LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường có ý nghĩa rất lớn đối với một doanh nghiệp nó vừa là chỗ để
các doanh nghiệp tồn tại và phát triển , vừa là nơi mà các doanh nghiệp đặt
mục tiêu vừa là nơi chi phối sự hoạt động của các doanh nghiệp .
Trong mấy năm gần đây thì ở nước ta nổi nên thị trường thị trường ôtô bởi
sự phát triển rất sôi động và đa dạng . Nó không những đa dạng về chủng loại mà
còn đa dạng về việc xuất hiện của rất nhiều các công ty hàng đầu trong nền công
nghiệp ôtô thế giới . Và thị trường này đã ngày càng trở nên quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân .Với mục đích chính là không chỉ đáp ứng với mục tiêu
công nghiệp hóa hóa , hiện đại hóa đất nước mà còn góp phần vào công cuộc hội
nhập của ngành công nghiệp Việt Nam vào thị trường các nước trong khu vực và
thề giới .
Để góp phần làm rõ thêm nhận định trên về thị trường ôtô của nước ta . Em
xin trình bầy đề tài nghiên cứu : “Thị trường ôtô ở nước ta , thực trạng và giải
pháp để phát triển thị trường này trong thời gian tới".
Trong khuôn khổ đề tài này em xin mạo muội chia vấn đề trên thành ba
chương để nghiên cứu như sau :
Chương I : Những vấn đề cơ bản của thị trường
Chương II : Sự hình thành , phát triển , đặc điểm , nhân tố ảnh hưởng và
thực trạng của thị trường ôtô nước ta
Chương III : Những biện pháp để phát triển thị trường ôtô nước ta trong
thời gian tới
Do đề tài quá rộng lớn và rất nhiều vấn đề phức tạp vì vậy trong khuôn khổ
đề án , do kiến thức có hạn không thể tránh được những thiếu sót trong nghiên
cứu . Vì thế em rất mong nhận được sự góp ý , nhận xét chân thành từ phía các
thầy cô và bè bạn để qua đó đề tài của em sẽ được hoàn thiện hơn . Và đặc biệt
qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn thầy cô đã rất tận tình giúp đỡ em về
mặt tài liệu cũng như trực tiếp hướng dẫn em về phương pháp nghiên cứu cũng
như góp ý cho em để em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình .
bị giới hạn về không gian , thời gian và dung lượng của thị trường .Để khắc phục
được những nhược điểm này thì ta xem xét khái niệm thị trường theo quan niệm
hiện đại .
+ Khái niệm hiện đại : Thị trường là quá trình mà người mua , người bán
tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá mua bán .
Qua đây ta thấy thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá , lưu
thông tiền tệ , các giao dịch mua bán và các dịch vụ .
2
+ Khái niệm thị trường ở tầm vĩ mô : Khái niệm này được các nhà nghiên
cứu kinh tế sử dụng để vạch ra đường nối chính sách phát triển của đất nước . Nó
không được sử dụng trong thị trường vi mô .
Với định nghĩa này thì các yếu tố cấu thành của thị trường gồm có :
* Tổng cung hàng hoá
* Tổng cầu hàng hoá
* Giá cả hàng hoá
+ Khái niệm thị trường ở tầm vi mô : ( hay còn được gọi là thị trường của
doanh nghiệp ) Thị trường của doanh nghiệp được hiểu là một hay nhiều nhóm
khách hàng có tiềm năng tượng tự nhau với việc bán cụ thể nào đó , mà doanh
nghiệp có thể sản xuất ra hay mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của nhóm
khách hàng này .
Các định nghĩa trên đây về thị trường nhấn mạnh ở địa điểm mua bán , vai
trò của người mua, người bán hoặc chỉ của người mua, coi người mua giữ vai trò
quyết định, chứ không phải người bán, mặc dù không có người bán, không có
người mua, không có hàng hoá và dịch vụ không thoả thuận thanh toán bằng tiền
hoặc hàng thì không thể có thị trường, không thể hình thành thị trường. Cho dù
thị trường hiệ đại có thể các yếu tố trên không có mặt trên thị trường, thì thị
trường vẫn giải quyết các yêú tố ấy hoặc nhận được các yếu tố ấy thông qua thị
trường .
