 52 vụ hiếp dâm trẻ em. Đáng chú ý là các vụ án hiếp dâm trẻ em chiếm
đa số trong các vụ xâm phạm tình dục trẻ em (52/68 vụ chiếm tỷ lệ 76,47%).
Tội phạm hiếp dâm trẻ em đã gây ra những hậu quả rất nguy hại cho bản thân
trẻ em, gia đình và xã hội, gây ảnh hưởng lâu dài tới tâm, sinh lý của các em
trong suốt quá trình trưởng thành. Những người phạm tội hiếp dâm trẻ em thể
hiện sự suy tồi về đạo đức, lối sống, sự xuống cấp về giá trị đạo đức và thuần
phong mỹ tục. Đồng thời, tội phạm này còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã
hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho một bộ phận dân cư trên địa bàn tỉnh.
Xuất phát từ quan điểm của Đảng và nhà nước: Thế hệ trẻ là tương lai
của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, điều
đó được quy định trong Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước, xã hội, gia đình và
công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em…”. Để bảo vệ trẻ
em, đến nay đa số các quốc gia trên thế giới đã ký kết và tham gia Công ước
1
hoạt động của lực lượng làm công tác phòng ngừa, điều tra còn có những tồn
tại, hạn chế nhất định.
Chính vì những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm
trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa và điều tra các vụ
án hiếp dâm trẻ em của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng
ngừa và điều tra đối với loại tội phạm này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về trẻ em, bảo vệ trẻ em theo pháp
luật Việt Nam; về đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm trẻ em theo chức
năng của lực lượng CSND.
+ Khái quát tình hình tội phạm và đặc điểm hình sự của tội phạm hiếp
dâm trẻ em tại Bình Dương từ năm 2002 đến tháng 6 năm 2007.
+ Thực trạng hoạt động phòng ngừa, điều tra đối với các vụ án hiếp dâm
trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
+ Dự báo tình hình tội phạm hiếp dâm trẻ em trong thời gian tới trên địa
bàn tỉnh Bình Dương.
+ Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng
ngừa và điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tội phạm hiếp dâm trẻ em, nhửừng vaỏn ủeà
lyự luaọn vaứ thửùc tieón veà phòng ngừa và điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ
em của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH Công an tỉnh Bình
Dương.
3
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình và hoạt động phòng ngừa,
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung
luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Nhận thức về Tội phạm hiếp dâm trẻ em và công tác đấu
tranh, phòng, chống tội phạm hiếp dâm trẻ em.
Chương 2: Thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp
dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Dự báo tình hình tội phạm hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh
Bình Dương trong thời gian tới và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình
Dương.
Chương 1
nhận thức về TộI PHạM HIếP DÂM TRẻ EM Và công tác
ĐấU TRANH PHòNG CHốNG TộI PHạM HIếP DÂM TRẻ EM
1.1. Nhận thức về tội phạm hiếp dâm trẻ em
1.1.1. Khái niệm về trẻ em
5
Việc tìm hiểu khái niệm về trẻ em có ý nghĩa nhận thức về mặt lý luận
và thực tiễn đối với công tác đấu tranh, phòng ngừa loại tội phạm này.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, đời người được chia thành hai giai
đoạn: Giai đoạn trẻ em và giai đoạn người lớn. Mỗi giai đoạn có những đặc
điểm, đặc trưng về tâm, sinh lý và xã hội khác nhau.
Trẻ em là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn phát triển đầu tiên của cuộc
đời con người. Theo Điều 1 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em,
được thông qua ngày 20/11/1989 tại Viên (áo) và có hiệu lực từ ngày
02/9/1990 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật
pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, để
xác định một người có phải là trẻ em hay không thì phải căn cứ vào tuổi của
chính người đó chứ không có tiêu chí nào khác.
Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã phê chuẩn Công
chung đều được xác định là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
đặc biệt, cần được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, xã hội và cộng đồng
nhằm tạo ra những điều kiện tốt nhất để trẻ em phát triển toàn diện cả về thể
chất và tinh thần.
Để có căn cứ đưa ra khái niệm về trẻ em, cần phải khái quát một số đặc
điểm đặc trưng của lứa tuổi này.
