phòng ngừa, điều tra tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh bình dương - Pdf 22

Mở ĐầU
1. TíNH CấP THIếT CủA Đề TàI luận văn
Phòng ngừa, điều tra tội phạm do người chưa thành niên gây ra là một
vấn đề vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính nhân văn. Điều 36 Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 15- 6- 2004 quy định: “Việc xử lý trẻ em có hành
vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ trẻ em nhận thấy sai
lầm, sửa chữa sai lầm và tiến bộ”.
Ngày 23 tháng 12 năm 1999, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình
quốc gia phòng chống tội phạm gồm 4 đề án, trong đó Đề án 4 “Đấu tranh
phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi vị thành
niên” được các ngành, các cấp và các địa phương trong cả nước tổ chức thực
hiện và đã đạt được những kết quả khả quan nhất định. Tuy nhiên, ở một số
địa phương, tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự vẫn
còn diễn ra phức tạp.
Một trong những địa phương có tình trạng phức tạp đó là tỉnh Bình
Dương. Từ năm 2002 đến hết quý II năm 2007, toàn tỉnh Bình Dương xảy ra
512 vụ người chưa thành niên phạm tội với tổng số 688 đối tượng. Đáng chú
ý là số vụ người chưa thành niên phạm tội xảy ra hàng năm chiếm gần 10%
tổng số án xảy ra trong toàn tỉnh và tỉ lệ người chưa thành niên phạm tội ở
tỉnh Bình Dương chiếm khoảng 3,6% của cả nước. Số vụ, số đối tượng là
người chưa thành niên phạm tội có xu hướng tăng bình quân gần 200% trong
5,5 năm qua; tính chất hành vi phạm tội, phương thức thủ đoạn và hậu quả
gây ra ngày càng nghiêm trọng, mang đậm tính chất bạo lực. Điển hình trong
đó, tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra trên địa
bàn tỉnh Bình Dương tính từ năm 2002 đến hết quí II năm 2007 là 48 vụ
(chiếm 9,4% tổng số vụ phạm tội do người chưa thành niên gây ra) với 80 đối
1
tượng. Hầu hết các vụ cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra
đều gắn với những hành vi phạm tội khác (gây rối trật tự công cộng, trộm cắp
tài sản, sử dụng trái phép chất ma tuý ). Các đối tượng có xu hướng đồng

Yêm chủ biên (NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2004); Luận án Tiến sĩ
luật học: “Hoạt động của lực lượng CSND trong phòng ngừa người chưa
thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay” của nghiên cứu sinh Đỗ Bá Cở,
Học viện CSND, năm 2000 Các công trình khoa học đó đã đề cập đến
những vấn đề chung về lý luận hoặc thống kê trên phạm vi quốc gia về tình
trạng trẻ em (người dưới 16 tuổi) hoặc thanh, thiếu niên (rộng hơn đối tượng
là người chưa thành niên) phạm pháp, phạm tội, hoặc chỉ đề cập đến công tác
phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội. Ngoài ra, có một số luận văn
thạc sĩ, công trình nghiên cứu khác về người chưa thành niên nhưng cũng
chưa phải dưới góc độ của ngành Công an và ở tỉnh Bình Dương.
Đối với tỉnh Bình Dương, ngoài các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên
đề về người chưa thành niên phạm tội của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương
trình quốc gia phòng chống tội phạm và một số báo cáo của các Sở, Ban,
Ngành về những vấn đề liên quan thì chưa có công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách toàn diện về vấn đề tội phạm cố ý gây thương tích do người
chưa thành niên gây ra, đánh giá nguyên nhân của vấn đề đó từ nhiều khía
cạnh làm cơ sở đề xuất các giải pháp phòng ngừa, điều tra một cách hiệu quả
trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới.
3. MụC TIÊU Và NHIệM Vụ NGHIÊN CứU
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những tồn tại, thiếu sót và nguyên
nhân trong hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm cố ý gây thương tích do
người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó
3
đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, điều tra loại tội phạm
này trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đi sâu giải
quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động phòng
ngừa, điều tra tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra
làm cơ sở lý luận để giải quyết những nội dung khác của đề tài.

