1
B¸o c¸o
kÕt qu¶ ®Ị tµi nghiªn cøu khoa häc
vỊ phßng chèng téi ph¹m cã tỉ chøc Danh mơc c¸c ký hiƯu,
ch÷ viÕt t¾t, c¸c ®Þnh nghÜa trong ®Ị tµi
1. ANNT: An ninh trËt tù.
2. ASEANAPOL : Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam Á
3. BLHS : Bộ luật Hình sự
4. BLTTHS : Bộ luật Tố tụng Hình sự
5. INTERPOL : Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế
6. LPCMT : Luật phòng chống ma túy
7. MDMT : Mại dâm, ma túy
8. NXB : Nhà xuất bản
9. PCTP : Phòng, chống tội phạm
10. PCMT : Phòng, chống ma túy
11. PCMD : Phòng, chống mại dâm
12. GS. TS. : Giáo sư. Tiến só
13. TPCTC : Téi ph¹m cã tỉ chøc.
14. UNODC : C¬ quan phßng chèng ma tóy vµ téi ph¹m cđa Liªn hỵp
qc
15. XHCN : Xã hội chủ nghóa
chức trên thế giới
27
1.2.2 Quan điểm phòng chống tội phạm có tổ chức ở Việt
Nam
28
1.2.3 Khái niệm phòng ngừa tội phạm có tổ chức ở Việt
Nam
29
1.2.4
Vị trí, ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm có tổ chức
32 3
1.2.5 Chủ thể phòng ngừa tội phạm có tổ chức ở Việt Nam
37
1.2.6 Biện pháp hoạt động phòng ngừa tội phạm có tổ chức
41
1.2.7
Vai trò của lực lng Công an nhân dân, các cơ quan
pháp luật trong hoạt động phòng ngừa tội phạm có tổ
chức
44
Chơng II Thực trạng tình hình tội phạm có tổ chức và công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức ở
thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần
đây.
50
2.1 Thực trạng tình hình tội phạm có tổ chức ở thành phố
2.3.1 Những u điểm, kết quả đạt đợc
104
2.3.2 Một số tồn tại thiếu sót trong hoạt động phòng chống
tội phạm có tổ chức
106
2.3.3 Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
112
Chơng III Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh
115
3.1 Dự báo về tình hình tội phạm có tổ chức trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh
115
3.1.1 Những yếu tố tác động đến tình hình tội phạm có tổ
chức trong thời gian tới
115
3.1.2 Dự báo về tình hình tội phạm có tổ chức trên địa bàn
thành phố đến năm 2010
119
3.2 Phng hớng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động phòng chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn
thành phố
123
3.2.1 Quan điểm t tởng chỉ đạo và nhiệm vụ cơ bản của
hoạt động phòng chống tội phạm có tổ chức
123
3.2.2 Mục tiêu cần đạt đợc trong hoạt động phòng chống tội
phạm có tổ chức
126
Danh mục tài liệu tham khảo
157
6 Mở Đầu
1-Lý do chọn đề tài :
Trong hơn 30 năm qua, từ sau ngày Min Nam đợc hoàn toàn giải
phóng, đặc biệt là từ năm 1986, thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện của
Đảng, nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã có những bớc phát triển vợt
bậc làm thay đổi bộ mặt của xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ
phận các tầng lớp nhân dân cơ bản đã đợc cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh
những ảnh hởng tích cực của nền kinh tế thị trờng, mặt trái của nó đối với
xã hội cũng diễn biến phức tạp đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, trong đó
tội phạm có tổ chức.
- Sử dụng các biện pháp giả mạo và bạo lực để phạm tội.
- Với số tiền có đợc họ có thể kiếm vũ khí và tuyển dụng thêm ngời để
thành lập băng, nhóm.
- Với số nhân viên mới và vũ khí, chúng mở rộng các hoạt động của
chúng và càng kiếm đợc nhiều tiền.