- Đặc điểm về độ tuổi
Mặc dù Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em quy định độ tuổi
của trẻ em là người dưới 18 tuổi, nhưng Công ước cũng chỉ ra rằng: “Căn cứ
đặc điểm lịch sử, phong tục tập quán và các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội
của mỗi quốc gia để quy định về độ tuổi của trẻ em, nhưng không được quá 18
tuổi”. Như vậy việc quy định độ tuổi thấp hơn tuỳ thuộc vào lịch sử, tập quán,
điều kiện phát triển thực tế của mỗi quốc gia nhưng không được quá 18 tuổi.
Như vậy căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành cũng như Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam quy định độ tuổi của trẻ em dưới 16
tuổi là không trái với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em.
Sự phát triển về thể chất và nhận thức của con người theo quy luật khách
quan từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Cùng với sự phát
7
triển về thể chất, thông qua hoạt động thực tiễn, nhận thức của con người cũng
dần được hoàn thiện hơn. Chỉ đến khi đạt độ tuổi nhất định thì con người mới
có đầy đủ năng lực trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó ở độ tuổi dưới 18
tuổi trẻ em chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, cần phải được
chăm sóc đặc biệt và bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý.
- Đặc điểm về mặt xã hội
Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là thế hệ tương lai, là
người kế tục sự nghiệp của các thế hệ đi trước vì vậy tương lai của mỗi quốc
gia, mỗi dân tộc đều phụ thuộc vào sự giáo dục, bảo vệ và chăm sóc đối với trẻ
em, vì vậy công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em giữ vị trí đặc biệt
quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân
em nhận biết được những yếu tố đúng, sai trong môi trường sống, những việc
nên làm và không nên làm… sẽ giúp trẻ em có thái độ ứng xử và hành động
đúng đắn đối với các mối quan hệ xung quanh.
Trong giai đoạn này, nếu người lớn bỏ mặc cho trẻ em tự phát triển theo
bản năng sinh tồn, không giáo dục, định hướng theo các chuẩn mực đã định
theo hướng tích cực thì các phẩm chất tâm lý của trẻ em sẽ phát triển phiến
diện, nhân cách của trẻ hình thành và phát triển chậm chạp, chệch hướng.
Những nét tâm lý lệch lạc, tiêu cực nếu không được phòng ngừa sẽ lấn át
những phẩm chất tâm lý tích cực trong nhân cách của trẻ em gây tác động xấu
đến xã hội. Nếu người lớn áp đặt và xâm hại trẻ em một cách thô bạo thì sẽ dẫn
đến những chấn động tâm lý ở trẻ. Cũng trong giai đoạn này, trẻ em thường tò
mò làm theo những hành vi của người lớn.
Từ những đặc điểm về mặt xã hội; độ tuổi; tâm, sinh lý của trẻ em cũng
như những quy định của luật pháp quốc tế và ở nước ta có thể đưa ra khái niệm
về trẻ em như sau: “Trẻ em là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất và trí
tuệ; ở độ tuổi dưới 16 tuổi”.
1.1.2. Khái niệm về tội phạm hiếp dâm trẻ em
Để đưa ra được khái niệm tội phạm hiếp dâm trẻ em, trước hết cần hiểu
khái niệm hiếp dâm? hiếp dâm trẻ em là gì? Theo từ điển tiếng Việt - Hoàng
Phê chủ biên do Trung tâm từ điển học xuất bản năm 2005, khái niệm “hiếp
9
dâm” được hiểu là: “Dùng sức mạnh bắt phải để cho thỏa mãn sự dâm dục”.
Từ điển bách khoa CAND Việt Nam, Viện chiến lược và khoa học Công an
biên soạn, do nhà xuất bản CAND phát hành năm 2005 hành vi hiếp dâm được
hiểu là: “Dùng sức mạnh cưỡng bức người khác để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình”.
Theo quan điểm trên thì hiếp dâm là hành vi dùng sức mạnh để thỏa mãn
nhu cầu tình dục trái pháp luật. Hiếp dâm trẻ em chỉ khác hành vi hiếp dâm nói
chung ở đối tượng bị xâm hại đó là trẻ em. Như vậy hiếp dâm trẻ em có nghĩa là:
dùng sức mạnh cưỡng bức trẻ em nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình.