+ Phương pháp thống kê, tổng kết.
+ Phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp điều tra điển hình.
+ Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
+ Phương pháp tọa đàm, lấy ý kiến chuyên gia.
6. ý NGHĩA THựC TIễN Và Lý LUậN CủA VIệC NGHIÊN CứU
+ Việc nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị nâng
cao hiệu quả phòng ngừa, điều tra tội phạm cố ý gây thương tích do người
chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Những đề xuất, kiến
nghị của đề tài có thể được tham khảo, chọn lọc vận dụng vào thực tiễn chỉ
đạo và tổ chức hoạt động của lực lượng Công an và các chủ thể khác có liên
quan của tỉnh Bình Dương.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn được dùng làm tài liệu phục
vụ cho quá trình nghiên cứu, tham khảo trong giảng dạy và học tập các môn
tội phạm học và nghiệp vụ trinh sát, điều tra tại các trường CSND.
7. ĐIểM MớI CủA LUậN VĂN
5
Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, không trùng lắp
với bất cứ công trình nào. Tác giả nghiên cứu tình hình, đặc điểm người chưa
thành niên phạm tội cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Bình Dương gắn
liền với những đặc điểm cụ thể về địa lý, kinh tế - xã hội. Những nguyên
nhân, điều kiện được rút ra cũng mang tính cụ thể và giải pháp đưa ra có luận
cứ, luận chứng khoa học.
Ngoài những đặc điểm chung, tác giả đi sâu nghiên cứu tìm ra những
đặc điểm riêng của tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên
gây ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đặc biệt tác giả sẽ nghiên cứu, khảo sát
tìm ra những nguyên nhân sâu xa từ những đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh
Bình Dương có mối quan hệ đến tình hình người chưa thành niên phạm tội
nói chung, phạm tội cố ý gây thương tích nói riêng. Những kiến nghị, giải
pháp được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn đã khảo sát, nghiên

7
Điều 20 Bộ luật Dân sự quy định: “Người chưa thành niên là người
chưa đủ mười tám tuổi, người thành niên là người đủ mười tám tuổi trở lên”.
Khái niệm người chưa thành niên khác khái niệm trẻ em. Theo Điều 1
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: “Trẻ em quy định trong Luật này
là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.
Khái niệm người chưa thành niên còn được đề cập trong Hiến Pháp
năm 1992, BLHS năm 1999, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Phổ
cập giáo dục tiểu học năm 1991, Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993,
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và một số văn bản quy phạm
pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người
chưa thành niên là dưới mười tám tuổi và quy định riêng những chế định pháp
luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển
về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn
độ tuổi. Theo đó, pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của
người chưa thành niên.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên là người
dưới mười tám tuổi, chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần như
người đã thành niên.
1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Điều 12 BLHS năm 1999 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam quy định:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng”.
8
BLHS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 dành

thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên).
Như vậy, tội phạm do người chưa thành niên gây ra là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và
theo quy định của BLHS người đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành
niên phạm tội cố ý gây thương tích
1.2.1 Đặc điểm pháp lý của tội phạm cố ý gây thương tích
Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác được quy định tại Điều 104 BLHS Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1999:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc
một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba
năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho
nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc
người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của
mình;
e) Có tổ chức;
10
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn
nhân.

Tội cố ý gây thương tích là tội phạm có cấu thành vật chất nên hậu quả
xảy ra (thương tích) được xác định bằng tỉ lệ nhất định. Chỉ khi thiệt hại về
thương tích của nạn nhân từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc mười
trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k Điều 104 BLHS thì mới phải chịu
trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp phạm tội do trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh, do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi
hành công vụ thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thương tích gây ra cho
nạn nhân từ 31% trở lên hoặc gây hậu quả chết người.
* Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Động cơ, mục đích không phải là
dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
* Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tích là bất kỳ người nào có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
1.2.2 Vấn đề trách nhiệm hình sự khi người chưa thành niên phạm tội
cố ý gây thương tích
Đối chiếu quy định của BLHS về phân loại tội phạm (Điều 8 BLHS),
về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS) và tội phạm cố ý gây
12
thương tích được quy định tại các Điều 104, 105, 106, 107 BLHS thì vấn đề
trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người chưa thành niên thực hiện hành vi cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứ khoẻ của người khác trong những
trường hợp sau đây:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự
phạm tội gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ
thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60%
nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến
điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS. Đây là những trường hợp thuộc loại tội
phạm rất nghiêm trọng.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự

