V
V
I
I
E
E
Ä
Ä
N
NK
K
I
I
E
E
Å
Å
M
MS
S
A
A
Ù
Ù
.
.
H
H
O
O
À
ÀC
C
H
H
Í
ÍM
M
I
I
N
N
H
H
E
E
Ã
Ã
N
NV
V
A
A
Ø
ØL
L
U
U
A
A
Ä
Ä
N
NC
C
Û
Û
I
IP
P
H
H
A
A
Ù
Ù
P
PÑ
Ñ
A
A
Á
Á
U
UT
T
O
O
Á
Á
N
N
G
GT
T
O
O
Ä
Ä
I
IP
P
H
H
A
A
Ï
Ï
M
M
T
T
R
R
E
E
Â
Â
N
NÑ
Ñ
Ò
Ò
A
AB
B
A
A
Ø
Ø
N
N
”
”
T
T
P
P
.
.
t
t
h
h
a
a
ù
ù
n
n
g
g6
6n
n
a
a
ê
ê
m
m2
2
E
Ã
Ã
N
NV
V
A
A
Ø
ØL
L
U
U
A
A
Ä
Ä
N
NC
C
Ö
Û
I
IP
P
H
H
A
A
Ù
Ù
P
PÑ
Ñ
A
A
Á
Á
U
UT
T
R
O
Á
Á
N
N
G
GT
T
O
O
Ä
Ä
I
IP
P
H
H
A
A
Ï
Ï
M
M
T
R
R
E
E
Â
Â
N
NÑ
Ñ
Ò
Ò
A
AB
B
A
A
Ø
Ø
N
NT
”
Kính thưa đồng chí
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Viện KSND, Sở Khoa học và Công
nghệ Thành phố!
Kính thưa các đồng chí đại biểu, các nhà khoa học về tham dự Hội thảo!
Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21 với những thành tựu trong khoa học,
công nghệ trong sự phát triển kinh tế xã hội, trong quan hệ hợp tác giữa các
khu vực, các quốc gia, các dân tộc Song bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế
đang phả
i đối mặt với những thách thức và thảm họa. Một trong những thảm
họa đang được cả nhân loại quan tâm đó là tội phạm có tổ chức. Tội phạm có
tổ chức đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại, nó đang hủy hoại sức
khỏe, trí tuệ của con người, xâm phạm an ninh quốc tế.
Đối với Việt Nam, tội phạm nói chung, tội phạ
m có tổ chức nói riêng
đang là mối đe dọa của mọi người, là mối quan tâm của mọi tầng lớp xã hội.
Tội phạm có tổ chức cùng với các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác đã và
đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng
đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong hơn 30 năm qua từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh
được hoàn toàn
giải phóng, đặc biệt là từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của
Đảng, nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển vượt
bậc làm thay đổi bộ mặt của xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ
phận các tầng lớp nhân dân cơ bản đã được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh
nhữ
ng ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thị trường, mặt trái của nó đối với
để thành lập băng, nhóm.
- Với số nhân viên mới và vũ
khí, chúng mở rộng các hoạt động của
chúng và càng kiếm được nhiều tiền.
- Chúng sử dụng tiền bất hợp pháp để hối lộ các cán bộ nhà nước để bảo
vệ cho các hợp đồng của chính quyền.
- Thâm nhập vào các liên đoàn lao động để gây sức ép với chính quyền
và các tổ chức kinh doanh để trục lợi.
- Hối lộ và mua chuộc các phương tiện thông tin đại chúng để bảo vệ t
ổ
chức của chúng và chống lại báo chí và các nhà chính trị.
- Thâm nhập vào hoặc lợi dụng việc kinh doanh hợp pháp nhằm hợp
pháp hóa đồng tiền thu được qua rửa tiền để tạo ra bộ mặt đầu tư trong tương
lai.
- Khi đã lớn mạnh tới một chừng mực nhất định, thâm nhập vào chính
quyền địa phương và trung ương.
Tội phạm có tổ chức gây ra nhiều vụ án, nhiều hành vi ph
ạm tội khác
nhau. Trong đó có thể có cả các tội giết người, cố ý gây thương tích, gây rối
Song mục đích chung cuối cùng của tội phạm có tổ chức cao là thu lợi về vật
chất qua các hoạt động phạm tội, bất hợp pháp, hoặc bán hợp pháp. Đặc biệt là
các tên cầm đầu có xu hướng làm giàu bằng cách dùng số tiền chiếm đoạt được
để đầu tư vào các nhà hàng, khách sạn hoặc buôn lậ
u từng bước mua chuộc,
lũng đoạn bộ máy Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến trung ương, đe doạ nghiêm
trọng An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nuớc ta và thành phố. Việc
4
nghiên cứu khoa học, đánh giá đúng thực trạng tình hình và đề ra các giải pháp
đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ Chí
ố Hồ Chí
Minh trong thời gian gần đây.
