Đánh giá rủi ro trước khi cho vay đối với các dự án đầu tư tại Ngân hàng MHB-chi nhánh Hà nội.Thực trạng và giải pháp. - Pdf 26

Lời mở đầu
Việt Nam gia nhập WTO tạo ra một sân chơi mới cho thị trường tài
chính tại Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập mở rộng tài trợ cho các
dự án đầu tư là một chính sách phù hợp để tăng trưởng tín dụng. Tuy
nhiên, việc mở rộng qui mô đầu tư đòi hỏi phải có một hệ thống
ngân hàng thích ứng để hỗ trợ - các doanh nghiệp yêu cầu cung cấp
dịch vụ tài chính tốt hơn, các công ty đa quốc gia cũng muốn có các
dịch vụ tài chính trong nước hỗ trợ cho vốn đầu tư của mình. Điều
này thúc đẩy sự hình thành các chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam,
cũng như thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng trong nước mở
rộng qui mô và chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng
sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Nhưng tăng trưởng tín
dụng đi đôi với chất lượng tín dụng và áp dụng các chuẩn mực quốc
tế mới là cách thức đưa các ngân hàng thương mại (NHTM) trong
nước hội nhập một cách thực chất và bền vững, có khả năng cạnh
tranh cao với các NHTM nước ngoài.
Hiện nay, dự án đầu tư đang giữ một vị trí quan trọng và tham gia
vào hầu hết các quan hệ kinh tế, trong đó có quan hệ tín dụng với các
NHTM. Đầu tư theo dự án là một trong những phương thức đầu tư
được đánh giá là có hiệu quả nhất mà các nhà đầu tư trên thế giới đã
tổng kết và coi đó là cách thức thực hiện chủ yếu khi quyết định đầu
tư đối với mọi công trình.
Đứng về phương diện Ngân hàng, hoạt động tín dụng nói chung cà
hoạt động cho vay theo dự án nói riêng đem lại nguồn thu nhập chủ
yếu cho Ngân hàng, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Do đó Ngân
hàng luôn phải giám sát chặt chẽ hoạt động này để đảm bảo hoạt
động hiệu quả nhưng an toàn. Đánh giá rủi ro dự án đầu tư giúp cho
Ngân hàng phần nào dự báo được hiệu quả tài chính và tính khả thi
của từng dự án để có thể chọn lọc được các cơ hội đầu tư tốt, có hiệu
quả, có khả năng thu hồi vốn và do đó hạn chế rủi ro cho vay sai
lầm, gây hậu quả không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của Ngân

I. Đầu tư :
1. Khái niệm :
Đầu tư theo nghĩa rộng, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được
các kết quả đó.
Nguồn lực của hoạt động đầu tư tạo ra có thể là sự tăng them các tài
sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy,đường sá, các của
cả vật chất khác…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn,
khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc
với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
2. Phân loại :
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, tuy nhiên xuất phát từ bản
chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại, có thể phân chia thành 3
loại hình đầu tư cơ bản : đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư
phát triển.
II. Dự án đầu tư :
1. Khái niệm :
4
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ như về mặt hình
thức, góc độ quản lý, kế hoạch hóa hay xem xét về mặt nội dung thì
có những khái niệm khác nhau ứng với mỗi góc độ đó :
- Là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định,
trong quá trình thực hiện mục tiêu đó cần có các đầu vào và kết quả
thu được là các đầu ra.
- Là một lĩnh vực haotj động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải
được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một
kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
- Dự án là những nỗ lực có hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc một
dịch vụ nhất định

định cư và phục hồi, chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Mua sắm thiết bị và công nghệ
- Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình.
- Tiến hành thi công xây lắp
- Kiểm tra và thực hiện hợp đồng
- Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng
- Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực
hiện bảo hành sản phẩm.
* Giai đoạn kết thúc đầu tư :
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán
- Hoàn trả vốn đầu tư
Quá trình nghiên cứu, soạn thảo một dự án đầu tư được thực hiện
theo từng giai đoạn rất cẩn thận nhưng không thể tránh khỏi những
sai sót nhất định. Do đó, chúng ta cần phải có một quy trình đánh giá
rủi ro trước khi cho vay vốn dự án thích hợp nhằm phát hiện ra
những sai sót để có biện pháp khắc phục, đảm bảo tính khả thi của
dự án.
2. Các nguồn vốn cho dự án :
2.1. Nguồn vốn trong nước
* Nguồn vốn nhà nước :
- Vốn ngân sách : Được hình thành từ nguồn thu thuế và nguồn
thu khác cộng với tiết kiệm chi cho ngân sách. Đây là nguồn có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng cho các đơn vị hoạt động đầu tư trong
nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu được tập trung cho đầu tư xây