lứa tuổi chưa thành niên, trong đó lấy phòng ngừa làm chính”.
Người chưa thành niên phạm tội được điều tra, xử lý theo những chế
định riêng và chủ yếu là nhằm đến mục đích phòng ngừa tội phạm. BLHS
nước ta dành Chương X quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm
tội, trong đó nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên được quy định
tại Điều 69: “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công
dân có ích cho xã hội ”; “Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa
thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong
trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào
những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”.
Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội khi hội đủ 3 điều kiện sau đây
(1)
:

1)
Đỗ Bá Cở - Luận án Tiến sĩ Luật học: “Hoạt động của lực lượng CSND trong phòng ngừa người chưa
thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay”, Hà Nội, năm 2003, trang 15.
14
+ Người chưa thành niên phạm tội có nhân thân xấu.
+ Tội phạm đã được thực hiện có tính chất nghiêm trọng.
+ Những biện pháp giáo dục, phòng ngừa như giáo dục tại xã, phường,
đưa vào trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo người chưa thành
niên phạm tội mà cần áp dụng hình phạt đối với họ.
Khi điều tra vụ án do người chưa thành niên gây ra thì phải tiến hành
theo quy định tại Chương XXXII Bộ luật Tố tụng hình sự (Thủ tục tố tụng đối
với người chưa thành niên). Đặc biệt chú ý quy định tại Điều 302, 303, 304,
305, 306 Bộ luật TTHS trong hoạt động điều tra về những vấn đề phải làm rõ
khi tiến hành điều tra; việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam; việc

1.3.2 Phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành
niên gây ra
1.3.2.1 Chủ thể tiến hành và mối quan hệ phối hợp trong phòng ngừa
tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra
Trong tình hình hiện nay, Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng chống
tội phạm “Đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm
trong lứa tuổi chưa thành niên” đã xác định chủ thể thực hiện Đề án là:
+ Cơ quan chủ trì thực hiện: Bộ Công an.
+ Cơ quan phối hợp thực hiện:
* Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Việt Nam.
* Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
* Trung ương Hội LHPN Việt Nam.
* Bộ Giáo dục và đào tạo.
ở cấp tỉnh cũng thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án và giao cho các
chủ thể thực hiện Đề án là: Công an tỉnh (cơ quan chủ trì), các cơ quan phối
16
hợp (ủy ban dân số, gia đình và trẻ em; Đoàn Thanh niên; Hội Liên hiệp phụ
nữ và Sở Giáo dục đào tạo). Riêng ngành Công an đã phân công lực lượng
CSND là lực lượng thường trực tiến hành các hoạt động phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm do người chưa thành niên gây ra.
Lực lượng CSND (thường trực là CSĐT TP về TTXH) còn có chức
năng tham mưu cho Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã
hội thông qua công tác của mình chủ động phòng ngừa tội phạm do người
chưa thành niên gây ra bằng việc ban hành và thực thi các chủ trương, chính
sách, kế hoạch và công việc cụ thể. Ngược lại, các ban, ngành, đoàn thể, tổ
chức xã hội và mọi công dân có trách nhiệm cùng với lực lượng CSND tổ
chức phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây
ra trước hết ở việc trực tiếp giáo dục, quản lý, chăm sóc người chưa thành
niên và sau đó là góp phần giảm thiểu, đi đến loại bỏ nguyên nhân và điều
kiện của tội phạm.