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất, giải pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm có tổ chức, góp phần đảm bảo An ninh quốc gia, Trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài đã tập trung nghiên cứu, khảo sát tình hình và kết quả đấu tranh
phòng chống tội phạm có tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ( có so
sánh với số liệu chung cả nướ
c ) từ 1990, đặc biệt từ năm 1998 khi Chính phủ
ban hành Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đến nay.
Ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành nghiên cứu các Báo cáo tổng kết hàng
năm, báo cáo các chuyên đề của CATP, Viện KSNDTP, TANDTP.
5
Để góp phần đưa ra các đánh giá đúng thực trạng tình hình, đề xuất các
giải pháp phòng chống tội phạm có tổ chức có tính khả thi trên địa bàn thành
phố, hôm nay Ban chủ nhiệm đề tài tổ chức Hội thảo khoa học về chủ đề
nghiên cứu.
Ban chủ nhiệm đề tài chúng tôi trân trọng đề nghị các đồng chí lãnh đạo,
các cán bộ quản lý, các nhà khoa học có mặt trong hội nghị chuyên đề hôm nay
phát biểu tập trung vào 3 vấ
n đề chính sau:
1- Đánh giá thực trạng tình hình tội phạm có tổ chức hiện nay trên
địa bàn thành phố.
2- Đánh giá kết quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ
chức ở TP. Hồ Chí Minh trong những năm gần đây. Nêu những ưu, nhược
điểm của cuộc đấu tranh này.
3- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm có tổ chức trên đị
a bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Đất nước ta trải qua hơn 20 năm đổi mới, chúng ta chuyển từ
cơ chế
quản lý kinh tế quan liêu, bao cấp, sang quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh những thành tựu, kết quả to lớn thì cũng
kéo theo những tiêu cực ảnh hưởng, tác động đến sự hình thành và phát triển
tội phạm có tổ chức. Công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội của ta trong giai
đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang cơ ch
ế quản lý thị trường đã
không kịp thời nắm bắt, thay đổi cả về tư duy lẫn trình độ quản lý, hoặc bị
buông lỏng, tiêu cực, tham nhũngv.v Vì vậy, đã xuất hiện nhiều sơ hở, thiếu
sót, từ đó tội phạm có tổ chức lợi dụng hình thành và phát triển.
- Trong những năm tiến tới đổi mới, với chính sách hoàn lương giúp đỡ
người có quá kh
ứ lầm lỗi trở về với cộng đồng xã hội để họ được giúp đỡ, để
họ bớt đi sự mặc cảm của xã hội là đúng với quan điểm, đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước ta, đúng với truyền thống dân tộc Việt Nam. Song quá
7
trình vận dụng ở các cấp, các ngành mà nhất là ở cơ sở còn nhiều sơ hở lỏng
lẻo, thiếu chặt chẽ dẫn đến tả khuynh hoặc né tránh, hoặc vận dụng tràn lan,
tiêu cực. Bài học qua các vụ án về các băng, nhóm tội phạm bị triệt phá thời
gian qua cho thấy một trong những nguyên nhân tồn tại của chúng ta là đã để
cho nhiều đối tượng có tiền án, tiền sự tập trung
ở địa bàn, tập hợp ở một tổ
chức và cho giữ những cương vị chủ chốt trong tổ chức hay đơn vị kinh tế tư
nhân dẫn đến khi có điều kiện, thời cơ những đối tượng này với bản chất lưu
manh sẵn có, cộng với sự buông lỏng, tiêu cực trong công tác quản lý của ta,
lại sẵn có những ''vỏ bọc'' công khai hợp pháp thì hoạ
t động phạm tội của
chúng xảy ra là tất yếu (vụ Khánh Trắng l 6/22 tên bị truy tố có tiền án, tiền sự
các hoạt động dịch vụ, buôn bán vận chuyển các chất ma túy, tổ chức hoạt
động mại dâm như Khánh Trắng, Tin Palet, Xiêng Phênh - Vũ Xuân Trường,
Trương Văn Cam phát triển và diễn biến phức tạp.
Trong lĩnh vực kinh tế, những vụ án tham nhũng, buôn lậu, cố ý làm trái
nguyên tắc quản lý kinh tế củ
a Nhà nước có số lượng đối tượng phạm tội có
8
tổ chức gia tăng gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng như: Vụ EPCO - Minh
Phụng, Tân Trường Sanh, Mua bán, lắp đặt điện kế điện tử tại Tp. Hồ Chí
Minh là sự phản ánh tâm lý xã hội tiêu cực nảy sinh từ những mặt trái của
nền kinh tế thị trường.