- Chúng sử dụng tiền bất hợp pháp để hối lộ các cán bộ nhà nớc để bảo
vệ cho các hợp đồng của chính quyền.
- Thâm nhập vào các liên đoàn lao động để gây sức ép với chính quyền và
các tổ chức kinh doanh để trục lợi.
- Hối lộ và mua chuộc các phơng tiện thông tin đại chúng để bảo vệ tổ
chức của chúng và chống lại báo chí và các nhà chính trị.
- Thâm nhập vào hoặc lợi dụng việc kinh doanh hợp pháp nhằm hợp pháp
hóa đồng tiền thu đợc qua rửa tiền để taọ ra bộ mặt đầu t trong tơng lai.
- Khi đã lớn mạnh tới một chừng mực nhất định, thâm nhập vào chính
quyền địa phơng và trung ơng.
Tội phạm có tổ chức ó gây ra nhiều vụ án, nhiều hành vi phạm tội
khác nhau. Trong đó có cả các tội giết ngời, cố ý gây thơng tích, gây rối
Song mục đích chung cuối cùng của tội phạm có tổ chức cao là thu lợi về vật
chất qua các hoạt động phạm tội, bất hợp pháp, hoặc bán hợp pháp. Đặc biệt
là các tên cầm đầu có xu hớng làm giàu bằng cách dùng số tiền chiếm đoạt
đợc để đầu t vào các nhà hàng, khách sạn hoặc buôn lậu từng bớc mua
chuộc, lũng đoạn bộ máy Đảng và Nhà nớc từ cơ sở đến trung ơng, đe doạ
nghiêm trọng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nuớc ta và thành phố.
Việc nghiên cứu khoa học, đánh giá đúng thực trạng tình hình và đề ra các
giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh đã và đang là một vấn đề bức xúc. Vì vậy việc lựa chọn đề tài 8
nghiên cứu khoa học này có tính cấp thiết, ỏp ng c yờu cu v c lý
- Công ớc chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Liên hợp quốc
công bố năm 2000. Việt Nam ký tham gia từ 2-12-2000. 9
- Kỷ yếu Hội nghị quốc tế chống tội phạm có tổ chức do Tổ chức cảnh
sát hình sự quốc tế INTERPOL tổ chức, Palecmo, Italia, 2001.
- Kỷ yếu Hội nghị quốc tế chống tội phạm có tổ chức khu vực ASEAN.
Indonesia, 2004.
- Kỷ yếu Hội nghị khoa học về phòng chống tội phạm có tổ chức.
Trờng Đại học Cảnh sát Nhân dân, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Hà Nội
1998.
- Tài liệu Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chơng trình quốc gia
phòng chống tội phạm của Chính phủ . Hà Nội 12-2004.
- Tài liệu Hội nghị tổng kết Chơng trình quốc gia phòng chống tội
phạm của Chính phủ. Hà Nội 3-2006.
- Sách Tội phạm có tổ chức, mafia và toàn cầu hoá tội phạm của
GS.TS Nguyễn Xuân Yêm. NXB Công an Nhân dân, Hà Nội 2003.
- Tổ chức hoạt động điều tra các vụ án tội phạm có tổ chức của lực
lợng Cảnh sát Nhân dân Việt Nam. Luận án Tiến sỹ Luật học. Học viện
Cảnh sát Nhân dân, Bộ Công an, 2004.
- Đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trong tình hình mới.
Đề tài NCKH cấp Nhà nớc, mã số KX.07.07 do Tổng cục Cảnh sát, Bộ
Công an chủ trì 2001-2004.
- Bỏo cỏo tổng kết vụ án Năm Cam ca Bộ Công an, thỏng 12- 2005.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học đề tài Thực tiễn và luận cứ cho các giải
pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3-2007.
Những đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nói trên đều đề cập đến
tội phạm có tổ chức và công tác phòng, chống tội phạm có tổ chức. Song
Hồ Chí Minh trong thời gian gần đây.
