LUẬN VĂN:
Công tác phòng ngừa tội phạm do người
chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh
Điện Biên
Mở Đầu
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Hơn nửa thế kỷ đấu tranh phòng, chống tội phạm, Đảng, Nhà nước ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác phòng ngừa tội phạm là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa
chiến lược. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, thành lập chính
quyền cách mạng non trẻ, trong Sắc lệnh số 23/SL ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chính
phủ về việc hợp nhất Sở Cảnh sát, Sở Liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ, tư
tưởng về phòng ngừa tội phạm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Đề nghị và thi
hành các phương pháp đề phòng những sự hành động làm rối việc trị an và mất trật tự
địa bàn tỉnh Điện Biên chiếm tỷ lệ khá cao so với các địa phương trong cả nước; tỷ lệ
trung bình hàng năm là 8% tổng số đối tượng phạm tội.
Trước tình hình trên để ngăn chặn kịp thời tình trạng tội phạm do người chưa thành
niên gây ra, nhằm giáo dục các em phát triển toàn diện về mọi mặt, trong Nghị quyết số
09/1998/NQ-CP, ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về tăng cường công tác phòng
chống tội phạm trong tình hình mới và Quyết định 138/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm
1998 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm;
đề án thứ tư đã chỉ rõ: "Đấu tranh phòng chống các loại tội xâm hại trẻ em, tội phạm trong
lứa tuổi chưa thành niên". Vì vậy, có thể khẳng định phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
trong lứa tuổi chưa thành niên là một nội dung quan trọng trong Chương trình quốc gia
phòng chống tội phạm.
Cho đến nay đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu đề cập về vấn đề này
như: TS. Đỗ Bá Cở: Người chưa thành niên phạm tội và các giải pháp phòng ngừa của
lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình hiện nay- Đề tài khoa học cấp Bộ - Nxb
CAND- Hà Nội, 2002; Bùi Ngọc Giáp: Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân
trong phòng ngừa và điều tra tội phạm hình sự do người chưa thành niên gây ra trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa- Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả - Đề tài luận văn thạc sĩ
năm 2003.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học đó tiếp cận và đề cập ở các
phương diện, cấp độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình khoa học đã đánh giá được
thực trạng tội phạm nói chung và tội phạm do người chưa thành niên gây ra ở nước ta
trên các khía cạnh khác nhau, góc độ và địa bàn khác nhau, đưa ra các giải pháp phòng
ngừa chung cho toàn xã hội và các giải pháp riêng cho lực lượng Công an nhân dân.
Riêng địa bàn tỉnh Điện Biên là một trong những tỉnh miền núi phức tạp về ANTT, số
vụ phạm tội xảy ra trên địa bàn chiếm một tỷ lệ đáng kể so với cả nước. Đặc biệt tình
hình hoạt động của tội phạm do người chưa thành niên gây ra đang diễn biến phức tạp
và chiếm một tỷ lệ lớn so với tổng số đối tượng phạm tội trên địa bàn. Công tác phòng
ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trong những năm qua của các lực lượng
nghiệp vụ Công an tỉnh đã thu được những kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm do người chưa thành niên gây ra
và hoạt động phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra của lực lượng
CSND Công an tỉnh Điện Biên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu công tác phòng ngừa tội phạm do
người chưa thành niên gây ra theo chức năng của lực lượng CSND từ năm 2001 đến
tháng 6 năm 2006, trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác- Lênin về phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh và những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước, phương
châm, nguyên tắc hoạt động của lực lượng CAND trong phòng ngừa, đấu tranh chống
tội phạm, bảo vệ ANTT.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tùy theo yêu cầu đặt ra của từng vấn đề nghiên
cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Tổng kết thực tiễn công tác phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên
gây ra.
- Thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu liên quan đến tội phạm do
người chưa thành niên gây ra.
- Nghiên cứu điển hình các trường hợp phạm tội cụ thể kết hợp các phương
pháp tọa đàm, trao đổi với những cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong công tác phòng
ngừa tội phạm này ở địa phương.
- Phương pháp điều tra xã hội học khác.
5. Những điểm mới của đề tài luận văn
- Bằng những phương pháp nghiên cứu khoa học, luận văn đã phân tích đánh
giá một cách tổng thể khách quan trên cả hai phương diện là lý luận và thực tiễn về
phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra, chỉ rõ những ưu điểm, kết quả
đã đạt được, tồn tại, nguyên nhân. Đây là căn cứ khoa học quan trọng, làm cơ sở để đề
xuất, bổ sung hoàn thiện công tác này.