- Trong những năm gần đây trong xã hội đã xuất hiện sự phân tầng, một
số ngườ
i trở nên giàu có và một số khác còn sống ở dưới mức nghèo khổ, thiếu
thốn. Đa số người trở lên giàu có do làm ăn chính đáng, lương thiện thì bên
cạnh đó còn một số người lợi dụng sơ hở thiếu sót trong quản lý kinh tế, xã hội
của nhà nước tìm mọi cách làm ăn bất chính, thu vén cho cá nhân Hiện nước
ta còn 17,7% hộ nghèo, 3 triệu người ở độ tuổi lao động chưa có công ăn việc
làm ; Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng rõ nét và phổ biến ở mọi
thành phần kinh tế; giữa thành thị và nông thôn ngày càng có sự phân hóa.
Như vậy nếu nhìn từ góc độ xã hội học và tội phạm học thì biên độ của sự giàu
nghèo, trong đó làm giầu như thế nào? Nếu làm giàu không chính đáng là đồng
nghĩa với những tiêu cực cũng là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm
nảy sinh tội phạm nói chung và tội phạm có tổ ch
ức nói riêng.
+ Vấn đề mở rộng kinh tế, giao lưu văn hóa giữa nước ta với bên ngoài
tạo ra điều kiện nước ta tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và tính đa
dạng hóa ngành nghề phát triển, quan hệ văn hóa, khoa học công nghệ đồng
nghĩa với những cơ hội đó là sự thách thức to lớn về an ninh quốc gia, trật tự
phương tiện phục vụ cho hoạt động phạm tội
cũng có kỹ thuật công nghệ cao hơn v.v Trong khi đó điều kiện trang thiết bị
của ta còn thiếu thốn, hạn chế nên chưa đủ khả năng kiểm soát thông tin, kiểm
soát tẩy rửa tiền, lừa đảo bằng thẻ tín dụng, tội phạm trên mạng vi tính, tàng
thư so sánh tội phạm v.v nên dẫn đến hiệu quả
đấu tranh còn hạn chế.
Về con người: năng lực, trình độ của cán bộ, chiến sĩ trong các cơ quan
bảo vệ pháp luật có lúc, có nơi chưa được trang bị, bồi dưỡng cập nhật những
vấn đề mới, sự phát triển của khoa học công nghệ, về phương thức thủ đoạn
mới của bọn tội phạm, kiến thức pháp luật cũng như
kiến thức về chuyên môn
nghiệp vụ đa dạng phục vụ cho hoạt động phòng ngừa, điều tra, truy tố, xét xử
v.v còn chưa thường xuyên, liên tục.
Do tác động ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường nên công tác bồi
dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức, lập trường của một số ít cán bộ ở các cấp
chính quyền, cơ quan Nhà nước, cơ quan bả
o vệ pháp luật bị sói mòn, bị lung
lay; bị mua chuộc, lôi kéo thậm chí bị thoái hóa biến chất trước sức mạnh
đồng tiền và những nhu cầu thấp hèn khác nên vô tình, hoặc cố ý bao che, làm
ngơ trước những hành vi phạm tội. Như các vụ Khánh Trắng, Tin Palét, Minh
Samasa, Sơn Điền, Năm Cam v.v tồn tại hoạt động nhiều năm, gây bất bình
dư luận sau đó mới bị xử lý.
- Đối với lự
c lượng Công an nhân dân, các mặt công tác nghiệp vụ cơ
bản ở nhiều đơn vị, địa phương, nhiều lúc chưa được coi trọng như: Công tác
điều tra nghiên cứu nắm tình hình, công tác quản lý hành chính về an ninh, trật
tự, (quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; quản lý nghề nghiệp và phương tiện đặc biệt;
quản lý trật tự công cộng ), công tác điều tra cơ bản, công tác quản lý giáo
dục đối tượng
đã có tiền án, tiền sự thiếu chặt chẽ, phân loại không chính xác
và tòa án còn có nhiều nơi, nhiều vụ án chưa được kịp thời, nghiêm minh dẫn
tới bỏ lọt tội phạm ho
ặc xử nhẹ tội đối với những tên cầm đầu, chỉ huy có
nhiều tiền án, tiền sự; chúng có nhiều mối quan hệ và tiềm lực kinh tế tấn công
mua chuộc hoặc bọn đàn em tay chân ở ngoài chạy tội, khống chế, đe dọa nhân
chứng, người bị hại v.v
Một số giải pháp phòng ngừa tội phạm có tổ chức.
