Báo cáo " Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" potx - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
56
Tạp chí luật học số tháng 3/2003 Ths. Phan thanh Mai *
hông làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là
nguyên tắc đợc áp dụng trong việc bổ
sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm về hình sự. Theo quy định tại Điều 212
BLTTHS thì: "Trớc khi bắt đầu hoặc tại
phiên toà phúc thẩm, ngời kháng cáo hoặc
viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng
cáo, kháng nghị nhng không đợc làm xấu
hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc
toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Trong trờng
hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại
phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải đợc
đình chỉ".
Việc nghiên cứu về Điều 212 BLTTHS nói
chung cũng nh về nguyên tắc không làm xấu
hơn tình trạng của bị cáo nói riêng có ý nghĩa
quan trọng về lí luận cũng nh trong thực tiễn
xét xử. Giải quyết đợc tốt vấn đề này sẽ giúp
cho các chủ thể của quyền kháng cáo, kháng
nghị thực hiện tốt quyền của mình và tạo cơ sở

của bị cáo đợc hiểu là đa đến những bất lợi
cho bị cáo về mặt hình sự. Những sửa đổi nội
dung kháng nghị theo hớng tăng mức bồi
thờng không phải là làm xấu hơn tình trạng
của bị cáo.
(3)
Những quan điểm nói trên đều có những
điểm hợp lí, mặc dù vậy, theo chúng tôi, những
quan điểm này đều có những điểm cha thoả
đáng.
Quan điểm thứ nhất đa ra khái niệm về
làm xấu hơn tình trạng của bị cáo quá rộng. Bị
cáo là đối tợng bị buộc tội trong vụ án hình
sự, tình trạng của bị cáo có trở nên xấu hơn
hay không phải đợc xác định bởi mối quan hệ
của họ với các chế tài hình sự. Việc giải quyết
về bồi thờng thiệt hại trong trờng hợp không
K

* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003

57

ảnh hởng đến việc xem xét về trách nhiệm
hình sự đối với bị cáo chỉ đơn thuần là việc giải

trạng của bị cáo. Theo quan điểm này, việc giải
quyết bồi thờng trong vụ án hình sự thực chất
là giải quyết về dân sự, pháp luật cho phép có
thể giải quyết vấn đề này trong vụ án hình sự
hoặc có thể giải quyết riêng theo thủ tục tố
tụng dân sự (khoản 2 Điều 166 BLTTHS). Khi
vấn đề có thể giải quyết bằng cách này hay
cách khác thì các quan hệ pháp luật đối với vấn
đề đó và cách giải quyết nó phải nh nhau.
Trong tố tụng dân sự, việc sửa đổi kháng cáo,
kháng nghị đợc quy định bình đẳng cho các
bên đơng sự. Điều 60 Pháp lệnh thủ tục các
vụ án dân sự quy định: "Trớc hoặc trong
phiên toà phúc thẩm, ngời kháng cáo có
quyền sửa đổi nội dung đ kháng cáo hoặc rút
kháng cáo, viện kiểm sát có quyền sửa đổi nội
dung đ kháng nghị hoặc rút kháng nghị.
Theo chúng tôi, quan điểm này đ phân biệt rõ
hai loại quan hệ pháp luật hình sự với quan hệ
pháp luật dân sự là hai loại quan hệ khác nhau
và là đối tợng điều chỉnh của những ngành
luật khác nhau, việc giải quyết các quan hệ đó
cũng bằng những quy định khác nhau về hình
thức và khẳng định việc bổ sung, thay đổi
kháng cáo, kháng nghị theo hớng tăng mức
bồi thờng thiệt hại đối với bị cáo cần phải
đợc xem xét theo quy định tại Điều 60 Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Tuy vậy, việc tác giả khẳng định việc giải
quyết vấn đề bồi thờng thiệt hại thực chất là

này cũng không ảnh hởng đến việc xác định
trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Khác với những trờng hợp trên, trong rất
nhiều trờng hợp, mức bồi thờng thiệt hại lại
phụ thuộc vào mức độ thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra, do đó yêu cầu tăng mức bồi
thờng thiệt hại sẽ ảnh hởng đến việc xác
định trách nhiệm hình sự của bị cáo. Phải giải
quyết các trờng hợp khác nhau đó bằng
những thủ tục khác nhau, tuỳ thuộc vào việc
các vấn đề đó do quan hệ pháp luật nào điều
chỉnh.
Để xác định thế nào là làm xấu đi tình
trạng của bị cáo cần phải xuất phát từ mục
đích của nguyên tắc "không làm xấu đi tình
trạng của bị cáo". