ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ XUÂN VƢỢNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỊ TRẤN TRỚI,
HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỊ TRẤN TRỚI,
HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý ®Êt ®ai
M· sè: 60.85.01.03 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1. (TS. HOÀNG VĂN HÙNG) Thái nguyên - 2012 i ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại khoa Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn khoa học, nghiêm túc và chu đáo của TS. Hoàng
Văn Hùng. Tác giả xin chân thành cảm ơn đến thầy – người đã thường xuyên dạy
bảo, khuyến khích hiện thực hóa những cố gắng của bản thân trong suốt thời gian
thực hiện luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cán bộ thuộc UBND thị trấn Trới, huyện
Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
Do thời gian có hạn, năng lực chuyên môn còn hạn chế và bản thân mới
bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên luận văn không khỏi
những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn quan tâm góp ý để đề tài được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Vũ Xuân Vƣợng
1.2.2. Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất 14
1.2.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 14
1.2.4. Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường 16
1.2.5. Quản lý bền vững tài nguyên đất 17
1.3. Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng trên thế giới và
trong nước 18
1.3.1. Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai trên thế giới. 18
1.3.2. Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở trong nước. 19
1.3.3. Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở tỉnh Quảng Ninh. 20
1.3.4. Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. . 22
1.3.5. Tình hình triển khai quy hoạch, kế hoạch sự dụng đất của thị trấn Trới -
huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh. 23
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: 24
iv
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu: 24
2.2. Nội dung nghiên cứu. 24
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Trới,
huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010. 24
2.2.2. Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đầu kỳ trước kỳ quy hoạch 24
2.2.3. Đánh giá công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010. . 24
2.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu: 25
2.3.1 Phương pháp 1: Điều tra, thu thập thông tin thứ cấp. 25
2.3.2 Phương pháp 2: Thu thập số liệu sơ cấp. 26
2.3.3 Phương pháp 3: Minh họa bằng biểu đồ, bản đồ, sơ đồ và đồ thị. 26
2.3.4 Phương pháp 4: Điều tra, khảo sát thực địa. 26
2.3.5 Phương pháp 5: Phân tích, tổng hợp. 26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Đề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
GIẢI NGHĨA
FAO
Tổ chức lương thực thế giới
GPMB
Giải phóng mặt bằng
ONMT
Ô nhiễm môi trường
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
TW
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
Vấn đề thực tiễn cấp thiết khiến chúng ta phải tự đề ra mục tiêu sử dụng đất
cho mình đó là: Sử dụng đất phải vừa hợp lý, tiết kiệm, khoa học vừa phải đạt hiệu
quả cao. Như vậy, để đáp ứng mục tiêu đó, chúng ta phải quy hoạch sử dụng đất
hợp lý và tổ chức thực hiện quy hoạch đó một cách hiệu quả.
Vậy, quy hoạch sử dụng đất là gì? Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất là sự
bố trí, phân bổ, các loại đất sao cho sử dụng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống con
người, nâng cao hiệu quả sử đụng đất và luôn chú ý tới việc bảo vệ và bồi dưỡng
quỹ đất. Nhưng trên thực tế, việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất lại đang gặp
nhiều khó khăn, trở ngại dẫn đến quy hoạch không thực hiện được theo kế hoạch,
không đạt được mục đích đề ra.
Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả quản lý thực hiện
phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoành Bồ mà cụ thể là thị
trấn Trới, phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại bất cập
trong quá trình quản lý thực hiện phương án quy hoạch sử dụng dất đến năm 2010;
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quản lý quy hoạch
sử dụng đất; khắc phục những nội dung chưa phù hợp của công tác quản lý phương
án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến động trong phát triển kinh tế -
xã hội, trên cơ sở yêu cầu thực tiễn của địa phương, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh ”.