Một là : Phải có khách hàng (người mua hàng) không nhất thiết phải gắn
không có ai mua như vậy có nghĩa là thị trường không thừa nhận . Đ ể được thị
trường thừa nhận, hàng hoá và dịch vụ phải có nhu cầu của khách hàng .Phù hợp
ở đây về số lượng chất lượng sự đồng bộ ,quy cách ,cỡ loại, màu sắc, bao bì, giá
cả, và thời gian địa điểm thuận lợi cho khách hàng.
- Chức năng thực hiện : Chức năng này đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ phải
thực hiện giá trị trao đổi : hoặc bằng tiền hoặc bằng hàng ,hoặc bằng các giấy tờ
có gía khác . Người bán hàng cần tiền , còn người mua cần hàng . Sự gặp gỡ
giữa người bán và người mua được xác định bằng giá cả . Hàng hoá và dịch vụ
bán được tức là có sự chuyển dịch hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người
mua .
Chức năng điều tiết và kích thích : Qua hành vi trao đổi và mua bán hàng
hoá và dịch vụ trên thị trường , thị trường điều tiết và kích thích sản xuất và kinh
doanh phát triển hoặc ngược lại .Đối với các doanh nghệp sản xuất kinh doanh
và doanh nghiệp thương mại , hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ nhanh sẽ kích thích
doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh để cung ứng ngày càng nhiều hàng
cho thị trường .Ngược lại đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và doanh
nghiệp thương mại ,hàng hoá dịch vụ không tiêu thụ được ,thị trường sẽ điều tiết
doanh nghiệp hạn chế sản xuất , hoặc chuyển hướng sản xuất kinh doanh .
4
Chức năng này điều tiết các doanh nghiệp ra nhập nghành hoặc rút ra khỏi
nghành, khuyến khích các nhà sản xuất kinh doanh đầu tư vào nghành hàng hoá
-dịch vụ có lợi, kích thích nhà sản xuất kinh doanh các mặt hàng mới, chất lượng
cao, có khả năng tiêu thụ với khối lượng lớn.
- Chức năng thông tin : Thông tin thị trường là những thông tin về nguồn
cung hàng hoá -dịch vụ , nhu cầu hàng hoá và dịch vụ ,giá cả hàng hoá và dịch vụ
.Đó là những thông tin quan trọng đối vơí mọi nhà sản xuất kinh doanh ,cả người
mua và người bán, cả ngươì cung ứng lẫn ngươì tiêu dùng ,cả những nhà quản lý
và những người nghiên cứu sáng tạo. Có thể nói đó là những thông tin đối với
toàn bộ xã hội .Thông tin thị trường là những thông tin khách quan. Không có
Do hai yếu tố này bị tác động của rất nhiều yếu tố trên thị trường cho nên
việc cân đối cung cầu chỉ là tạm thời, mất cân đối là việc thường xuyên xảy
ra.Việc mất cân đối được biểu hiện bằng giá cả.
c - Quy luật cạnh tranh:
Mọi sự tự do trong sản xuất kinh doanh , đa dạng kiểu hình và nhiều thành
phần kinh tế là cội nguồn của sự cạnh tranh. Cạnh tranh là một điều bất khả
kháng trong nền kinh tế thị trường.Thực chất cạnh tranh về mặt kinh tế khác hẳn
với cạnh tranh một giải thưởng.
Nó không phải là một quá trình gián đoạn mà là một quá trình liên tục. Đó là
một ‘cuộc chạy maratong kinh tế’ không có đích cuối cùng . Ai cảm nhận thấy
đích trước người đó trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vượt lên trước .Chạy
đua kinh tế phải luôn ở phía trước để tránh hậu quả của người chạy phía sau .
Trong cơ chế thị trường , cạnh tranh thực hiện bốn chức năng cơ bản :
- Cạnh tranh làm cho giá cả hàng hoá , dich vụ giảm xuống
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào
của sản xuất và kinh doanh
-Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất .
-Cạnh tranh là công cụ tước quyền thống trị về kinh tế trong lịch sử nhân
loại .
Tóm lại: cung ,cầu là cốt vật chất , giá cả là diện mạo và canh tranh là
linh hồn sống của cơ chế thị trường.