động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ
của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp
đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân
cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu
một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không
nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng
hay do tích luỹ tryuền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng
trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền
mặt ,nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của
toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn tiết kiệm này
phụ thuộc vào:
- Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát
triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
+ Tập quán tiêu dùng của dân cư.
+ Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế
thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội.
2.1. Nguồn vốn nước ngoài.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng
hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows).
Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình
chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển
đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ
ba đặc biệt quan tâm. Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi
hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không

tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời
gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không
nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận
trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị
trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng
của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của
nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của
nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu
dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa.
* Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác
nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không
phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu
tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu
tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo
toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc
12
đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao
về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn
này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước
nhận đầu tư .
* Thị trường vốn quốc tế.
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các
thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ
đa dạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng
vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nước đang
phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia

vốn tín dụng để đầu tư họ phải có dự án và dự án đó được Ngân hàng
thẩm định trước khi cho vay. Khác với hoạt động đầu tư bằng vốn tự
có, doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả dự án,
thì tín dụng đầu tư phát triển có sự chịu trách nhiệm về hiệu quả của
dự án. Ngân hàng giám sát, đánh giá từ khi trình hồ sơ xin vay vốn,
14
cho đến khi thực hiện dự án, vận hành kết quả của dự án. Trong quá
trình sử dụng vốn, Ngân hàng cũng tham gia dưới góc độ xem vốn
có sử dụng đúng mục đích không, tiến hành giải ngân theo khối
lượng công việc đã hoàn thành và nghiệm thu.
- Các kết quả của tín dụng đầu tư phát triển chủ yếu là để haotj
động chứ không phải dịch chuyển. Tín dụng đầu tư phát triển tạo ra
các tài sản hoạt động cho doanh nghiệp, tạo thành công cụ lao động
cho doanh nghiệp theo nghĩa rộng đó là máy móc, kho tang, thiết
bị… Các tài sản dung để sản xuất hàng hóa vật phẩm bán ra thị
trường chứ không phải dung vào việc mua đi bán lại. Kết quả của
hoạt động tín dụng đầu tư phát triển là tạo ra năng lực sản xuất mới
them cho doanh nghiệp.
- Tín dụng đầu tư phát triển sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn.
Đây là đặc điểm riêng có của Việt nam. Đúng ra các kết quả của hoạt
động tín dụng đầu tư phát triển khi có thời gian phát huy tác dụng và
hoàn vốn thì đòi hỏi nguồn vốn để tài trợ phải là nguồn vốn dài hạn.
Vốn ngắn hạn chỉ tập trung tài trợ cho tài sản lưu động để vận hành
các kết quả đầu tư này. Tuy nhiên ở Việt nam các công cụ huy đọng
vốn dài hạn còn chưa thực sự hấp dẫn thì vốn ngắn hạn chiếm một tỷ
trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động, trong khi nhu cầu vốn
trung và dài hạn lại lớn. Việc sử dụng vốn ngắn hạn tài trợ cho vốn
trung và dài hạn làm hiệu quả đồng vốn không cao do chi phí huy
động lớn, vốn huy động thường xuyên biến động, tín dụng đầu tư
phát triển sử dụng vốn ngắn hạn không tạo ra được sự chủ động về