- Đa ra các kiến nghị, đề xuất, giải pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm có tổ chức, góp phần đảm bảo An ninh quốc gia, Trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
2- Giới hạn phạm vi khảo sát :
- Đề tài nghiên cứu, khảo sát tình hình và kết quả đấu tranh phòng
chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (có so sánh
với số liệu chung cả nớc) từ 1997, đặc biệt từ năm 1998 khi Chính phủ ban
hành Chơng trình quốc gia phòng chống tội phạm đến nay. 11
- Khảo sát hoạt động của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án thành
phố trong đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức.
- Khảo sát tập trung vào các quận nội thành, nơi đã và đang xảy ra
nhiều vụ tội phạm có tổ chức có quy mô lớn.
3- Các giả thuyết khoa học:
Đề tài sử dụng các giả thuyết khoa học chính sau:
- Nghiên cứu mẫu: các vụ án tội phạm có tổ chức có quy mô lớn đã xảy
ra trên địa bàn thành phố.
- Nghiên cứu đánh giá mô hình 3 giảm của thành phố.
- Đa ra mô hình mẫu: xây dựng điểm các địa bàn không có tội phạm
có tổ chức.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích nêu trên, các tác giả đã dựa trên cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm cơ bản của Đảng, của Nhà nớc
về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức, chính sách hình sự
của Nhà nớc ta đối với các hành vi phạm tội có tổ chức để nghiên cứu đề tài
này. Ngoài ra các tác giả đã sử dụng các phơng pháp: phơng pháp điều tra
xã hội học; phơng pháp so sánh; phơng pháp lịch sử; phơng pháp thống
đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài sử dụng chủ yếu các nhóm phơng pháp nghiên cứu khoa học
sau :
-Tham khảo, tóm tắt, nghiên cứu, trích dẫn, nhận xét các tài liệu trong,
ngoài nớc có liên quan.
- Điều tra, khảo sát, mô tả, ghi chép, thống kê số liệu, biểu đồ.
- Phân tích, đánh giá, nêu đề xuất, sáng kiến .
Đề tài lựa chọn mt s vụ án nh: vụ EPCO- Minh Phụng, vụ Trơng
Văn Cam và đồng bọn, vụ Hải luận buôn bán ma tuý để nghiên cứu điểm.
Đề tài cũng lựa chọn 3 địa bàn để khảo sát điểm là Quận 1, Quận Tân Bình
và ngành Tài chính- Ngân hàng thành phố .
Từ những điều nói trên việc nghiên cứu đề tài Thực tiễn và luận cứ
khoa học cho các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức 13
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức hiện nay
tại TP. Hồ Chí Minh.
6. ý nghĩa của đề tài
Đề tài khoa học này hy vọng sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trong giai đoạn hiện nay ở TP.
Hồ Chí Minh.
Đề tài khoa học này còn là một công trình khoa học đóng góp vào bộ
môn Tội phạm học, Xã hội học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự ở nớc ta
trong thời kỳ đổi mới. Về mặt thực tiễn đề tài khoa học là một tài liệu phục
vụ cho các ngành, các cấp ủy và chính quyền tại TP. Hồ Chí Minh các cơ
quan chức năng, các tổ chức xã hội, tham khảo, ứng dụng bổ sung cho những
hoạt động trong việc tuyên truyền giáo dục, lãnh đạo, chỉ đạo v.v nhằm nâng
cao hiệu quả trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm có tổ chức trên địa
sự năm 1999 đã quy định. Nh vậy phạm tội có tổ chức là một dạng của đồng
phạm, là những trờng hợp có từ 2 ngời trở lên, có sự câu kết chặt chẽ với
nhau để cùng thực hiện tội phạm. Sự liên kết này đạt tới một mức độ bền
vững nào đó để thực hiện tội phạm sẽ tạo thành một tổ chức tội phạm.