1.1. Nhận thức tội phạm do người chưa thành niên gây ra
1.1.1. Khái niệm về người chưa thành niên và tội phạm do người chưa thành
niên gây ra
* Người chưa thành niên và các đặc điểm nhận biết
Theo cách gọi thông thường một chu kỳ sống của con người thường được chia
thành nhiều giai đoạn lứa tuổi khác nhau: trẻ em, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung
niên, cao niên… còn theo cách gọi của thuật ngữ pháp lý thì được chia thành các tên gọi:
trẻ em, người chưa thành niên và thành niên.
Tuy nhiên việc phân định độ tuổi đến nay cũng chưa có một quy định nào thống
nhất về lứa tuổi của trẻ em và người chưa thành niên. Cụ thể là: trong Luật Bảo vệ chăm
sóc trẻ em (được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991) đã quy định: "Trẻ em
quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi". Luật Lao động quy định trẻ
em là người dưới 15 tuổi. Bộ luật Dân sự được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông
qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, tại Điều 20 quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên là
người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên". Trong Bộ luật Hình
sự được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và được
Chủ tịch nước ký lệnh số 01/L/CTN công bố ngày 04 tháng 01 năm 2000, tại Chương
X, Điều 68 quy định việc áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm
tội: "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định
khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này".
Từ những quy định trong các văn bản pháp luật, đã cho chúng ta khái quát sơ bộ
được độ tuổi của trẻ em và người chưa thành niên:
- Trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất, cần có sự bảo
hộ của người lớn và ở độ tuổi dưới 16 tuổi. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là
trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan, nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
- Về thể chất: trẻ em phát triển rất nhanh về chiều cao và cơ thể, đặc biệt ở lứa
tuổi 13 của các em gái và lứa tuổi 15 ở các em trai, các em phát triển về xương, cơ bắp
và tăng nhanh trọng lượng cơ thể. Điều đáng lưu ý về mặt sinh lý phát triển trong giai
tính chất xã hội vì nó hình thành do chính hành vi của con người, nó chống lại toàn thể
xã hội, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta xem tội phạm là một nhân tố bảo thủ và cản trở sự tiến bộ của loài người.
Do vậy Nhà nước ta đã có quy định cụ thể về tội phạm, Điều 8 Bộ luật Hình sự
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21 tháng
12 năm 1999 quy định cụ thể như sau: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,
xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những
lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa".
Như vậy với khái niệm trên, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm tội phạm dựa trên
cơ sở những đặc tính pháp lý của từng hành vi cụ thể hoặc nhóm hành vi do những cá
nhân nhất định thực hiện một cách có ý thức. Chính phương pháp nghiên cứu này của
khoa học luật hình sự đã đưa ra một mô hình pháp lý hay chính là những quy phạm
pháp luật hoàn chỉnh về các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và những hành
vi ứng xử bắt buộc của con người. Do đó, đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hình
sự là hành vi của cá nhân con người. Vì vậy, phòng ngừa và điều tra tội phạm, trước hết
là phòng ngừa những hành vi phạm tội và điều tra làm rõ quá trình diễn biến những
hành vi phạm tội đã xảy ra để xác định có hay không có tội phạm xảy ra, người thực
hiện hành vi phạm tội, trên cơ sở đó giúp cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp
xử lý phù hợp.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ hành vi nào gây ra nguy hiểm cho xã hội đều
được coi là tội phạm, mà tại khoản 4 Điều 8 BLHS xác định: "Những hành vi tuy có dấu
hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải
là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác". Như vậy việc phân biệt một hành
vi vi phạm pháp luật hình sự có phải là tội phạm hay không cần phải căn cứ vào tính
chất nguy hiểm cho xã hội có đáng kể hay không.
người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
Từ phân tích trên có thể hiểu tội phạm do người chưa thành niên gây ra như sau:
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự do những người chưa thành niên có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến những quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
1.1.2. Đặc điểm về tội phạm do người chưa thành niên gây ra
Từ khái niệm trên đã cho chúng ta định hình về độ tuổi của người chưa thành
niên phạm tội, là những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Người chưa thành
niên là những người đang ở lứa tuổi phát triển về mọi mặt. Đây là lứa tuổi chưa có đủ
khả năng nhận thức, chưa có đủ những kinh nghiệm trong cuộc sống, quá trình nhận thức
bị hạn chế; chủ quan nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các sự việc, hiện
tượng, dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống. Mặt khác ở lứa tuổi này các em
đang tò mò, tìm hiểu thế giới xung quanh, ham thích khai thác cái mới lạ; do đó sự tác
động của thế giới khách quan tác động ngược trở lại là điều tất yếu, tác động trực tiếp đến
sự phát triển tâm lý, nhận thức của người chưa thành niên. Vậy việc quan tâm, bảo vệ,
chăm sóc của gia đình, nhà trường là hết sức quan trọng.