5 - Vị trí , vai trò của thị trường
a - Vị trí của thị trường
Trong kinh tế thị trường , thị trường có vị trí trung tâm . thị trường vừa là
mục tiêu của sản xuất kinh doanh vừa là môi trường của hoạt động sản xuất và
kinh doanh hàng hoá .
Quá trình sản xuất xã hội có bốn khâu :
+ Sản xuất
+ Phân phối
nhiều doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp chỉ cung cấp một tỉ lệ nhỏ các hàng
hoá đưa ra giao dịch cho đến trường hợp chỉ có một doanh nghiệp tạo ra thành cả
một nghành.
Khi xem xét trên góc độ cạnh tranh hay độc quyềntức là xem xét hành vi
của thị trường , các nhà kinh tế phân loại thị trường như sau: thị trường cạnh
tranh hoàn hảo ,thị trường độc quyền. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bao
gồm thị trường cạnh tranh dộc quyền và độc quyền tập đoàn.
7
Khi nói về cơ cấu thị trường bao giờ cũng có hai phía trong cùng một thị
trường : phía mua và phía bán. Mỗi phía có thể tồn tại các cơ cấu thị trường khác
biệt. Khi phân loại thị trường các nhà kinh tế thường chú ý tới các tiêu thức cơ
bản sau:
Số lượng người sản xuất : đây là tiêu thức rất quan trọng xác định cơ cấu
thị trường . Trong các thị trường cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền có
rất nhiều người bán , mỗi người trong số họ chỉ sản xuất một phần rất nhỏ lượng
cung trên thị trường .Trong thị trường độc quyền thì một ngành chỉ bao gồm một
nhà sản xuất (người bán) duy nhất, còn thị trường độc quyền tập đoàn là một thị
trường hợp trung gian ở đó có vài người bán kiểm soát hầu hết lượng cung trên
thị trường .
Chủng loại sản phẩm : thị trường cạnh tranh hoàn hảo sản xuất ra những
sản phẩm đồng nhất như lúa ngô, còn trong ngành cạnh tranh độc quyền các hãng
sản xuất ra các sản phẩm khác nhau một chút.Trong một ngành độc quyền tập
đoàn các hãng sản xuất ra các sản phẩm khác nhau còn trong ngành độc quyền thì
sản phẩm giống nhau.
Sức mạnh của hãng sản xuất : một hãng sản xuất trong đièu kiện cạnh
tranh hoàn hảo không có được khả năng trực tiếp ảnh hưởng đến giá cả thị
trường. Trái lại một nhà độc quyền sẽ có khả năng kiểm soát giá rất lớn. Một
hãng sản xuất trong điều kiện cạnh tranh độc quỳên sẽ có một mức độ kiểm soát
nào đó đói với giá cả của hàng hoá và dịch vụ.
của chính phủ về loại hàng hoá đó (kinh doanh tự do , kinh doanh có điều kiện ,
khuyến khích kinh doanh hoặc cấm kinh doanh). Nghiên cứu tổng cầu hàng hoá
là nghiên cưú tổng khối lượng hàng hoá và cơ cấu loại hàng tiêu dùng thông qua
mua sắm hoặc sử dụng với giá cả thị trường trong một khoảng thời gian. Tổng
khối lượng hàng hoá chính là quy mô thị trường .
Nghiên cứu quy mô thị trường phải nắm được số lượng hoặc đơn vị tiêu
dùng; với hàng tiêu dùng thì đó là dân cư và thu nhập của họ...Đối với loại hàng
hoá có loại hàng thay thế cần nghiên cứu khối lượng hàng hoá thay thế từ đó suy
ra khối lượng hàng hoá bổ sung . Nghiên cứu tổng cầu và cơ cấu hàng hoá cũng
cần nghiên cứu trên mỗi địa bàn, đặc biệt là thị trường trọng điểm . ở đó tiêu thụ
lượng hành hoá lớn và giá thị trường hàng hoá đó trên địa bàn từng thời gian.
Nghiên cứu tổng cung hàng hoá để xem xét khả năng sản xuất trong một
thời gian các đơn vị có đủ khả năng cung ứng cho thị trường tổng số bao nhiêu
hàng , khả năng nhập khẩu bao nhiêu , khả năng dự trù xã hội bao nhiêu , giá cả
của doanh nghiệp sản xuất , giá nhập khẩu. Nghiên cứu giá cả thị trường phải tìm
được chânh lệch giá bánvà giá mua. Có thể ước lượng chi phí vận chuyển và
những khoản thuế phải nộp, xác định hàng cần thu mua và nhập khẩu.