mạn riêng lẻ, sau đó được đúc rút hệ thống lại và được nghiên cứu tỉ mỉ sâu
sắc hơn trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa
học xã hội. Trong điều kiện các lĩnh vực khoa học phát triển, mạnh mẽ theo
hướng chuyên sâu, vấn đề nghiên cứu về tội phạm và biện pháp đấu tranh
chống tội phạm được nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập
chuyên nghiên cứu về những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội
phạm cùng với các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế
sự tác động của hiện tượng này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội
phạm đã ra đời và phát triển.
Xem xét về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu thấy rằng: “Tội phạm học”
là một cụm từ ghép bao gồm: Crimin: tội phạm (theo ngôn ngữ la tinh) và
18
Logos có nghĩa là: Học thuyết hoặc khoa học (theo tiếng Hy Lạp). Vậy tội
phạm học có nghĩa là “học thuyết về tội phạm” hay “khoa học nghiên cứu về
tội phạm”. Tuy nhiên, nếu nói là “nghiên cứu về tội phạm” thì nhiều ngành
khoa học nghiên cứu về vấn đề này, như: khoa học luật hình sự, khoa học luật
tố tụng hình sự, Điều tra hình sự, tâm lý học, xã hội học…Vì vậy, cá nhà
nghiên cứu tội phạm học xác định phạm vi nghiên cứu của tội phạm học được
giới hạn bởi đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nó là:
- Tình trạng tội phạm.
- Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.
- Nhân thân người phạm tội
- Biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Trên cơ sở đó, có thể nêu khái niệm về Tội phạm hộc như sau:
Tội phạm học là ngành khoa học, nghiên cứu về tội Tình trạng tội
phạm, nguyên nhân và điều kiện phát sinh phát triển của tình trạng tội phạm
và các loại tội phạm cụ thể, nghiên cứu nhân thân người phạm tội và các biện
pháp phòng ngừa ngăn chặn nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi
đời sống xã hội.
Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta,

cứu trên có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau và không cho
phép người nghiên cứu coi nhẹ đối tượng nghiên cứu nào trong việc nghiên
cứu soạn thảo các vấn đề về Tội phạm học. Trong lý luận Tội phạm học người
ta gọi bốn nhóm đối tượng nghiên cứu đó là bốn bộ phận cấu thành cơ bản
hoặc bốn nhóm hiện tượng xã hội cần phải nghiên nghiên cứu trong khoa học
tội phạm.
20
Các đối tượng nghiên cứu và nội dung cơ bản của Tội phạm học bao
gồm:
2.1.1 Tình trạng tội phạm.
Tình trạng tội phạm là hệ thống các sự kiện phạm tội cụ thể được diễn
ra trong hệ thống quốc gia hoặc khu vực trong một thời gian nhất định. Như
vậy có nghĩa là xem xét mhư một hiện tượng xã hội nhằm nắm vững bản chất
của nó cũng như các yếu tố cấu thành có tính đặc trưng của hiện tượng xã hội
này.
Đối với nhóm đối tượng này cần phải xoay quanh các nội dung cơ bản
sau:
- Nghiên cứu tình trạng hoạt động của tội phạm, cấu trúc và động thái
của Tình trạng tội phạm nói chung cũng như từng loại tội phạm cụ thể trong
phạm vi cả nước và ở mỗi vùng dân cư. Những nội dung này phản ánh số
lượng và tính chất hoạt động của tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ
thể trong mỗi thời kỳ, mỗi địa phương khác nhau.
- Nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại giữa Tình trạng tội
phạm với các hiện tượng và các quá trình xã hội khác (CT,KT, VH, GD…)
hoặc với những hình thức khác nhau của hành vi tiêu cực (lười biếng, suy
thoái về đạo đức, tệ nạn xã hội ).
Nghiên cứu làm rõ những nội dung đã chỉ ra trong nhóm đối tượng
nghiên cứu trên cho phép chúng ta đánh giá một cách khái quát về Tình trạng
tội phạm nói chung trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương cụ thể, đồng
thời có thể đề ra phương hướng chung, biện pháp tổng hợp trong việc phòng