Khi nói đến phạm tội có tổ chức là nói đến một dạng đặc biệt của đồng
phạm. Có nghĩa là hành vi phạm tội có sự câu kết chặt chẽ giữa nhiều ngời
để cùng thực hiện tội phạm, do có sự câu kết chặt chẽ này nên việc thực hiện
và che dấu tội phạm sẽ dễ dàng hơn. Vì lẽ đó, phạm tội có tổ chức là tình tiết
nh khung tăng nặng khụng ch quy nh trong iu lut c th m cũn quy
nh t
i điểm a, khoản 1, Điều 48 BLHS. Trên thực tế, thuật ngữ này đã đợc
sử dụng từ lâu và hiện nay thờng xuyên đợc bổ sung vào Bộ luật hình sự
nớc ta.
Tội phạm có tổ chức với tổ chức tội phạm: Hai khái niệm này cần phân
biệt rõ ràng, sự khác nhau chính là ở chỗ, một bên là danh từ chỉ một nhóm 15
xã hội, hình thành dới dạng tổ chức, chỉ tập hợp những ngời nhất định
trong một tổ chức, cho dù phơng thức tồn tại là tổ chức tội phạm hay tổ chức
nào khác. Do đó hiểu tổ chức tội phạm là tổ chức của những ngời hoạt
động phạm tội nên TPCTC là tội phạm đợc thực hiện bằng tổ chức tội phạm
cũng là hợp lý theo quan niệm của nhiều ngời. Vì vậy, hiểu tổ chức tội phạm
không có nghĩa là phức tạp hoá về tổ chức, quy mô, cờng điệu về số lợng
mà vấn đề căn bản ở đây là tổ chức. Mà tổ chức đó có thể đợc phân thành
nhiều loại tổ chức khác nhau, có loại đơn giản, loại phức tạp, loại tổ chức ở
mức độ thấp, loại tổ chức ở mức độ cao; nếu theo quy mô thì có loại quy mô
nhỏ, quy mô vừa và quy mô lớn Chính vì vậy, khi xem xét về TPCTC thì có
thể coi những băng nhóm tội phạm có từ 3 ngời trở lên là một tổ chức tội
phạm nếu chúng có đủ các dấu hiệu khác về TPCTC.
trọng và tính chất nguy hiểm cao cho xã hội. Hành vi phạm tội do các đối
tợng trong các băng nhóm cùng phối hợp thực hiện dẫn đến phạm tội có tổ
chức; Ngợc lại, tội phạm có tổ chức không thể do một cá nhân thực hiện mà
phải do một tổ chức hoặc một băng nhóm tội phạm thực hiện; khi hình thành
băng nhóm tội phạm hoạt động có sự phân chia vai trò, vị trí các thành viên
trong băng nhóm, có tên cầm đầu, chỉ huy, có kẻ giúp sức và ngời thực hiện
hành vi phạm tội thì đó là TPCTC.
+ Tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu xã hội đen, maphia: Trong
quá trình nghiên cứu những hiện tợng TPCTC các nhà nghiên cứu pháp luật,
tội phạm học, xã hội học và nghệ thuật thấy có những vụ việc phạm tội gây
hậu quả nghiêm trọng hoặc gặp những vụ phạm tội gây tiếng vang trong d
luận xã hội mà cơ quan cảnh sát khó điều tra, khám phá hoặc phức tạp lâu dài
hoặc d luận cho là có liên quan đến các thế lực che chắn trong chính quyền
và cơ quan bảo vệ pháp luật thì thờng đợc gọi bằng những thuật ngữ này.
Ngoài ra, còn phải xem xét đến quá trình đa tin phản ánh về TPCTC
trên các phơng tiện thông tin, báo chí, các tác phẩm văn học nghệ thuật và
dịch thuật có sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau nên có cách sử dụng các
thuật ngữ này cũng khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu TPCTC dới góc độ tội 17
phạm học, theo chúng tôi cần quan tâm đến hai thuật ngữ xã hội đen và
maphia. Thực ra các thuật ngữ này cho đến nay vẫn cha phải là khái
niệm pháp lý chính thức sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc tế và ở
nớc ta. Tuy nhiên, đây cũng là nhận thức về mặt lý thuyết, cần tiếp tục
nghiên cứu làm rõ để đi đến thống nhất về tính chất nguy hiểm, phức tạp về
phơng thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm nói chung, TPCTC nói riêng.