Phòng ngừa và đấu tranh chống các loạ
i tội phạm nói chung, tội phạm
có tổ chức nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan bảo vệ pháp luật và
lực lượng Công an nhân dân, là một trong những biện pháp nghiệp vụ cơ bản
chiến lược của ngành. Tội phạm có tổ chức mới xuất hiện ở Việt Nam tuy số
lượng chưa nhiều, trình độ, quy mô tổ chức chưa lớn. Song hậu quả tác hại do
chúng gây ra là hế
t sức nghiêm trọng đến An ninh quốc gia và trật tự an toàn
xã hội. Nên công tác phòng ngừa tội phạm có tổ chức phải được xem như là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác phòng, chống tội phạm
của toàn xã hội, trong đó lực lượng Công an nhân dân làm nòng cốt.
a. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa xã hội:
+ Xây dựng ý thức phòng ngừa đối với các chủ thể tham gia các mối
quan hệ xã hội: Chủ thể tham gia các mối quan h
ệ xã hội là con người, tổ chức,
cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần chúng đây là những nhân tố có ý nghĩa
quyết định trong công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm có tổ
chức nói riêng. Vì vậy, vấn đề tuyên truyền sâu rộng để các chủ thể nhận thức
rõ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm là trách nhiệm của mọi
người, của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, c
ủa toàn xã hội. Mỗi chủ thể trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình mà góp phần tham gia vào công tác
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở mức độ khác nhau, tạo nên phong
hạn chế đến tình hình tội phạm và sự phát tri
ển những đường dây, ổ nhóm tội
phạm có tổ chức. Thực tiễn đấu tranh triệt phá các băng, nhóm tội phạm có tổ
chức vừa qua cho thấy những đối tượng cầm đầu, cốt cán trong băng, nhóm tội
phạm đều đã từng có tiền án, tiền sự; thậm chí có nhiều tên tái phạm nhiều lần.
Vì vậy, vấn đề chống tái phạm tội là hết sức quan trọng nhằ
m hạn chế những
người có quá khứ lầm lỗi tiếp tục phạm tội. Các cấp, các ngành và chính quyền
cần quan tâm hơn nữa tạo điều kiện công ăn, việc làm đồng thời thường
xuyên giáo dục, giám sát răn đe và động viên không để họ tái phạm.
b. Tăng cường các giải pháp phòng ngừa nghiệp vụ cơ bản.
Trong những năm qua do tình hình hoạt động của tội phạm nói chung,
tình hình ho
ạt động của tội phạm có tổ chức nói riêng có xu hướng gia tăng và
diễn biến phức tạp. Thực tiễn qua các vụ án điều tra khám phá băng nhóm tội
phạm có tổ chức cho thấy chúng ta đã xác định hoạt động của chúng là đa
dạng, phức tạp, chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và không từ
một thủ đoạn tội ác nào. Chính vì vậy, chỉ có làm tốt công tác nắm tình hình,
12
điều tra cơ bản, chúng ta mới có thể triển khai, bố trí các hoạt động nghiệp vụ
điều tra trinh sát đi sâu vào các băng ổ nhóm tội phạm, phát hiện những tên
cầm đầu, chỉ huy băng nhóm phục vụ tốt công tác phòng ngừa và đấu tranh
triệt phá tội phạm có tổ chức.
+ Phối hợp các ngành chức năng ở cơ sở để tiến hành rà soát, xắp xếp
lại các hoạt độ
ng dịch vụ như vận chuyển, bốc vác, giữ trật tự v.v ở các khu
vực tập trung buôn bán giao lưu, những nơi tập trung các hoạt động dịch vụ,
vui chơi giải trí, vùng giáp ranh, các tuyến và mặt hàng trọng điểm v.v lực
lượng Công an cơ sở làm tôt vai trò tham mưu cho cấp ủy Đảng và Chính
chỉnh kịp thời những vi phạm để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, bịt kín mọi
sơ hở mà bọn tội phạm có thể lợi dụng để hoạt động phạm pháp.
+ Lực lượng trinh sát, Cảnh sát quản lý hành chính cầ
n làm tốt chức
năng tham mưu cho cấp ủy và chính quyền cơ sở dựa vào các văn bản pháp
luật, thể lệ quản lý hành chính của Nhà nước để ban hành các quy chế, quy tắc,
13
thể lệ quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ như: bốc xếp, vận chuyển, bảo
vệ giữ gìn trật tự, mở các hoạt động kinh doanh dịch vụ, hành nghề đặc biệt
v.v cần quy định rõ về các mặt như mô hình tổ chức, điều kiện hoạt động,
chế độ quản lý, giá cả, các nghề được làm, nghĩa vụ thuế v.v đặc biệt chú ý là
không
để những đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự đứng đầu các tổ chức này.