điểm dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người phạm tội”. Con người
có thể có nhiều loại phẩm chất tính cách khác nhau như tính cách sinh vật
22
(giới tính, lứa tuổi, chiều cao , cân nặng, màu tóc, màu da…) bản năng động
vất và những phẩm chất tính cách xã hội (quan điểm, trình độ học vấn, tình
trạng gia đình, quan hệ xã hội …)
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội theo các nội dung
sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm về xã hội – nhân khẩu học bao gồm giới
tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp….
- Nghiên cứu về phẩm chất đạo đức và tâm lý cá nhân kể phạm tội. Ơ
đây cần đề cập đến các đặc điểm về thái độ đối xử của kể phạm tội và các tổ
chức chính quyền, tổ chức xã hội và những con người xung quanh, đối với
các giá trị tinh thần, đạo đức xã hội …cũng như các yếu tố về trí tuệ, tình
cảm…đặc biệt, nghiên cứu các biểu hiện của nhân cách kẻ phạm tội trong
quá trình sống; hoạt động lao động, công tác xã hội , vai trò cá nhân trong xã
hội , trong đơn vị công tác,trong các nhóm người và với những con người cụ
thể khác, các cơ quan, đơn vị khác.
Nghiên cứu các đặc điẻm cá nhân kẻ phạm tội mang tính pháp luật hình
sự. Tính chất hành vi tội phạm, mục đích, động cơ phạm tội, hoạt động cá
nhân hay tổ chức, vai trò trong các tổ chức phạm tội, các tiền án, tiền sự…
- Phân loại nhân thân người phạm tội phục vụ cho công tác phòng ngừa
ngăn chặn hoặc giáo dục người phạm tội.
Tất cả những nội dung trên tạo thành hệ thống các đặc tính thể hiện bản
chất xã hội của con người phạm tội. Nghiên cứu những vấn đề trên có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định nguyên nhân và điều kiện tội phạm nói chung
và các loại tội phạm cụh thể, con người cụ thể. Mặt khác nghiên cứu nhân
thân người phạm tội giúp ta đề ra biện pháp phòng ngừa, giáo dục và nâng
cao hiệu quả biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm cụ
thể.

trạng tội phạm, nguyên nhân và điều kiện tội phạm và nhân thân người phạm
tội cho phép xác định tính chất, mức độ tội phạm, nguyên nhân điều kiện của
nó, các quy luật phát sinh, phát triển và tồn tại của tội phạm. Còn đối tượng
nghiên cứu cuói cùng, phòng ngừa tội phạm, là cách thức tác động với tội
phạm, nguyên nhân, điều kiện của nó nhằm hạn chế, tiến tới loại bỏ hiện
tượng này kỏi đời sống xã hội, đó cũng là mục đích nghiên cứu của khoa học
Tội phạm học.
1.3. Hệ thống Tội phạm học.
Quan điểm hệ thống là một trong những quan điểm phổ biến được sử
dụng trong khoa học. Ý nghĩa tác dụng của nó đối với nghiên cứu là giúp cho
chúng ta nghiên cứu và nhận thức vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống,
lôgíc về nội dung và hình thức của vấn đề, qua đó phát hiện, bổ sung và làm
sáng tỏ những vấn đề trong nội dung nghiên cứu Tội phạm học, giúp chúng ta
nhận thức có hệ thống về môn học này.
Hệ thống khoa học tội phạm được xây dựng trên hai cơ sở chính: Theo
đối tượng nghiên cứu và heo mức độ tổng quát các thông tin tư liệu khoa học
và thực tiễn.
a. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu có thể sắp xếp hệ thống Tội phạm
học theo 4 vấn đề chính:
+ Tình trạng tội phạm.
+ Nguyên nhân và điều kiện tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ
thể
+ Nhân thân người phạm tội.
+ Phòng ngừa tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ thể.
25

Trích đoạn Theo chủ thể hoạt động phòng ngừa tội phạm. Khái niệm, phân loại và ý nghĩa tác dụng của dự báo tội phạm. Phương pháp dự báo tội phạm Nhận thức chung về kế hoạch phòng ngừa tội phạm. Phương pháp xây dựng kế hoạch phòng ngừa tội phạm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status