BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
BÙI HỒNG QUANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY
NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Ở NƯỚC TA – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 62 34 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2007
vào hồi ...... ngày.... tháng … năm 2007 Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, GDĐT luôn là lĩnh vực được coi trọng ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới. Đây được coi là lĩnh vực chủ yếu nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, góp phần to lớn vào việc bảo đảm sự phát triển KT-
XH một cách bền vững. Mục tiêu của GDĐT là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi d
ưỡng nhân tài cho đất nước.
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới dành được chính quyền, Đảng và Nhà
nước đã luôn quan tâm và chú trọng đặc biệt đến lĩnh vực GDĐT. Cùng với
khoa học và công nghệ, GDĐT được coi là quốc sách hàng đầu. Văn kiện
Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: Tăng cường đầu tư vào phát triển con
người thông qua phát triển mạnh GDĐT, khoa học và công nghệ. Đảm bảo
nguồn nhân lự
c về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Với nhận thức con người là nhân tố quyết định cho sự phát triển, vừa là
động lực, vừa là mục đích của sự nghiệp cách mạng, nguyên Tổng bí thư Đỗ
Mười đã nói: Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
u tư cho GDĐT nói riêng. Ngay từ Hội nghị đầu tiên các nhà
tài trợ dành cho Việt Nam (tháng 11/1993), Chính phủ đã tuyên bố quan
điểm của mình về vấn đề quản lý và sử dụng vốn ODA: Điều quan trọng là
nguồn vốn bên ngoài phải sử dụng có hiệu quả. Chính phủ nhận trách nhiệm
điều phối và sử dụng vốn vay, viện trợ nước ngoài, với nhận thức sâu sắc
rằng nhân dân Việ
t Nam là người phải gánh chịu cái giá phải trả cho sự thất
bại nếu nguồn vốn này không được sử dụng có hiệu quả. Kể từ đó cho đến
nay, khung pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy để quản lý, sử dụng
nguồn vốn ODA nói chung và vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT nói
riêng ngày càng được hoàn thiện.
Tuy nhiên, đây là vấn đề mới mẻ và phức tạp, nên QLNN đối với
nguồn v
ốn này còn bộc lộ một số hạn chế, trở ngại như: khung pháp luật và
cơ chế chính sách chưa đồng bộ, trình độ và năng lực của bộ máy điều hành
vẫn còn nhiều bất cập. Điều đó đã làm hạn chế khả năng huy động và sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài dành cho phát triển GDĐT ở
nước ta.
Đầu tư
cho GDĐT bình quân đầu người ở nước ta hiện còn thấp, chỉ
mới bằng 1/10 mức trung bình và 1/100 mức cao của thế giới. Trong khi đó,
nguồn vốn trong nước rất khó đáp ứng nhu cầu đầu tư cho GDĐT. Chính vì
vậy, nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho lĩnh vực này không chỉ cần thiết
trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài. Để sử dụng một cách có
hiệu quả nguồ
n vốn vay nước ngoài đầu tư GDĐT, khắc phục những hạn chế
còn tồn tại, cần phải làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn, nhất là về cơ chế, chính sách, bộ máy quản lý trong lĩnh vực
này. Xuất phát từ thực tế trên đây, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước
đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu t
những phân tích khá sắc sảo về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách và đề
xuất hệ thống giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới cơ
chế quản lý ngân sách cho
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
- Luận án tiến sĩ giáo dục của tác giả Lê Xuân Trường (2003) với đề tài:
"Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển giáo dục phổ
thông trong giai đoạn hiện nay" đã phân tích có hệ thống cơ sở lý luận của
việc sử dụng hợp lý nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục phổ thông;
phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn lực tài chính cho giáo dục phổ thông
ở Việt Nam thời gian qua và xu thế trong thời gian tới. Qua đó đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục.
Với cách tiếp cận, phân tích quản lý tài chính từ chuyên ngành giáo dục học
nên những kết luận có giá trị tham khảo ở mức độ nhất định.