+ Tăng cường công tác trực ban hình sự của lực lượng Công an nhân
dân ở các thành phố, thị xã lớn cần tổ chức xây dựng lực lượng Cảnh sát phản
ứng nhanh (Cảnh sát 113) để giải quyết các yêu cần khẩn cấp theo đường dây
nóng điện thoại 113.
+ Cần khai thác và sử dụng có hiệu quả nhữ
ng thành tựu của khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm có
tổ chức. Trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, hệ thống thông tin, mạng vi
tính nối mạng trong toàn quốc mà trước mắt là ở những địa bàn trọng điểm
phức tạp, ở Bộ Công an, các thành phố lớn
+ Tăng cường công tác vận động quần chúng cung cấp những tin tứ
c, tài
liệu về hoạt động của tội phạm, một mặt phải đảm bảo an toàn cho quần chúng
tích cực, mặt khác cũng cần kịp thời đưa ra xét xử những đối tượng trọng
điểm, vụ án trọng điểm để tạo khí thế quần chúng tích cực tham gia đấu tranh
phòng chống tội phạm có tổ chức. Mặt khác cần đẩy mạnh đấu tranh chống
ều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán có đủ năng
lực và phẩm chất, có tinh thần trách nhiệm cao, có kinh nghiệm và sáng tạo,
tham gia vào công tác điều tra, truy tố, xét xử.
- Phối kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và
trinh sát ngay từ khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra đến khi kết thúc vụ
án. Những trường hợp đặc biệt cần có sự phối hợp, hỗ trợ đến khi k
ết thúc xét
xử vụ án.
- Củng cố vững chắc chứng cứ đã thu thập được, khẩn trương thu thập
chứng cứ mới và khai thác mở rộng vụ án nhằm phục vụ cho việc đấu tranh
triệt phá toàn bộ băng nhóm tội phạm hoạt động có tổ chức.
- Quá trình đấu tranh khai thác cần vận dụng linh hoạt chiến thuật xét
hỏi bị can do tính chất phức tạp củ
a vụ án, của các đối tượng khi bị bắt giữ và
những tên chỉ huy cầm đầu băng nhóm có nhiều kinh nghiệm đối phó. Vì vậy,
quá trình xét hỏi cần nghiên cứu kỹ, tỷ mỷ để tìm ra những mắt xích yếu nhất
để đột phá để xét hỏi làm cho bị can dễ dàng nhận tội và khai báo hành vi cùng
đồng bọn phục vụ tốt cho việc xét hỏi bị can khác.
- Triệt để khai thác và sử dụng tổng hợ
p các biện pháp nghiệp vụ trinh
sát trong buồng giam để phục vụ cho công tác xét hỏi bị can và thu thập tài liệu
chứng cứ mở rộng vụ án.
- Khai thác triệt để khả năng của các biện pháp khoa học kỹ thuật,
nghiệp vụ khắc phục cho công tác điều tra như ghi âm, ghi hình bí mật, kiểm
soát thông tin, kiểm duyệt thư tín v.v
- Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan điều tra với viện ki
ểm sát và tòa án
trong quá trình điều tra, giám sát điều tra và truy tố, xét xử.
d. Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, các văn bản pháp quy
nhằm phát huy hiệu quả của pháp luật trong công tác đấu tranh, ngăn chặn tội
khác nhau. Theo chúng tôi: tội phạm có tổ chức đã xuất hiện ở nước ta mặc dù
số lượng chưa nhiều song tác hại do chúng gây ra là rất nghiêm trọng. Vì vậy,
cần phải xây dựng luật chống tội phạm có tổ chức hoặc bổ sung, sửa đổi Bộ
luật hình s
ự hiện hành và quy định rõ hơn về hành vi lôi kéo thành lập tổ chức
tội phạm; hành vi điều hành hoạt động phạm tội; hành vi che giấu tổ chức tội
phạm, v.v làm cho pháp luật hình sự nước ta cập nhật và phù hợp với Công
ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Nhà
nước ta đã ký cam kết tham gia.
Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong quầ
n
chúng nhận thức được tính chất nguy hiểm của tội phạm có tổ chức để nhân
dân hiểu biết về chúng để tích cực, chủ động, phòng ngừa và phát hiện, cung
cấp cho cơ quan chức năng về hoạt động của tội phạm có tổ chức.