Thực tế cho thấy đa số người chưa thành niên thực hiện tội phạm thường là những
người có trình độ văn hóa thấp, ít hiểu biết về đạo đức, pháp luật, thường có quan niệm sai
lệch về nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân, nên thường có những phản ứng sai lệch hoặc
các hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều trường hợp người chưa thành niên không ý thức được
việc làm của mình là phạm tội, bởi vậy khi hiểu ra họ rất hối hận về việc làm của mình và
lúc đó mới biết đó là hành vi phạm tội. Do vậy, chúng ta cần phải nhận biết các đặc điểm
cụ thể về tội phạm do người chưa thành niên gây ra để có cơ sở phòng ngừa:
+ Trước hết chúng ta phải xác định được độ tuổi của người chưa thành niên
phạm tội. Bởi người chưa thành niên là những người đang ở lứa tuổi phát triển về mọi
mặt. Đây là lứa tuổi chưa có đủ những kinh nghiệm trong cuộc sống, quá trình nhận
thức bị hạn chế; chủ quan nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các sự việc,
hiện tượng, dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống. Do đó dễ bị bắt chước,
thể của tội phạm khi người đó có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi,
việc làm của mình, ý thức được việc làm đúng sai đối với luật pháp hình sự, do vậy năng
lực chịu trách nhiệm hình sự phải đạt đến một độ tuổi nhất định và được pháp luật thừa
nhận. Với độ tuổi của tội phạm do người chưa thành niên gây ra theo quy định của BLHS
1999 quy định là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong độ tuổi đó lại được chia thành 2 độ
tuổi để áp dụng các hình phạt khác nhau; tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, còn từ
đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội. Những quy định đó đòi hỏi các cơ
quan bảo vệ pháp luật phải thực sự lưu ý đến người chưa thành niên khi họ làm trái pháp
luật.
1.1.3. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội của pháp luật hình
sự Việt Nam
Người chưa thành niên phạm tội đã được BLHS năm 1999 nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 68 là: từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự.
Do vậy để xác định tội phạm có xảy ra hay không, quá trình điều tra làm rõ
hành vi phạm tội cũng như chứng minh tội phạm của cơ quan điều tra; mặt khác, để các
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hình thức xử lý đối với người phạm tội nói chung,
người chưa thành niên phạm tội nói riêng, phải căn cứ vào các nguyên tắc được quy
định tại BLHS. Riêng đối với người chưa thành niên khi đã xác định họ phạm tội thì
việc xử lý các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của
họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện
gây ra tội phạm. Có như vậy mới giúp họ nhận thức ra được lỗi lầm và sửa chữa để trở
thành công dân có ích cho xã hội. Thể hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN, các biện pháp
áp dụng với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ, làm cho họ
thấy được tính chất của tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật, bản chất nhân đạo của
các biện pháp áp dụng.
- Khi xem xét hành vi của người chưa thành niên có phải là tội phạm hay
không, thì nhất thiết phải lưu ý đến những dấu hiệu cơ bản của tội phạm được quy định
tương ứng.
- Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ
tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm cư trú đối với người
chưa thành niên phạm tội.
- án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì
không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
- Ngoài ra, khi xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nhân thân người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần thiết
phải áp dụng hình phạt, thì áp dụng các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã phường, thị
trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.
- Tòa án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo
dục, phòng ngừa sau đây:
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
Đưa vào trường giáo dưỡng.
Cùng với những quy định của BLHS về việc xử lý người chưa thành niên phạm
tội. Để phù hợp với những quy định trên cũng như mục đích của việc áp dụng hình phạt
là giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh để trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã quy định thủ tục đặc biệt trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội.