- 2 -
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đề xuất
giải pháp để việc quy hoạch, kees hoạch sử dụng đất của thị trấn Trới có tính khả
thi cao và hiệu quả.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đầy đủ, khách quan, đúng thực trạng và phương hướng, mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội 4 năm (2006 - 2010) của thị trấn.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai trong thời kỳ 2006-
2010.
tài nguyên hạn chế của mỗi quốc gia. Đất đai là địa bàn phân bố của các khu dân cư,
là nền tảng xây dựng các ngành, các công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống và sự
nghiệp phát triển văn hoá, an ninh quốc phòng của mỗi đất nước. Nhận thấy tầm quan
trọng của đất đai C.Mác đã khái quát rằng: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh
ra của cải vật chất”
Đất đai có các tính chất là tư liệu sản xuất đặc biệt so với các loại tư liệu sản
xuất khác ở các tính chất sau:
- Tính tạo thành
- Tính hạn chế về số lượng
- Tính không đồng nhất
- Tính không thay thế
- Tính cố định về vị trí
- Tính vĩnh cửu
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là sản phẩm của tự nhiên, nó hình thành độc
lập với con người. Nhưng sự tồn tại và phát triển của con người lại phụ thuộc rất lớn
vào đất đai. Nó là địa bàn sản xuất nông, lâm, công nghiệp, là nơi ở và sinh hoạt văn
hoá của con người v.v. Sự tồn tại và phát triển của chất lượng đất đai phụ thuộc vào ý
thức và phương thức tổ chức khai thác và sử dụng đất đai của con người. Chính vì
vậy mà từ trước tới nay ở bất cứ xã hội nào việc khai thác và sử dụng đất đai vẫn luôn
là vấn đề mang tính quốc sách [11].
1.1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai
Luật đất đai năm 1993 đã khẳng định:
- Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
- Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống
- 4 -
- Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh quốc phòng[11].
Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất.
- 5 -
Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuất kinh tế, vừa
mang tính pháp chế.
Cũng có thể đưa ra khái niệm về quy hoạch sử dụng đất như sau:
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp
chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả thông
qua việc phân phối và tái phân phối lại quỹ đất của Nhà nước, tổ chức sử dụng đất
như một tư liệu sản xuất đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả xã hội, tạo điều kiện bảo
vệ đất và bảo vệ môi trường.
Về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định
nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện
đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất
như một tư liệu sản xuất, đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã
hội, kết hợp bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
1.1.2.2. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên
đất tuân theo quy luật phát triển kinh tế khách quan. Quyền sở hữu Nhà nước về đất
đai là cơ sở để bố trí các ngành, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đưa
nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thúc đẩy và mở rộng sản xuất. Nhà nước
thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về
đất sử dụng cho các ngành, đơn vị, cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan
hệ đất đai thông qua quy hoạch. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng
thời 2 chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu
sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai.
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới
quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch.
Quy hoạch sử dụng đất nước ta là hệ thống các biện pháp của Nhà nước nhằm
quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý và hiệu quả. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với
chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
Việt Nam, với đặc điểm là đất đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, lại nằm ở
vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình
khoáng hóa diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ
và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hóa. Quan trọng hơn nữa là do hậu quả của việc
chặt phá, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất bị
thoái hóa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng
hoang mạc hóa ngày càng tăng. Do đó, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là phải
coi trọng diện tích phủ xanh bằng cây rừng, có chính sách và xây dựng quan điểm
toàn dân bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, chăm sóc, tu bổ, phục hồi rừng, trồng
- 7 -
cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khôi phục, cải thiện môi trường sống theo quan
điểm cân bằng sinh thái bền vững.
Những năm gần đây, do áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ và kỹ
thuật tiên tiến vào sản xuất nên Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, sự thâm canh nông nghiệp với sử dụng
nhiều phân bón hàm lượng và cách thức không hợp lý đã làm đất sản xuất nông
nghiệp ngày càng ô nhiễm. Ngoài ra, với sự phát triển ồ ạt của ngành công nghiệp
trong giai đoạn qua đã làm đất bị ô nhiễm trầm trọng bởi chất thải của các nhà máy
công nghiệp. Đây là một thử thách lớn cho các nhà quy hoạch cũng như các nhà
quản lý trong giai đoạn nước ta đang thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa: khôi phục các làng
nghề truyền thống và tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển.
Ba là, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần đảm bảo nguyên tắc tổ chức sử dụng
tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói
riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp[11].