- Luận án tiến sĩ kinh t
ế của tác giả Nguyễn Duy Phong (2003) với đề
tài: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà
Nội" đã chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục
phổ thông trên địa bàn Hà Nội. Bằng việc hệ thống hoá một số vấn đề lý luận
về giáo dục, cơ chế quản lý tài chính giáo dục, luận án đã đi sâu phân tích
4
thực trạng cơ chế quản lý tài chính giáo dục ở thành phố Hà Nội, từ đó đề
xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện cơ chế này trong giáo dục
phổ thông ở Hà Nội. Đây là công trình khá hệ thống, đầy đủ với số liệu cập
nhật tính đến thời điểm công bố nhưng giới hạn nghiên cứu là giáo dục phổ
thông trên phạm vi Thủ đô, hơn n
ữa, cơ chế tài chính của giáo dục phổ thông
và giáo dục đại học hoàn toàn khác nhau, do đó những kết luận của đề tài chỉ
mang tính tham khảo.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đặng Văn Du (2003) với tên đề
triển giáo dục đại học của Việt Nam đến năm 2010 – Thực trạng và giải
pháp, do tác giả Vũ Thị Kim Oanh, Trường Đại học Ngoại thương làm chủ
5
nhiệm. Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hoá những
vấn đề chung về vai trò của ODA trong phát triển giáo dục và đánh giá thực
trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam những
năm qua. Từ đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả
hơn vốn ODA cho chiến lược phát triển giáo dục đại học
ở Việt Nam đến
năm 2010. Song do mục đích nghiên cứu, công trình này chưa đi sâu nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư
cho GDĐT. Như vậy, có thể nói, đề tài luận án là công trình đầu tiên nghiên
cứu về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là nh
ững vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT. Trong đó, luận
án tập trung làm rõ các vấn đề về khung pháp lý nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho GDĐT; cơ chế, chính sách đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu
tư cho GDĐT; bộ máy QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
GDĐT; mô hình QLDA đố
i với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT.
Các khía cạnh khác liên quan được đề cập chỉ để đảm bảo tính tổng thể nhằm
làm rõ những nội dung trọng tâm nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là đối
tượng quản lý của QLNN. Tuy nhiên, nguồn vốn vay nước ngoài là phạm trù
rộng, nó bao gồm nhiều hình thức vay, trong đó có cả vay của nhà nướ
c và
vay của tư nhân; vay ưu đãi và vay thương mại. Trong phạm vi đề tài này,
kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn,... để thực hiện đề tài.
6. Đóng góp mới của luận án
Một là, xây dựng khái niệm QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho GDĐT là sự tác động của các cơ quan QLNN bằng pháp luật, cơ
chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn này để phát triể
n GDĐT, góp phần phát triển KT-XH của
quốc gia.
Hai là, chỉ rõ QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
GDĐT chịu tác động từ cả phía nước cho vay và nưóc đi vay; vì vậy,
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT cần phải đặt
trong mối quan hệ đa chiều đó, trong đó vai trò quản lý của nước tiếp nhận
có vai trò quyết định đế
n hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
Ba là, đánh giá đúng thực trạng QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta từ năm 1993 đến nay; rút ra kết quả đạt
được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân. Qua đó cho thấy, QLNN đối với
nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT trong thời gian qua vẫn còn
nhiều bất cập.
Bốn là,
đưa ra các quan điểm và phương hướng đầu tư phát triển
GDĐT cũng như giải pháp hoàn thiện QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 177 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 mụ
c. 7
Trong các nguồn tài chính đầu tư cho GDĐT, NSNN vẫn đóng vai trò
chủ yếu, là nguồn quan trọng đối với sự nghiệp phát triển GDĐT. Tuy nhiên,
đầu tư cho GDĐT đòi hỏi những khoản tiền rất lớn. Vì vậy, các nước chậm
và đang phát triển đều quan tâm tìm các nguồn vốn khác nhau để đầu tư cho
GDĐT. Ngoài việc huy động vốn từ ngân sách, các nguồn khác từ trong
nước, các quốc gia còn phải tranh th
ủ các nguồn vốn nước ngoài, nhất là
nguồn vốn ODA.
1.1.3. Đặc điểm và vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài đối với
phát triển giáo dục đào tạo
8
1.1.3.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn ODA
Có thể hiểu nguồn vốn ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại
và các khoản viện trợ hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn, lãi suất
thấp…) của các chính phủ và các tổ chức nước ngoài dành cho các nước
đang và chậm phát triển nhằm hỗ trợ sự phát triển của các nước này. Tuy
nhiên, cần chú ý rằng, nguồn viện trợ phát tri
ển bao gồm phần cho không
chiếm khoảng 25% số vốn cung cấp.
Đặc điểm cơ bản của vốn ODA là nguồn vốn do các nước và các tổ
chức quốc tế tài trợ thông qua hình thức cho vay ưu đãi (chiếm hơn 80% tổng
nguồn vốn ODA) hoặc viện trợ không hoàn lại. ODA là nguồn vốn có khả
năng gây nợ. Ngoài ra, vốn ODA còn có đặc điểm là đi kèm theo nó thường
có các điều ki
ện ràng buộc của bên cho vay.
Tuỳ theo tính chất, mục đích, điều kiện,... khác nhau mà có các loại
ODA khác nhau. Phân loại đúng ODA sẽ giúp cho việc sử dụng đúng mục
đích mục đích và có hiệu quả hơn. Theo tính chất, ODA gồm các khoản viện
trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại. Theo mục đích, ODA gồm vốn