e.Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm có tổ
chức.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống t
ội phạm có tổ chức trên phạm vi quốc
tế và ở Việt Nam cho thấy sự liên kết, móc nối giữa các tổ chức tội phạm trên
thế giới theo các đường dây xuyên quốc gia đã gây thiệt hại không chỉ ở phạm
vi một quốc gia mà thiệt hại đến cả cộng đồng quốc tế. Vì vậy, yêu cầu hợp
tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm vì lợi
ích của mỗi quốc gia
và lợi ích chung đối với tất cả các nước trên thế giới 1à yêu cầu cần thiết và
khách quan trong tình hình hiện nay.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nêu trên Nhà nước ta đã quan tâm
chỉ đạo các cơ quan chức năng xúc tiến việc quan hệ hợp tác quốc tế trong đấu
16
tranh phòng chống tội phạm như Cảnh sát nhân dân Việt Nam tham gia Tổ
- Đối tượng hợp tác trước mắt và bức xúc hiện nay là:
Đối với các nước xung quanh khu vực Đông Nam á như Lào, Thái Lan,
Cămpuchia về chống buôn lậu, buôn bán, vận chuyển ma túy, hoạt động mại
dâm, mua bán phụ nữ trẻ em, chống cướp biển
- Việt Nam - Trung Quốc về chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm, cướp
trên tuyến đường biển, rửa tiền, buôn bán vận chuyển ma túy, mua bán phụ nữ,
trẻ em
- Đối v
ới các nước Đông Au, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Séc,
các nước thuộc SNG, Nga về buôn lậu, cướp tài sản, cưỡng đoạt, giết người,
chống khủng bố
- Cần thiết thành lập mạng lưới sĩ quan cảnh sát liên lạc ở những nước
có tình hình hoạt động phạm tội phức tạp, có đông người Việt Nam sinh sống.
17
Có như vậy mới tạo điều kiện cao nhất để đảm bảo hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội phạm có tổ chức.
18
BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÂN,
HỘ KHẨU ĐỐI VỚI NHÓM TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC , TỘI PHẠM
HÌNH SỰ ĐƯỢC THA VỀ NHẰM PHÁT HIỆN CÁC ĐỐI TƯỢNG
BỊ TRUY NÃ
Đại tá Tạ Qúy
Phó cục trưởng Cục CS QLHC về TTXH, Bộ Công an
Những năm gần đây tình hình an ninh trật tự (ANTT) nói chung và tình
hình tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” nói riêng diễn biế
tác dụng các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu để quản lý giáo dục đối tượng.
Đối tượng tù tha về rất đa dạng phức tạp, có những đặc điểm khác biệt với các
loại đối tượng khác. Loại đối tượng này rất đa dạng về thành phần, hoàn cảnh
gia đình; Về đặc điểm, tính chất phương thức thủ đoạn hoạ
t động của mỗi đối
19
tượng cụ thể ở mỗi địa bàn khác nhau cũng cần có các biện pháp theo dõi,
quản lý, giáo dục khác nhau. Trong quá trình quản lý giáo dục, lực lượng Công
an không chỉ áp dụng các biện pháp mang tính hành chính thông thường để
theo dõi giám sát, quản lý mà cần phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để
giáo dục, tạo điều kiện cho đối tượng sớm hoà nhập cộng đồng.
Nâng cao chất lượng quản lý các đối tượng tù tha về, đối tượ
ng đã phạm
tội nghiêm trọng, công tác quản lý nhân hộ khẩu nhằm phát hiện các đối tượng
truy nã. Nếu quản lý tốt, giám sát kết hợp với giáo dục, cảm hoá sẽ ngăn chặn
được việc đối tượng tiếp tục phạm pháp hoặc cấu kết với các đối tượng khác tổ
chức phạm pháp. Cũng từ việc nắm địa bàn, nắm đối tượng, lực lượng Công an
có th
ể chủ động đấu tranh triệt phá sớm ngay từ khi các băng nhóm tội phạm
có dấu hiệu hình thành. Việc ngăn chặn băng nhóm tội phạm hình sự cũng sẽ
góp phần ngăn chặn các loại tội phạm có tổ chức khác như tội phạm kinh tế, tội
phạm ma tuý, các loại tệ nạn xã hội sử dụng “đội quân dao búa” làm phương
tiện đe doạ, thanh toán trả thù, triệt dầ
n những “chiếc vòi bạch tuộc”, không để
cho tội phạm có tổ chức, tội phạm kiểu “xã hội đen” phát triển. Ngay từ bây
giờ, công tác đấu tranh với loại tội phạm này phải được triển khai một các bài
bản, không chút chần chừ. Về lâu dài, cần chủ động ngăn ngừa từ xa qua công
tác rà soát, nắm đối tượng, kết hợp với sức mạnh phong trào quần chúng tham
gia giữ gìn ANTT. Đồng thờ
vấp phải để giúp họ vượt qua, biết cảm thông chia sẻ với họ, nâng đỡ họ,
động
viên, cởi mở với họ để họ mau chóng hoà nhập. Cần vận động những thành
viên tích cực, có trách nhiệm trong gia đình, dòng họ đứng ra đảm nhiệm việc
giúp đỡ giáo dục đối tượng, thường xuyên gặp gỡ, động viên, tạo các điều kiện
thuận lợi cho đối tượng tái hoà nhập. Tính đến nay lực lượng CSKV, CAPTX
về ANTT hiện nay quản lý 1.015.466 đối tượng trong đó có 568.159 đối tượng
có tiền án, tiền sự về chính trị; 162.021 đối tượng sưu tra; 62.623 đối tượng
quản lý theo pháp luật; 222.663 đối tượng đi tù, CSGD, CSCB, TGD tha về;
lực lượng CSKV, CAPTX về ANTT, CSTT, Cảnh sát quản ký đặc doanh hiện
đang sử dụng 21.036 CSBM, 1.036 CTVĐ để quản lý đối tượng và địa bàn.