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng, thủy điện, dầu khí đều đòi hỏi phải có đất. Việc bố trí công trình của các
ngành trên thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân
dài hạn với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên
đất hợp lý, hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển[11].
1.1.2.3. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất đai.
Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như: nhiệm
vụ đặt ra đối với quy hoạch, số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy
hoạch, phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính), Thông thường
hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau
nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai từ tổng thể đến chi tiết. Có
hai loại hình quy hoạch chính, đó là:
- Quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như: quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp; quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi[11]…
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai thuộc
quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành. Quy hoạch sử dụng đất đai
giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất.
- Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ: tại Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003,
tại Điều 25 quy định: quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo 4 cấp lãnh thổ:
- 9 -
quy hoạch sử dụng đất đai cả nước; quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh; quy hoạch
sử dụng đất đai cấp huyện; quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết cấp xã[12].
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự
nhiên của lãnh thổ. Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính quy hoạch sử dụng đất
đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo
nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái
riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý các bước.
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ
thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư
nông thôn, đô thị, chuyên dùng). Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều
nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính. Đối với quy hoạch sử
dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy
đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông
nghiệp, lâm nghiệp. Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực dẫn đến những tổn thất hoặc
kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về sự bất ổn trong
chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển
sang nền kinh tế thị trường.
1.1.2.5. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống
chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan
trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân.Theo Viện Điều
tra Quy hoạch Đất đai, Tổng cục Địa chính (1998) các đặc điểm của quy hoạch sử
dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
* Tính lịch sử-xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng
đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội
thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong quy hoạch sử
dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên, cũng
như quan hệ giữa người với người. Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là
yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan
hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất.
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang
tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp. Ở nước ta,
quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của
toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử
dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế
thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của
từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng
như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
- 11 -
* Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối
dụng đất
- 12 -
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch
sẽ càng ổn định.
* Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách
xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên
quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất
đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế
- xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi
trường sinh thái.
* Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương
diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến
đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày
càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử
dụng đất đai không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và
điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy
hoạch. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại
theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục
thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao[2].
1.1.2.6. Những văn bản quy định về quy hoạch sử dụng đất
- Luật đất đai 1993
- Công văn số 503 CV - TCĐC ngày 29/04/1995 của tổng cục địa chính (nay là
Bộ Tài nguyên và Môi trường) và công văn số 862 CV - TCĐC ngày 12/10/1998
của
Tổng cục địa chính về việc hướng dẫn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Luật đất đai 2003
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là
cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là
mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”.
Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian để
thực hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ các tài nguyên trong lòng đất.
Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản
phẩm phục vụ đời sống của con người và xã hội. Năng suất và chất lượng của sản
phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất. Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào
quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản
- 14 -
1.2.2. Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành
kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất
thì không một ngành nào, xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động
được. Nói khác đi – không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn
tại Đất đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ sở
không gian, đồng thời là đối tượng lao động và công cụ hay phương tiện lao động.
Quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình
sinh học tự nhiên của đất[9;10].
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm lợi ích
cơ bản sau:
- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu
sinh tồn và phát triển của con người;
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng
là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ
trong lòng đất. Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc
điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có
sẵn trong đất.
phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm và đời sống
văn hóa, xã hội.
Các điều kiện tự nhiên là cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất nhưng các
nhân tố kinh tế - xã hội sẽ quyết định phương án đã lựa chọn có thực hiện được hay
không. Phương án sử dụng đất được quyết định bởi khả năng của con người và các
điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có.
Điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới việc sử dụng đất đai, thúc
đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người. Vì vậy, khi lựa
chọn phương cách sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các nhân tố
kinh tế xã hội cũng không kém phần quan trọng.
1.2.3.3. Nhân tố không gian
Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích. Đất
đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác. Đất đai phải khai thác tại chỗ, không
thể chia cắt mang đi. Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không
gian cho các hoạt động. Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả
của việc sử dụng đất, các nhân tố không gian có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử
dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định.