Trên cơ sở nghiên cứu có kế thừa và phát triển những quan điểm trên,
mãn những ham muốn tình dục, dục vọng thấp hèn của người phạm tội.
Điều 112, chương XII phần các tội phạm Bộ luật hình sự của Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định hành vi hiếp dâm trẻ
em là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để giao
cấu với người dưới 16 tuổi.
Đặc đIểm pháp lý của tội hiếp dâm trẻ em là:
- Khách thể của tội phạm:
Xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân
phẩm của trẻ em, đến sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần của
trẻ em. Trong nhiều trường hợp còn xâm hại đến sức khỏe của trẻ em và ảnh
hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.
− Mặt khách quan của tội phạm:
Là hành vi dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác giao cấu với người dưới
16 tuổi.
Dùng vũ lực được hiểu là dùng bạo lực thể chất như đánh đập, gây
thương tích... để đè bẹp sự kháng cự của trẻ em.
Trường hợp nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Điều 112
Bộ luật hình sự đòi hỏi hành vi phạm tội phải là hành vi giao cấu trái ý muốn
với trẻ em bằng các thủ đoạn như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực uy hiếp
tinh thần làm nạn nhân khiếp sợ hoặc đè bẹp sự kháng cự của người bị hại
11
hoặc lợi dụng hoàn cảnh không thể tự vệ được của trẻ em hoặc bằng thủ đoạn
khác để thực hiện hành vi giao cấu.
Trường hợp nạn nhân là trẻ em chưa đủ 13 tuổi, khoản 4 Điều 112 Bộ
luật hình sự quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là
phạm tội hiếp dâm trẻ em”. Tức là hành vi giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi
dù có dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác hay không, dù trẻ em có đồng ý hay
không thì đều bị coi là hành vi hiếp dâm trẻ em. Sở dĩ luật quy định như vậy là
vì : ở độ tuổi dưới 13 tuổi, trẻ em còn hết sức non nớt, yếu ớt, chưa có đủ khả
năng nhận thức, khác cự và biểu lộ ý chí đúng đắn, dễ bị người khác dụ dỗ,
d) Đối với nhiều người;
đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở
lên;
e) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp
dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Nhận thức đúng về những đặc điểm pháp lý của tội phạm hiếp dâm trẻ
em là căn cứ để xác định tội phạm và người phạm tội; là cơ sở để xác định
thẩm quyền điều tra và áp dụng các biện pháp, chiến thuật đảm bảo cho hoạt
động điều tra đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả cao và tuân thủ các quy
định của pháp luật.
1.2. Nhận thức chung về đấu tranh phòng chống tội phạm hiếp dâm
trẻ em của cơ quan CSĐT
1.2.1. Khái niệm về đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm trẻ em.
Đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm trẻ em là quá trình sử dụng
tổng hợp các biện pháp để ngăn ngừa không cho tội phạm phát sinh, phát triển,
xoá bỏ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra,
13
khi tội phạm xảy ra thì kịp thời phát hiện, điều tra làm rõ tội phạm và người
phạm tội, phục vụ cho việc xử lý nhanh chóng, công minh đúng theo pháp luật.
1.2.2. Nội dung đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm trẻ em
1.2.2.1. Các hoạt động phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em
Phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em là quá trình sử dụng tổng hợp các
biện pháp để ngăn không cho tội phạm phát sinh, phát triển nhằm xoá bỏ các
nguyên nhân và điều kiện phạm tội, không để tội phạm xảy ra, gây hậu quả xấu
cho trẻ em và cho xã hội.
trẻ em còn thể hiện Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và nước đầu tiên của
Châu á tham gia ký kết Công ước quốc tế về quyền trẻ em, nhằm thực hiện tốt
cam kết đó Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong đó có Luật
bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua ngày 12/8/1999 và
đã được sử đổi, bổ sung năm 2004.