Trong những năm qua lực lượng CSKV, CAPTX về ANTT đã kiểm danh kiểm
diện được 687.862 lượt đối tượng, cảm hoá giáo dục 412.204 lượt
đối tượng,
đưa ra kiểm điểm trước dân 59.788 đối tượng, phối hợp tìm việc làm cho
18.937 đối tượng, lập 1.763 hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục, 1.987 hồ
sơ đối tượng vào trường giáo dưỡng, 2.506 đi cơ sở chữa bệnh góp phần phòng
ngừa tái phạm; trả lời trên 9 triệu phiếu xác minh hai chiều giúp cho lực lượng
trinh sát điều tra khám phá nhanh các vụ trọng án và ngă
n ngừa tội phạm.
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng hiệu qủa của công tác này, cần huy
động sự tham gia tích cực tự giác có hiệu qủa của cả cộng đồng, phát huy vai
trò của tất cả các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng. Nghị quyết 39/TW
của Bộ Chính trị chỉ rõ “Suy cho cùng, nhân tố thúc đẩy các đối tượng cải tạo,
phấn đấu trở thành lao động tiến bộ
là bản chất tốt đẹp của chế độ, là thế
mạnh, thế thắng của cách mạng…Nhân tố có tác dụng trực tiếp thúc đẩy sự cải
tạo của đối tượng chính là phong trào quần chúng ở địa phương, là việc giám
sát, giáo dục của quần chúng, là việc quản lý của cơ quan chính quyền dưới sự
lãnh đạo của cấp uỷ Đảng cơ sở”.
biên chế Nhà nước thì bị thải hồi, một số tuy có nghề trước khi đi tù, nhưng
sau khi ra trại không có điều kiệ
n tiếp tục làm nghề cũ, một số khác không có
nghề phải tự kiếm và làm thuê với các nghề khác nhau để kiếm sống. Do
không có thu nhập chính đáng, cuộc sống của bản thân, gia đình không ổn định
trong khi đời sống vật chất của xã hội ngày càng tăng nhanh dẫn đến các đối
tượng nảy sinh tình trạng tiêu cực, tiếp tục đi vào con đường phạm tội trở lại.
Vì vậy, tạ
o việc làm cho các đối tượng tù tha về là nhiệm vụ cấp bách và có ý
nghĩa chiến lược, trách nhiệm thuộc về các cơ quan chức năng và toàn xã hội.
Vì vậy, quản lý các đối tượng tù tha về, đối tượng phạm tội nghiêm
trọng lực lượng CSKV, CAPTX về ANTT ở cơ sở cần xác định rõ yêu cầu
quản lý phải nhằm đạt được mục đích là: Cảm hoá giáo dục, cải tạo đối t
ượng
làm cho đối tượng nhận thức được lẽ phải, làm ăn lương thiện trở thành người
công dân có ích cho xã hội, không định kiến, xa lánh họ, cần quan tâm tạo điều
kiện cho người lầm lỗi tiến bộ được lao động, học tập và tham gia phong trào
quần chúng BVANTQ phù hợp với điều kiện từng người. Đồng thời phải chủ
động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặ
n kịp thời có hiệu qủa đối với
từng loại đối tượng nhằm tước bỏ những điều kiện, khả năng có thể tiếp tục
phạm tội, tái phạm và vi phạm trật tự ATXH tại cơ sở. Lực lượng CSKV,
CAPTX về ANTT phải làm tốt chức năng tham mưu đắc lực cho cấp ủy, chính
quyền cơ sở, đồng thời ph
ải làm tốt chức năng hướng dẫn và tổ chức thực hiện
ở cơ sở, là người trực tiếp quản lý, giáo dục các đối tượng tù tha về, đối tượng
phạm tội nghiêm trọng trong phạm vi địa bàn, khu vực theo đúng quy định của
pháp luật và hướng dẫn chỉ đạo của Công an cấp trên.
22
c lượng có liên quan.
Phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH tiến hành xác
minh, truy bắt các đối tượng truy nã trong phạm vi địa bàn quản lý. Qua 5 năm
thực hiện kế hoạch 327/BCA về tổng truy bắt đối tượng truy nã, lực lượng
CSQLHC về TTXH đã trực tiếp và phối hợp với các lực lượng có liên quan
phát hiện bắt 7.079 đối tượng truy nã (trong đó trực tiếp bắ
t 1.660 đối tượng,
phối hợp bắt 4.193 đối tượng, vận động đầu thú 1.226 đối tượng), điển hình là
lực lượng Công an xã của các tỉnh Sơn La, Vĩnh Phúc, Bà Rịa-Vũng Tàu,
Khánh Hoà, Quảng Nam, Hà Nội… bắt 35 đối tượng có lệnh truy nã, vận động
đầu thú 17 tên; lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dưỡng 1.763 đối tượng, 1.987 đối
tượng vào TGD, 2.506 đối tượng vào CSCB và quản lý giáo dục tại xã,
phườ
ng, thị trấn 62.623 đối tượng. Trong 5 năm qua lực lượng CS.QLHC về
TTXH đã tổ chức kiểm tra được 10.284.353 lượt hộ với 36.812.536 nhân khẩu
(trong đó KT2 là 1.760.780 hộ với 11.933.718 nhân khẩu, KT3 là 2.541.311 hộ
với 15.490.611 nhân khẩu, KT4 là 754.343 hộ với 9.388.207 nhân khẩu), củng
23
cố 436.745 lượt điểm khai báo tạm trú, tạm vắng… Qua kiểm tra đã phát hiện
và bắt 635 đối tượng truy nã, 2.187 đối tượng buôn bán, tàng trữ, sử dụng ma
tuý và hoạt động mại dâm.
Tuy nhiên, trong công tác tuy bắt đối tượng có lệnh truy nã vẫn còn
nhiều bất cập, nhiều sơ hở thiếu sót tồn tại. Đáng chú ý là tình hình về tội
phạm vẫn gia tăng và diễn biến phức tạp, số đối tượ
ng có lệnh truy nã tiếp tục
tăng trong một số năm gần đây, một số loại tội phạm nghiêm trọng như giết,
cướp, hiếp dâm, lừa đảo không giảm. Kết quả truy bắt đối tượng truy nã đạt tỷ
lệ chưa cao. Lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH thực hiện công tác này mới
đạt tỷ lệ trực tiếp bắt gần 23%. Trong khi đó lực lượng này có trên 16 ngàn cán
đúng mức như: kinh phí hỗ trợ và trang bị phương tiện đi lại, phương tiện
thông tin, CCHT… còn quá ít và lạc hậu, đặc biệt là cấp cơ sở. Đây cũng là
những yếu tố làm ảnh hưởng đến công tác quản lý hộ khẩu và phát hiện đối
tượng truy nã, đối tượ
ng trốn thi hành án.
24
* Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý đối tượng tù
tha về, đối tượng phạm tội nghiêm trọng, công tác quản lý nhân hộ khẩu
nhằm phát hiện các đối tượng truy nã.
1. Tăng cường công tác nắm tình hình, đặc biệt là tình hình hoạt động
của các băng ổ nhóm tội phạm hình sự, kinh tế, ma tuý, tội phạm có tổ chức,
tội phạm hoạt động theo kiểu xã hội đen… thường xuyên thu thậ
p củng cố hồ
sơ, tài liệu về đối tượng; chủ động làm tốt công tác điều tra cơ bản; thông qua
công tác quản lý nhân hộ khẩu để nắm hộ, nắm người (số nhân khẩu KT2, KT3
và KT4) đang cư trú trên địa bàn, khu vực phụ trách nhằm phát hiện kịp thời
đối tượng truy nã; lên danh sách các loại đối tượng và tổ chức phân loại để
quản lý, đồng thời ghi vào sổ KV3 để theo dõi qu
ản lý theo qui định, củng cố
mạng lưới CSBM đảm bảo giám sát đối tượng và quán xuyến địa bàn phục vụ
cho công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm.
2. Chấn chỉnh công tác kiểm tra tạm trú, tạm vắng, việc mang dùng, sử
dụng CMND và giấy tờ đi lại khác của công dân… số khách sạn, nhà cho thuê
nghỉ trọ, ký túc xá, hộ mặt nước đặc biệt là diện KT3, KT4… trang trại vùng
sâu vùng xa, khu vực biên giới, vùng kinh tế
mới, khu vực ngoại ô các thành
phố, thị xã. Thông qua công tác này phát hiện các đối tượng có lệnh truy nã,
trốn thi hành án phạt tù hoặc các đối tượng hình sự khác lẩn trốn tại địa bàn.
Gắn công tác quản lý nhân hộ khẩu (thường trú, tạm trú, tạm vắng) với công
chống tộ
i phạm của Chính phủ./.