Trên thực tế khó có thể phân định rõ ràng giữa TPCTC với TPCTC hoạt
động theo kiểu xã hội đen và maphia, mà sự phân định này cũng chỉ
mang ý nghĩa tơng đối. Bởi vì, ngay cả vấn đề phân loại TPCTC ở mức độ
Khánh Hoà, Xiêng phênh - Vũ Xuân Trờng ở Hà Nội- Lai Châu, EPCO-
Minh Phụng, Năm Cam ở thành phố Hồ Chí Minh Về thực chất, đây cũng
là những băng nhóm TPCTC. Cho nên thuật ngữ TPCTC hoạt động theo kiểu
xã hội đen đã đợc ngành Công an và một số phơng tiện thông tin, báo chí
sử dụng trong hoạt động chuyên môn của mình, để phản ảnh tính đặc thù của
loại tội phạm này ở nớc ta và ở thành phố Hồ Chí Minh. Trong bài phát biểu
của nguyên Chủ tịch nớc Trần Đức Lơng tại Hội nghị triển khai thực hiện
Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị, ngày 12-4-2002 có nhấn mạnh:
Các Tỉnh uỷ, Thành uỷ cần chỉ đạo các cơ quan t pháp (có sự chỉ đạo của
cơ quan t pháp trung ơng) rà soát lại tình hình tội phạm ở địa phơng mình
để khám phá, giải quyết và loại trừ ngay những băng nhóm TPCTC theo kiểu
xã hội đen, có sự móc nối, bảo kê của các cán bộ trong cơ quan Nhà
nớc . Sở dĩ việc sử dụng thuật ngữ này trong bài phát biểu của Chủ tịch
nớc là nhằm chỉ tính chất hoạt động nguy hiểm, gây hậu quả tác hại nhiều
mặt cho xã hội của TPCTC. Nhất là làm tha hoá, biến chất không ít cán bộ
trong cơ quan Nhà nớc và cơ quan bảo vệ pháp luật, gây ảnh hởng đến d
luận trong xã hội. Mặt khác, cũng nhằm nhấn mạnh đối với các cấp uỷ Đảng,
Chính quyền và cơ quan t pháp từ trung ơng đến cơ sở cần phải đề cao
trách nhiệm, phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng nâng cao cảnh giác,
huy động tổng hợp lực lợng để làm tốt công tác phòng, chống TPCTC ở
nớc ta. 19
Bằng cách tiếp cận TPCTC nh vậy, v trờn c s nghiên cứu tình hình
TPCTC trên thế giới và trong khu vực; những quan điểm về TPCTC của các
nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn ở nớc ta. Trớc tình hình hoạt
động của tội phạm nói chung và TPCTC nói riêng; đặc biệt là kết quả công
tác phòng ngừa, điều tra khám phá một số vụ án trọng điểm về TPCTC trong
thời gian qua, có thể đi đến khẳng định: TPCTC đã xuất hiện ở nớc ta nhng
thành phố, thị xã, những nơi tập trung kinh tế, dịch vụ, văn hoá xã hội. Về tổ
chức của chúng khá chặt chẽ nh có tên cầm đầu, chỉ huy, có tay chân đắc
lực và những tên trực tiếp hoạt động phạm tội. Hoạt động phạm tội thờng tập
trung vào những hành vi nh bảo kê nhà hàng, khách sạn, vũ trờng, các
trung tâm siêu thị lớn, đòi nợ thuê, ngm ngầm đứng ra tổ chức hoặc bảo kê
các sòng bạc, tổ chức điều hành hoạt động mại dâm. Sau đó chúng tự đặt ra
những luật lệ riêng để cỡng đoạt tài sản hoặc tranh giành lãnh địa và để
thanh toán trừng trị lẫn nhau. Ngoài ra lợi dụng có tiền bạc, có quan hệ xã hội
chúng sử dụng những thủ đoạn tinh vi xảo quyệt để mua chuộc, hối lộ, khống
chế những ngời thi hành công vụ, ngời có chức, có quyền để tổ chức hoạt
động phạm pháp Do đó, có thể đa ra khái niệm về TPCTC nh sau:
Tội phạm có tổ chức là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, đợc quy
định trong Bộ luật hình sự do
3 ngi tr lờn cú s phõn cụng v c cu cht
ch trong quỏ trỡnh hoạt động phạm tội, i vi rất nhiều lĩnh vực khác
nhau, luôn luôn tìm cách mở rộng địa bàn, to ảnh hởng của tổ chức tội
phạm nhằm mục đích vụ lợi bằng mọi thủ đoạn và tội ác.