Tuy nhiên, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc, do phải
tập trung sức người, sức của để giải phóng đất nước; hàn gắn vết thương chiến
tranh nên việc thể chế hóa các quy định về bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn có
những hạn chế nhất định, nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì việc bảo vệ, chăm
sóc trẻ em cũng luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.
Từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước, chúng ta nhận thấy công
tác phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội, của
cả cộng đồng và của mỗi công dân.
- Trẻ em là thế hệ tương lai, là lớp người kế tục sự nghiệp bảovệ đất
nước vì vậy hoạt động phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em nói riêng có vị
trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó quan hệ đến sự tồn vong của chế độ, sự
bền vững của mỗi quốc gia, sự an toàn và bình ổn của toàn xã hội. Chúng ta
không thể nói đến sự tiến bộ xã hội, sự phát triển kinh tế trong một đất nước
thiếu ổn định về ANTT, luôn chứa đựng các nguy cơ tiềm ẩn, đe doạ sự yên
bình và bùng nổ các vấn đề xã hội. Sự vận động phát triển của cuộc sống với
tốc độ và nhịp độ càng cao bao nhiêu thì càng làm nổi rõ bấy nhiêu tính biện
chứng trong sự tác động qua lại giữa kinh tế, chính trị và xã hội. Tăng trưởng
kinh tế, tiến bộ xã hội, suy cho cùng là những mục tiêu quan trọng của đất
15
nước, những mục tiêu đó phải gắn với sự ổn định về chính trị đi liền với tiến
bộ, công bằng xã hội. Nếu trật tự xã hội không ổn định thì hạn chế và ảnh
hưởng rất lớn đến đầu tư, phát triển kinh tế, nhất là trong môi trường mở cửa
hội nhập kinh thế thế giới và đầu tư của các nước. Do vậy hoạt động phòng
ngừa tội phạm được đặt ra như những tiền đề và điều kiện quan trọng, tạo môi
trường ổn định, an toàn, đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc kiến thiết đất
bảo vệ trẻ em không bị rơi vào tình trạng và các hành vi hiếp dâm trẻ em.
+ Phát động phong trào quần chúng tham gia đấu tranh phòng, chống tội
phạm xâm hại trẻ em nói chung và tội phạm hiếp dâm trẻ em nói riêng, như:
phát hiện, tố giác các đối tượng có biểu hiện nghi vấn xâm hại trẻ em, không
để chúng có hành vi phạm tội.
+ Cảm hóa, giáo dục đối tượng có quá khứ phạm tội về hiếp dâm trẻ em
theo các quy định của pháp luật; tạo điều kiện giúp họ tiến bộ, không tái phạm tội.
+ Thông qua công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm hiếp dâm
trẻ em, tham mưu, đề xuất với các cơ quan hữu quan bổ sung, hoàn thiện các
văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng ngừa tội phạm nói
chung và tội phạm hiếp dâm trẻ em nói riêng.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI PHẠM HỌC
1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa tội
phạm học và các môn khoa học khác.
1.1 Khái niệm.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ lợi ích xã hội,
loài người đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã
hội. Điều đó là cơ sở nảy sinh và phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau.
Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và loại trừ tội
phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các Nhà nước
dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả đối với các
loại tội phạm – hiện tượng xã hội tiêu cực và phức tạp, đòi hỏi con người cần
phải không ngừng nghiên cứu để nhận thức đầy đủ về hiện tượng này. Tội
phạm là gì? Nó được hình thành phát triểnvà tồn tại theo những quy luật nào?
Để đấu tranh với nó cần phải tiến hành bằng những phương pháp tác động ra
17
sao?...Công việc đó được tiến hành gắn liền với thực tế đấu tranh chống tội
phạm ở mỗi quốc gia, qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Kết quả của quá
trình đó đem laị cho loài người những tri thức phong phú cần thiết về hiện
tượng tội phạm và những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh chống tội
phòng ngừa ngăn chặn nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời
sống xã hội.
Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta,
Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí quan trọng đặc biệt của công cuộc bảo vệ
vững chắc nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đấu tranh kiên quyết
và triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang đặt ra những nhiệm
vụ nặng nề cho các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tế trong nghiên cứu tội
phạm, xây dựng phương pháp đấu tranh ngăn chặn một cách có hiệu quả với
chúng. Nghiên cứu và phát triển hoàn thiện khoa học tội phạm là vấn đề có ý
nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống các loại tội phạm hình sự, giữ
vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học.