CNH-HĐH :
Chúng ta thực hiện CNH-HĐH từ một cơ cấu kinh tế mất cân đối và
kết cấu hạ tầng kém phát triển là những khó khăn cản trở đáng kể đòi
hỏi phải có sự chuyển biến nhanh chóng.
Trong ngành kinh tế, chúng ta chủ trương khai thác các tiềm năng
thế mạnh của đất nước trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt chú ý
phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng. Kết hợp phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác tạo điều kiện cho các
vùng đều phát triển, phát huy lợi thế mỗi vùng tránh chênh lệch quá
xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng. Để thực hiện những nhiệm
vụ đó cần vốn để đầu tư cho kế hoạch phát triển đề ra, đặc biệt là vốn
trung và dài hạn.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn mà mọi nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội được khơi dậy, đảm bảo phục vụ mục tiêu đầu tư phát
triển, tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Qua đó góp
phần quan trọng vào việc thực hành tiết kiệm, huy động cả nội lực và
ngoại lực để xây dựng đất nước theo hướng phát triển và hòa nhập
với nền kinh tế thế giới.
3. . Tín dụng đầu tư phát triển nâng cao hiệu quả sản xuất và khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế:
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều phải
chấp nhận cạnh tranh. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, các
doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và hiện đại hóa thiết bị-
công nghệ. Để làm được điều đó, cần có sự tư vấn và một lượng vốn
lớn, vốn tự có của doanh nghiệp không tự đáp ứng được và họ đã tìm
đến Ngân hàng để giải quyết khó khăn đó. Có thể nói rằng, đối với
hầu hết các doanh nghiệp, vốn của Ngân hàng là mộ trong những
nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng có thường là nguồn duy nhất cung
cấp tư vấn và bổ sung vốn, Ngân hàng có thể phát huy vai trò tư vấn

chiến lược và chính sách phát triển cũng như lựa chọn dự án phát
triển khả thi có hiệu quả hơn, tạo điều kiện khả năng cạnh tranh cao
hơn.
IV. Những vấn đề về rủi ro :
1. Đứng trên góc độ chủ đầu tư.
1.1. Khái niệm và phân loại rủi ro :
* Khái niệm :
Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến
trình hay từ một vài sự kiện.
Rủi ro gắn với khả năng xảy ra biến cố không lường trước , biến cố
mà ta haonf toàn không biết chắc.
Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế.
Một số quan niệm về rủi ro :
- Người ta có thể coi rủi ro chỉ lien quan đến các thiệt hại – rủi ro
không đối xứng ( ví dụ Pháp)
- Rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn – rủi ro đối xứng ( ví
dụ Mĩ )
* Phân loại rủi ro :
Có thể phân biệt Rủi ro theo các tiêu thức sau:
- Rủi ro tĩnh và rủi ro động.
- Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt
- Rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ. Rủi ro động và rủi ro tĩnh:
Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt
là trong nền kinh tế. Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có
lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất ( sự thay đổi về thị
hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang
kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp
20
với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi đó
có quá nhanh hay không? ...)

- Kiểm soát ngoại hối: hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh
hưởng đến hoạt động cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án
cũng như quyền lợi của các nhà đầu tư.
- Lãi suất : khi chính phủ đưa ra các chính sách lãi suất để kiểm
doát lạm phát có thể làm cho haotj động đầu tư tăng lên howacsj
giảm đi.
- Độc quyền: sự độc quyền kinh doanh của Nhà nước ở một số lĩnh
vực có thể làm hạn chế đầu tư cho các bộ phận khác trong xã hội và
thường dẫn đến sự kém hiệu quả của đầu tư.
- Môi trương, sức khỏe và an toàn: những quy định lien quan đến
kiểm soát chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng
có thể làm hạn chế nhiều dự án cũng như làm tăng chi phí của các dự
án
22
- Quốc hữu hóa.
* Rủi ro về xây dựng và hoàn thành công trình :
- Chi phí xây dựng vượt quá dự toán
- Công trình xây dựng không đảm bảo các yêu cầu của dự án
- Hoàn thành không đúng thời hạn
- Không giải tỏa được dân, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án
* Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh toán :
- Cầu không đủ : Q < Công suất của dự án
- Giá bán thấp
- ….
Dẫn tới không có khả năng trả nợ
* Rủi ro về cung cấp đầu vào :
Đầu vào của dự án : Nguyên vật liệu, vốn, lao động, máy móc thiết
bị …
- Không đảm bảo được các đầu vào quan trọng theo số lượng, giá
cả, chất lượng đã dự kiến gây khó khăn trong việc vận hành, thanh

Mua bảo hiểm đầu tư hoặc bảo hiểm xây dựng
Giai đoạn vận hành
Cung cấp các yếu tố đầu vào
Hợp đồng cung cấp dài hạn
Đưa ra các nguyên tắc về giá
Tiêu thụ sản phẩm
Hợp đồng bao tiêu sản phẩm
Nguyên tắc tiêu thụ sản phẩm
Tài chính ( thiếu vốn kinh doanh)
Cam kết bảo đảm nguồn vốn tín dụng

Trích đoạn Đứng trên góc độ Ngân hàng: Quá trình hình thành và phát triể n: Phòng Kế toán và Ngân quỹ: Phòng Kiểm tra nội bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status