Nh vậy khái niệm TPCTC trên đây mang tính chất của một thuật ngữ
thuộc lĩnh vực tội phạm học, nhằm nghiên cứu, xem xét vấn đề TPCTC nh là
một hiện tợng xã hội. Mặt khác, cũng phù hợp với khái niệm tội phạm, đồng
phạm, phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự nm 1999 ca nớc ta, v
Liên hợp quốc cng nh một số nớc trong khu vc Trung Quốc, Nga, Nhật
Bản nh đã phân tích ở trên. Từ khái niệm v TPCTC, chỳng ta có thể nhận
diện TPCTC qua các dấu hiệu cơ bản sau: Tội phạm có tổ chức là loại tội
phạm nguy hiểm và nghiêm trọng, các hành vi phạm tội của chúng đợc quy
định trong Bộ luật hình sự; TPCTC không phải là một tội danh cụ thể. Bởi vì, 21
chúng gây ra nhiều vụ phạm tội khác nhau, trên một phạm vi địa bàn rộng và
22
1.1.2- Phân loại tội phạm có tổ chức
Phân loại TP CTC là một vấn đề phức tạp và hiện nay còn tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau, nh: Phân loại theo nguồn gốc phát sinh tội phạm;
phân loại theo quy mô tổ chức, tính chất mức độ hoạt động của TPCTC; phân
loại theo các chế định tội phạm trong Luật hình sự; phân loại theo lĩnh vực
hoạt động của tội phạm . . . trong đó có một số cách phân loại ca cỏc nc
trờn th gii nh sau:
+ ở Hoa Kỳ, các chuyên gia nghiên cứu tội phạm học thuộc Bộ T
pháp Mỹ phõn loi trên cơ sở nguồn gốc phát sinh TPCTC, phân thành 2 loại
sau:
* Tội phạm có tổ chức dạng đồng hoá (assimilted orgamized crime)
* Tội phạm có tổ chức dạng phát sinh (emerging crime graps)
Tội phạm có tổ chức dạng đồng hoá, là một loại tội phạm đợc sinh ra
và giáo dục ở Hoa Kỳ sử dụng thành thạo tiếng Anh. Chúng thờng hoạt
động tinh vi, bí mật, có tính tổ chức cao; có các cơ sở kinh doanh để tiến
hành các phi vụ phạm pháp nh: rửa tiền, đầu t bất hợp pháp loại tội phạm
này có tiềm năng kinh tế khá lớn. Vì vậy, chúng có thể tác động ảnh hởng
để đa ngời của tổ chức tội phạm vào chính quyền, thao túng hệ thống bầu
cử và hoạt động của các đảng phái chính trị.