Mỗi ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Đó là
những quy luật tác động trong lĩnh vực mà ngành khoa học đó cần nghiên cứu.
Tội phạm học với tư cách là môn khoa học độc lập, vì vậy cũng có đối tượng
nghiên cứu riêng. Đó là những sự vật hiện tượng liên quan đến hoạt động tội
phạm và phòng ngừa tội phạm.
Trong các tài liệu Tội phạm học của nhiều nước trên thế giới đã được
xác định và phân loại thành những nhóm đối tương nghiên cứu như: nghiên
cứu tội phạm là hiện tượng của xã hội; nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân
thân người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Có thể xác nhận rằng việc định
ra đối tượng nghiên cứu của tội phạm như vậy là đúng đắn, bởi vì điều đó phản
ánh được khái quát nội dung nghiên cứu của vấn đề về tội phạm theo một trình
tự hệ thống bao hàm được đầy đủ những vấn đề phản ánh quy luật hoạt động
nhận thức về hiện tượng tội phạm, từ việc xác định khái niệm tội phạm, phạm
vi tình trạng, cấu trúc tội phạm và diễn biến của nó, đến việc đi sâu nghiên cứu
nguyên nhân, điều kiên của tình trạng này, cúng như về nhân thân người phạm
19
tội, tất cả điều đó nhằm đến mục đích là nghiên cứu tìm tòi biện pháp, phương
tiện phòng ngừa tội phạm. Cách xác định như trên còn cho thấy mối quan hệ
thời có thể đề ra phương hướng chung, biện pháp tổng hợp trong việc phòng
ngừa ngăn chặn tội phạm.
1.2.2. Nguyên nhân nảy sinh tình trạng tội phạm và điều kiện tạo thuận
lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội là một trong những nội dung tất yếu
của sự phát triển và tồn tại trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội.
- Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là tổng hợp các sự vật hiện
tượng tiêu cực xã hội tác động đến con người và là hành vi phạm tội. Vì vậy
cần phải xem xét phân loại một cách khoa học các loại nguyên nhân, điều kiện
khách quan, chủ quan, trực tiếp, dán tiếp, chủ yếu thứ yếu, bên trong, bên
ngoài…điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức tội phạm và sử
dụng biện pháp phòng ngừa chúng.
- Cần thiết phải có quan điểm rõ ràng trong phân biệt giữa nguyên nhân
và điều kiện, mối quan hệ tác động giữa nguyên nhân và điều kiện trong quá
trình tác động đến hành vi phạm tội.
- Nghiên cứu tìm ra cơ chế tác động của nguyên nhân và điều kiện tội
phạm đối với hành vi của con người phạm tội (các yếu tố tiêu cực về kinh tế,
tư tưởng, tâm lý, giáo dục…tác động đến con người như thế nào trong quá
trình đãn đến việc phạm tội).
Trong điều kiện trình độ lý luận về tội phạm ở nước ta hiện nay chưa
được phát triển hoàn hảo, trong việc nghiên cứu và xác định nguyên nhân, điều
kiện của Tình trạng tội phạm nói chung và tội phạm cụ thể còn nhiều vấn đề
cần phải xem xét để đi đến thống nhất quan điểm. Chẳng hạn còn có sự nhầm
lẫn giữa nguyên nhân và điều kiện phạm tội, giữa nguồn gốc tội phạm và
nguyên nhân, điều kiện tội phạm…điều đó dẫn đến việc xem xét đánh giá vấn
đề nguyên nhân và điều kiện tội phạm còn có sự khác nhau. Từ đó cho thấy,
tính cấp bách của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tội phạm trong
khoa học Tội phạm học ở nước ta.