Nghiên cứu chính sách của chính phủ về loại hàng kinh doanh cho phép
kinh doanh có tự do có điều kiện , khuyến khích kinh doanh hoặc cấm kinh
doanh.
9
Đó là chính sách thuế , giá các loại dịch vụ có liên quan như cước phí vận
tải , phí thuê kho hàng, lãi xuất nhân hàng. Ngoài những vấn đề trên , Nghiên
cứu khái quát thị trường cần phải nghiên cứu động thái của cung ,cầu trên từng
địa bàn và trong từng thời điểm. Doanh nghiệp cũng cần phải xác định tỉ phần thị
trường của các doanh nghiệp lớn và chính sách cung ứng hàng hoá của họ .
Nghiên cứu chi tiết thị trường : Thực chất là nghiên cứu đối tượng mua và
bán loại hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh, cơ cấu thị trường hàng hoá và
chính sách mua bán của các doanh nghiệp . Nghiên cứu chi tiết thị trường phải trả
trường và tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Một quyết định đúng
đắn của một cá nhân có thể dẫn đến sự phát triển hoặc phá sản của một công ty.
2/Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô và vi mô
Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô là sự tác động của Nhà nước đến thị
trường.
Dựa váo những chính sách và công cụ của mình Chính phủ sẽ điều chỉnh
thị trường sao cho hợp lý nhất đối với các doanh nghiệp vá đối với một quốc gia.
Một thị trường nếu không có sự quản lý của Nhà nước sẽ phát triển tự do và
không có điểm dừng . Do vậy nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp
do không xác định được mục tiêu sản xuất của mình .
Ta thường thấy tuỳ theo từng điều kiện của từng quốc gia cũng như ở mỗi
thời kỳ mà Chính phủ áp dụng các biện pháp sao phù hợp . Các biện pháp thường
được sử dụng phổ biến là : chính sách thuế, chính sách đầu tư và phát triển ,
chính sách tiền tệ ...
Các nhân tố thuộc quản lý vi mô là những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp
doanh nghiệp hoặc những nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp. Đối với một
doanh nghiệp giá cả hàng hoá sản xuất ra có được công nhận trên thị trường hay
không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của một doanh nghiệp . Mà đối với
những doanh nghiệp lớn (tập đoàn) hay những công ty độc quyền thì sự ảnh
hưởng do sự sống còn của các công ty này có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường.
Chỉ một chính sách của các công ty này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường như
việc tăng giá sản phẩm hay sa thải công nhân khi thu hẹp sản xuất...
3/ Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với việc hình thành và
phát triển thị trường .
-Vị trí địa lý của mỗi quốc gia đối với các nước xung quanh , trong khu
vực và trên thế giới cũng là một thuận lợi hay khó khăn trong việc hình thành và
phát triển thị trường. Ví dụ Việt Nam có hơn một nghìn km bờ biển là nhân tố
cực kỳ quan trọng trong việc phát triển vận tải đường thuỷ .
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia như đất đai khoáng
60-70. Các hiệu xe thông dụng lúc đó là: Toyota Corrolar1500, Corrolar1100SL ,
Crown ; NissanDutsun ; Mazda1000 , 1200 , 1500 ; Honda N360.
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng 1975 , mối quan hệ kinh tế giữa
nước ta với các nước tư bản hoàn toàn bị cắt đứt. Do vậy thời điểm này không hề
có các loại xe của các nước Tây âu mà chỉ có các loại xe của các nước Đông âu
và Trung Quốc.Trong đó đặc biệt là xe của Liên Xô cũ chiếm phần lớn trong thị
trường ôtô ở nước ta. Các loại xe chủ yếu trong thời kỳ này là: Lada, Volga,
Moscovis,Uoat.
12
Từ năm 1986 trở lại đây , do có quá trình đổi mới nền kinh tế mà mối quan
hệ kinh tế của nước ta với tất cả các nước trên thế giới lại được nối lại mà thị
trường kinh tế lại riễn ra rất sôi động ,đặc biệt là thị trường ôtô.Các loại xe ôtô
của các hãng nổi tiếng trên thế giới lại tràn ngập thị trường nước ta như: Toyota;
Ford;Meccerdes-benz; Fiat... Với muôn vàn kiểu xe từ xe dulich , xe tải ,xe bus,
xe cẩu ...