1.2. Phòng ngừa tội phạm hình sự do người chưa thành niên gây ra
1.2.1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra và vai trò
công tác phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra
* Khái niệm phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra
Trong nhiều thập kỷ qua nhiệm vụ đấu tranh, chống tội phạm đã được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm, chú trọng trong đó nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm được đặt lên
hàng đầu, có vị trí hết sức quan trọng trong chương trình phòng chống tội phạm của
quốc gia, do vậy công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm
biện pháp nhằm tích cực xây dựng, chủ động phòng ngừa, chủ động tấn công và tiến
công liên tục làm tan rã bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác". Đề cập đến công
tác phòng ngừa tội phạm, trước đây BLHS đặt nhiệm vụ chống tội phạm lên trên nhiệm
vụ phòng ngừa tội phạm nhưng trong giai đoạn hiện nay để nhằm ngăn chặn và hạn chế
đến mức thấp nhất tội phạm xảy ra BLHS năm 1999 đã đặt nhiệm vụ phòng ngừa tội
phạm lên trên nhiệm vụ chống tội phạm. Quan điểm này cũng được thể hiện cụ thể
trong Nghị quyết 09/1998/NQ-CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng chống
tội phạm trong tình hình mới. Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết 09 của
Chính phủ ngày 23 tháng 3 năm 1999 đồng chí Nguyễn Tấn Dũng - Phó Thủ tướng
Thường trực Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ), Trưởng ban chỉ đạo Chương
trình quốc gia phòng chống tội phạm của Chính phủ đã chỉ rõ: "Thực tiễn công tác
phòng chống tội phạm trong thời gian qua chỉ ra rằng không phải chỉ bắt giam nhiều và
xử phạt tù với mức án cao, kế cả mức án cao nhất thì tội phạm sẽ giảm mà phải phát
động cho được phong trào quần chúng đấu tranh phòng chống tội phạm, huy động cho
được sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, của từng hộ gia đình,
của từng công dân tự giác tham gia và phải lấy phòng ngừa làm chính, lấy giáo dục cảm
hóa lao động cải tạo làm chính thì mới là nhân tố, giải pháp cơ bản có ý nghĩa quyết
định cho sự thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh phòng chống tội phạm"; Nghị quyết số
40-NQ/TW, ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác công an trong tình hình mới cũng đã có quan điểm chỉ đạo lực lượng
Công an nhân dân là "huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị,
sức mạnh của toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ", "Trong đấu tranh
chống các thế lực thù địch, các loại tội phạm, phải chủ động tấn công và tích cực phòng
ngừa, không để bị động, bất ngờ; lấy giữ vững bên trong là chính, kịp thời phát hiện và
ngăn chặn những nhân tố có thể dẫn đến những đột biến bất lợi; không để hình thành tổ
chức chính trị phản động, không để xảy ra biến động chính trị - xã hội, bạo loạn"; Nghị
quyết số 08 của Ban chấp hành trung VIII khóa IX về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới đã chỉ đạo "Quán triệt tinh thần cách mạng tiến công, kết hợp chặt chẽ
giữa chủ động tấn công với chủ động phòng ngừa giữa "xây" và "chống" trong đó lấy
phòng ngừa, chủ thể tham gia phòng ngừa, các biện pháp tiến hành và mục đích của
công tác phòng ngừa tội phạm.
- Về đối tượng của hoạt động phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội là
những nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm trong lứa tuổi chưa thành
niên.
- Chủ thể tham gia phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội là: cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội và mọi công dân trong đó cơ quan công an là chủ thể trực tiếp và
nòng cốt trong đấu tranh chống tội phạm do người chưa thành niên gây ra.
- Biện pháp tiến hành hoạt động phòng ngừa là: pháp luật, nghiệp vụ, hành
chính, tổ chức, giáo dục văn hóa, phẩm chất, đạo đức, thể chất, dạy nghề.v.v
- Mục đích của phòng ngừa là: hạn chế đến mức thấp nhất các em vi phạm pháp
luật nói chung và phạm tội nói riêng.
Với những đặc điểm của phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra
nói trên đã cho thấy sự khác biệt với phòng ngừa các loại tội phạm khác đó là các cơ
quan, tổ chức xã hội và mọi công dân đều tập trung phòng ngừa và xóa bỏ các nguyên
nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm do người chưa thành niên gây ra.
* Vai trò công tác phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra
- Việc phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm do người chưa thành niên
gây nói riêng có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc
gia. Đối với nhà nước hiện nay đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa giao lưu kinh tế - văn hóa với các nước trong khu
vực, thế giới và đang có nhiều điều kiện và thời cơ để thúc đẩy nền kinh tế nước ta sánh
kịp với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn, thách
thức, nhất là tình hình các nước đối lập đang có những chủ trương, biện pháp chống phá
ta bằng mọi cách như: "Dân chủ", "Nhân quyền" hoặc chúng tác động vào đội ngũ cán
bộ của ta làm cho ta "Tự diễn biến", "Tự đổi màu"
Do vậy, công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm trong
lứa tuổi người chưa thành niên nói riêng có một vị trí hết sức quan trọng trong công tác
đấu tranh chống tội phạm nhằm đảm bảo ANTT. Phòng ngừa tội phạm là nhằm tìm ra
quyết tốt các vấn đề cụ thể trong hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ sẽ giúp cho vấn đề
phòng ngừa xã hội thuận lợi và có hiệu quả.