1.2.3. Nhân thân người phạm tội.
21
Nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Tội
1.2.4. Phòng ngừa tội phạm.
Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và xã hội
hướng đến việc xoá br, hạn chế nguyên nhân, diều kiện tội phạm, ngăn ngừa
kịp thời những hành vi sai lệch của những người có ý định phạm tội. Ơ nhiều
nước trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay phòng ngừa tội phạm đã và
đang trở thành một hoạt động thức tế, có sự tham gia đông đảo của cơ quamn
nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Hoạt động này cần thiết phải được
xem xét nghiên cứu một cách khoa học nhằm mục đích ngày càng hoàn thiện
hơn về mật lý luận và các biện pháp tiến hành cụ thể, nâng cao chất lượng của
công tác phòng ngừa tội phạm.
Về mặt lý luận, theo quan điểm hệ thống, phòng ngừa tội phạm được
phân tích, xem xét trên các khía cạnh sau:
- Khái niệm, phạm vi phòng ngừa tội phạm.
- Mục đích, nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm cụ thể.
- Nôi dung phòng ngừa tội phạm.
- Chủ thể tham gia phòng ngừa tội phạm.
- Phương pháp, biện pháp, phương tiện tiến hành hoạt động phòng
ngừa tội phạm.
- Những hoạt động khác nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng
ngừa tội phạm: Dự báo tội phạm, thông tin tội phạm, kế hoạch hoá, yếu tố nạn
nhn .
Những bộ phận cấu thành nêu trên tạo nên đối tượng nghiên cứu của
khoa học tội phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động ảnh hưởng lẫn
nhau. Những loại đối tượng nghiên cứu này phản ánh nội dung nghiên cứu tội
phạm nói chung, cúng như khi nghiên cứu từng nhóm, từng loại tội phạm cụ
thể ở mỗi địa phương và trong mỗi thời gian nhất định.
Nếu xem xét các loại đối tượng nghiên cứu của tội phạm học trong một
tổng thể thì có thể nhận thấy rằng: các loại dối tượng nghiên cứu như Tình
trạng tội phạm, nguyên nhân và điều kiện tội phạm và nhân thân người phạm
tội cho phép xác định tính chất, mức độ tội phạm, nguyên nhân điều kiện của
- Trong phần chung được trình bày các quan điểm, quan niệm, khái niệm
và các vấn đề có liên quan đến Tội phạm học. Ở phần này bao gồn có các nội
dung sau:
+ Khái niệm, đối tượng, hệ thống Tội phạm học.
+ Phương pháp luận trong nghiên cứu Tội phạm học và nhiệm vụ của
nó.
+ Mối quan hệ giữa Tội phạm học và các ngành khoa học khác.
+ Tình hình nghiên cứu và phát triển của Tội phạm học ở Việt nam và
trên thế giới.
+ sự khác nhau giữa Tội phạm học XHCN và Tội phạm học tư sản.
+ Lý luận chung về tình trạng, cấu trúc, động thái tội phạm.
+ Lý luận chung về nhân thân người phạm tội.
+ Lý luận chung về nguyên nhân và điều kiện của Tình trạng tội phạm
và tội phạm cụ thể.
+ Vấn đề phòng ngừa tội phạm.
+ Dự báo tội phạm.
+ Thông tin Tội phạm học.
Những vấn đề trên dược trình bày một cách khái quát đi sâu về mặt lý
luận cơ bản có tính hướng dẫn cho việc nghiên cứu cụ thể. Điều đó giúp chúnh
ta nhận thức một cách tổng quát về toàn bộ nội dung môn học trong đó có các
quan điểm, khái niệm cơ bản về các sự vật hiện tượng và quá trình xã hội liên
quan đến Tội phạm học.
Trong phần cụ thể đượch đi sâu nghiên cứu đặc điểm và các biện pháp
phòng ngừa từng loại tội phạm cụ thể. Việc phân chia ra các loại tội phạm cụ
thể để đi sâu nghiên cứu là cần thiết, tuy nhiên các loại tội phạm cụ thể rất đa
dạng. Nếu phân tích chúng để nghiên cứu trong các tài liệu Tội phạm học thì
rất rộng và phức tạp, mặt khác có thể dẫn đến trùng lặp các nội dung nghiên
cứu như đặc điểm tính chất và biện pháp phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, cần
thiết phải tập hợp các loại tội phạm theo từng nhóm có tính chất, mức độ, hành
25