Trong cả nước theo thống kê năm 1991 có tất cả khoảng 205000xe thì
đến năm 1995 có khoảng 240780 tăng bình quân khoảng 34000xe/năm.Và nhu
cầu tiêu thụ xe ôtô ngày một nâng cao , theo dự báo vào năm 2000 mức tiêu thụ
xe ở nước ta sẽ vào khoảng 60.000.Và sẽ còn tăng lên do quá trình phát triển và
hội nhập của nước ta trong tương lai khi nước ta gia nhập một cách toàn diện vào
APEC , AFTA .
2- Đặc điểm của thị trường ôtô ở nước ta
Do thu nhập bình quân của phần người dân nước ta còn thấp và hơn nữa do
quá trình đất nước mới bắt đầu quá trình đổi mới được hơn 10 năm do vậy cơ sở hạ
tầng , giao thông kém phát triển . Do vậy thì trường ôtô nước ta còn rất nhỏ hẹp.
Trong thị trường ôtô ở Việt Nam thì phần lớn các loại xe đời mới có chất
lượng cao thì chỉ bán được cho các cơ quan nhà nước còn tư nhân thì phần lớn
ưa chuộng các xe cũ ( thường gọi là Secondhand) hơn . Phần lớn chi phí cho
- Cũng như mọi quốc gia trên thế giới ở nước ta nhà nước vẫn là người tiêu
thụ ôtô lớn nhất . Đặc thù này là cực kỳ đúng ở Việt Nam bởi vì ở nước ta dân
chưa đủ điều kiện để có thể mua ôtô một cách dễ ràng và để hình thành một thị
trường lớn . Chính vì thế mà khu vực xe công vẫn luôn là thị trường quan trọng.
Hơn nữa do điều kiện kinh tế mà phần lớn các loại xe đều là xe phục vụ cho công
việc như xe tải ,xe bus .Trên thực tế thì hiện tại thị trường ôtô ở nước ta có thể
coi là nhỏ bé . Nhưng trong một tương lai gần với số dân khoảng 70 triệu người
thì thị trường ôtô nước ta sẽ không thể không phát triển. Chính vì điều này mà
các hãng sản xuất ôtô hàng đầu trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam và đang
củng cố chỗ đứng của mình trên thị trường.
3-Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường ôtô ở nước ta
a - Các nhân tố vi mô ảnh hưởng tới đến cung cầu ôtô
- Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu ôtô
* Thu nhập cua khách hàng : Thu nhập của khách hàng đối với cầu ôtô là
cực kỳ quan trọng .Bởi vi loại sản phẩm này là sản phẩm đắt tiền do vậy phải có
một mức thu nhập như thế nào mới có thể mua được loại sản phẩm này . Mà chỉ
khi một sản phẩm của một doanh nghiệp được bán ra trên thị trường và dược
chấp nhận thì lúc đó coi như doanh nghiệp mới được công nhận trên thị trường.
Đối với Việt Nam thu nhập quốc dân trên đầu người vào khoảng
250USD/người/năm , thì là quá ít. Điều này chứng tỏ nhu cầu về các loại sản cao
cấp và đặc biệt như xe ôtô là cực kỳ nhỏ.
Chính vì lượng cầu nhỏ như vậy mà các liên doanh ôtô hiện nay rẩt đang
điêu đứng vì lượng cung ra tương đối lớn nhưng luôn luôn phải chờ tiêu thụ. Ta
có thể thấy mức thu nhập tỉ lệ thuận với cầu , khi thu nhập tăng đến một mức
nào đó thì sẽ nảy sinh ra tiêu dùng sản phẩm và ngược lại khi thu nhập giảm thì
nhu cầu về một loại sản phẩm nào đó cũng giảm.