+ Phòng ngừa xã hội, đây là biện pháp có tính chất chung, rộng rãi và phòng
ngừa từ xa, như biện pháp phát triển kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục, văn hóa với
sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ trung ương xuống địa phương. Từ đó làm xóa
bỏ nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên, góp phần hạn chế sự
gia tăng của tội phạm.
+ Phòng ngừa nghiệp vụ là toàn bộ các biện pháp mang tính đặc trưng chuyên
môn nghiệp vụ được sử dụng để tập trung phòng ngừa tội phạm nói chung, một nhóm
tội phạm hoặc những hành vi phạm tội cụ thể.
Đặc trưng của phòng ngừa nghiệp vụ là quy mô sử dụng các biện pháp thu hẹp
hơn, chủ thể tiến hành hẹp hơn so với phòng ngừa xã hội, các biện pháp áp dụng mang
tính thiết thực và nghiệp vụ chuyên môn có tính đặc thù của CAND. Tức là chủ thể sử
dụng các biện pháp phòng ngừa nhằm vào đối tượng cụ thể, cá biệt cần phải phòng ngừa
và có mục đích, nhiệm vụ cụ thể. Do vậy tùy theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng
chủ thể tham gia hoạt động phòng ngừa mà sử dụng các biện pháp phòng ngừa sao cho
phù hợp. Lực lượng Cảnh sát nhân dân có vai trò cực kỳ quan trọng, là lực lượng nòng
cốt trong hoạt động phòng ngừa tội phạm hình sự do người chưa thành niên gây ra nói
riêng. Do vậy, để hoạt động phòng ngừa tội phạm hình sự là người chưa thành niên thực
hiện, lực lượng Cảnh sát nhân dân thường sử dụng các hoạt động nghiệp vụ và các mặt
công tác đặc trưng của mình như: công tác sưu tra hình sự; công tác xác minh hiềm
nghi; chuyên án trinh sát; xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật, công tác quản lý, giáo
dục trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em có nguy cơ làm trái pháp luật.v.v đây là những
biện pháp có vai trò quan trọng trong hoạt động phòng ngừa tội phạm do người chưa
thành niên gây ra.
Đối với công tác nghiệp vụ của lực lượng CSND, làm tốt công tác phòng ngừa
tội phạm sẽ làm nền tảng rất vững chắc cho công tác đảm bảo TTATXH, nắm chắc tình
hình di biến động tội phạm, phát hiện và xử lý kịp thời tội phạm, hạn chế sự gia tăng của tội
phạm hạn chế thấp nhất hậu quả tác hại do tội phạm nói chung và tội phạm do người chưa
Như vậy ngay trong đạo luật có hiệu lực cao nhất của Nhà nước ta đó là Hiến
pháp đã thể hiện, xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân, gia đình và xã
hội có nhiệm vụ chăm lo, giáo dục cho thế hệ trẻ và nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm
nói chung và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên nói riêng không của riêng ai.
Ngoài ra nhà nước ta còn có những quy định rất chặt chẽ về quyền tự do, quyền
bất khả xâm phạm về thân thể, bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
cho công dân như: Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định "Công dân có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân
phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt
và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân". Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định "Không
ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được
bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong
việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải xử lý nghiêm
minh".
- BLHS năm 1999 quy định tại Điều 68 nói về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 69 những nguyên tắc cơ bản về xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
Ngoài ra tại Điều 70 nêu các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội và Điều 71 các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó
biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục phòng ngừa do Tòa án quyết định.
- Pháp lệnh Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 1991 đã quy định về phòng
ngừa trẻ em phạm tội. Tại Điều 8 của Pháp lệnh quy định "nghiêm cấm các hành vi
ngược đãi, hành hạ, nhục hình…. bắt ép các em vi phạm pháp luật". Điều 13 quy định
khi phải truy cứu trách nhiệm hành chính, dân sự và trách nhiệm hình sự đối với trẻ em
phải đúng luật. Điều 14: nghiêm cấm lôi kéo trẻ em vào con đường hoạt động tệ nạn xã
hội.