Tội phạm có tổ chức dạng phát sinh, là băng nhóm tội phạm mà số
thành viên là những ngời tị nạn mới nhập c vào Mỹ hoặc con cái của những
ngời tị nạn. Loại tội phạm này không có tiềm lực kinh tế, chính trị; tổ chức
chỉ huy của những băng nhóm này không chặt chẽ, không ổn định, trình độ
văn hoá thấp, không thông thạo tiếng Anh, tuổi đời còn trẻ. Những băng
nhóm này thờng gây ra những vụ án hình sự giản đơn nh: lừa đảo, buôn
bán trao tay các chất ma tuý, đánh bạc, đòi nợ thuê
+ Tại Hội thảo quốc tế lần thứ 9 về TPCTC tại Tôkyô (Nhật Bản) tháng
01- 1997, các thành viên tham gia hội thảo đã thống nhất phân theo quy mô,
tính chất mức độ hoạt động của TPCTC, chia thành những loại sau:
tổ chức tội phạm này có tiềm năng tài chính hùng mạnh, chúng sẵn sàng
cạnh tranh với những tập đoàn kinh tế trong mua cổ phiếu, đấu thầu, khống 24
chế hệ thống ngân hàng, thị trờng kinh doanh bất động sản, kiểm soát hệ
thống sòng bạc, nhà chứa, tiệm nhảy, buôn lậu ma tuý . . .
* Loại thứ hai: băng tội phạm, là TPCTC với số lợng hàng trăm tên,
băng tội phạm không có tên gọi cụ thể, tổ chức cha thật chặt chẽ, có thủ lĩnh
hoặc có thể không có, hoạt động phạm tội kiếm tiền bao nhiêu chia đều cho
các thành viên theo mức độ đóng góp, không có hội phí, lệ phí. Băng tội
phạm thờng có sự móc nối với quan chức, các phần tử thoái hoá biến chất
trong bộ máy Nhà nớc để tiến hành hoạt động phạm tội, mối quan hệ này
không bền vững mà thờng mang tính chất thời cơ, và thời điểm cụ thể của
từng phi vụ phạm tội. Hoạt động của băng nhóm tội phạm là tống tiền, giết
ngời, cớp của, dịch vụ bảo kê, làm vệ sĩ, hoạt động mại dâm, buôn bán, đòi
nợ thuê, môi giới đầu t hoặc có tham gia đấu thầu với quy mô nhỏ
* Loại thứ 3 : ổ, nhóm tội phạm, là các nhóm tội phạm có từ 3 đến vài
chục tên, tổ chức của nhóm tội phạm không chặt chẽ, chúng thờng tập hợp
lại với nhau để tiến hành hoạt động phạm tội. Sau mỗi phi vụ chúng có thể
giải tán và tuỳ tình hình và thời điểm cụ thể mà chúng có thể tập hợp lại với
nhau để hoạt động; vị trí vai trò của các thành viên trong nhóm thờng không
phân công rõ ràng mà tuỳ thuộc vào mỗi phi vụ phạm tội mà những tên có
sáng kiến trong việc tìm các phi vụ tạm thời đứng ra chỉ huy.
Ngoài những loại trên đây, hiện nay trên thế giới còn có các tổ chức
khủng bố mà hiện đang còn tranh luận cha xác định rõ ràng có phải là tổ
chức tội phạm hay không? nhng các nhà nghiên cứu tội phạm học cũng cho
rằng nếu tổ chức tội phạm chỉ sử dụng phơng thức khủng bố để trục lợi (vì
lợi ích kinh tế) mà không mang tính chính trị, dân tộc hay tôn giáo thì đợc
coi là TPCTC. Hoặc những tên gọi khác về TPCTC nh: maphia, thế giới
bàn Quảng Nam - Đà Nẵng) do tên Đỗ Thái Bình cầm đầu, chuyên c
ớp tài
sản từ giữa năm 1992 đến 7-1994 ó gây ra 64 vụ; băng nhóm chuyên trộm
cắp, tiêu thụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản do tên Thắng, Linh cầm đầu ở Hà
Nội từ 1993-1996 ó gây ra hàng trăm vụ; băng chuyên trộm cắp và tiêu thụ