14
* Thị hiếu của khách hàng : Thị hiếu của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn
15
* Giá các yếu tố đầu vào cho sản xuất ôtô : Đối với một doanh nghiệp thì
giá cả các yếu tố đầu vào là cực kỳ quan trọng , nếu giá các loại máy móc thiết bị,
lao động tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng ngay đến giá bán và sẽ ảnh hưởng ngay đến
tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Nếu giá của các yếu tố đầu
vào tăng lên thì chi phí cho một sản phẩm cũng tăng lên dẫn đến giá của loại sản
phẩm đó cũng tăng lên . Và làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống
và ngược lại nêu doanh nghiệp cắt giảm được các chi phí cho các yếu tố đầu vào
thì doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí cho loại sản phẩm của mình thông qua đó
giẩm được giá thành cũng như tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Và việc tăng hay giảm lợi nhuận của một doanh nghiệp sẽ quyết định tới
sự sống còn của doanh nghiệp đó.
* Công nghệ sản xuất ôtô : Công nghệ sản xuất bất kỳ loại hàng hóa nào
cũng ảng hưởng trực tiếp đến lượng cung loại hàng hóa đó trên thị trường .Nếu
một doanh nghịêp có một công nghệ sản xuất tốt đạt hiệu quả kinh tế ,tiết kiệm
nguyên vật liệu cũng như đạt các tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật thì doanh nghiệp sẽ
sản xuất ra được những sản phẩm có sức canh tranh lớn và có sức tiêu thụ lớn. Và
ngược lại một doanh nghiệp khó có thể tồn tậi trên thị trường nếu sản phẩm sản
xuất ra có chi phí quá cao cũng như không đạt các tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật.
* Năng lực sản xuất ôtô của các doanh nghiệp : Đối với lượng cung ôtô
trên thị trường thì nó ảnh hưởng rất nhiều đến năng lực sản xuất của các doanh
nghiệp trong thời gian đó và cả trong tương lai. Thật vậy nếu một doanh nghiệp
sản xuất đạt được năng lực của mình thì lượng cung ra thị trường sẽ rất đầy đủ và
làm cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình là tồn tại và phát triển.
Và nếu một doanh nghịêp thấy được trong tương lai thị trường của doanh nghiệp
có khả năng phát triển thì doanh nghệp đó sẽ nâng cao năng lực sản xuất và do đó
sẽ tăng lượmh cung trên thị trường.
b - Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới thị trường ôtô
1- Lượng cung và các nguồn cung ôtô ở nước ta hiện nay.
Có thể nói lượng cung ôtô ở nước ta là rất lớn và nó thuộc rất nhiều nguồn
khác nhau.Phần lớn lượng cung ôtô ở nước ta thuộc ba nguồn chính đó là những
nguồn sau:
- Sản xuất và lắp ráp trong nước
- Nhập khẩu theo hạn ngạch
- Nhập lậu
Trong 3 nguồn này , theo số liệu thống kê thì nguồn thứ 2 chiếm số lượng
lớn nhất sau đấy đến nguồn sản xuất và lắp ráp trong nước và cuối cùng là nguồn
nhập lậu. Theo tính toán thì tổng lượng cung ôtô ra thị trường ở nước ta một năm
là khoảng 35000 xe . Thì lượng xe nhập khẩu theo hạn ngạch là vào khoảng hơn
20000 xe/ năm , lượng xe sản xuất và lắp ráp trong nước là vào khoảng 10000 xe/
năm và cuối cùng là lượng xe nhập lậu khoảng 1000-2000 xe/ năm .
17
Với lượng xe chỉ vào khoảng 10000 xe/ năm thì các liên doanh sản xuất xe
ở trong nước chỉ đạt được khoảng 8% công suất so với công xuất thiết kế . Công
suất thiết kế của 11 trong 14 liên doanh hiện có mặt ở Việt Nam là 83260 xe/năm
theo thống kê năm 1998.
Điều này chứng tỏ hoạt động của các liên doanh hiện nay là không hiệu
quả . Tuy công suất thiết kế cao như vậy nhưng trên thực tế năm 1998 chỉ có
6667 xe được bán ra. Mặc dù một năm nước ta nhập khẩu trên 20000 xe nhưng
trong đó chiếm hơn một nửa là các loại xe chuyên dùng đièu này chứng tỏ các
liên doanh ôtô chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa . Còn
lại trong tổng số lượng cung ra thị trường là xe nhập lậu lượng xe này có ảnh
hưởng không nhỏ tới thị trường ôtô ở nước ta do giá của các loại xe này cực rẻ do
vậy nó có sức cạnh tranh rất lớn .
Ta có thể miêu tả điều trên bằng biểu đồ ở trang sau:
18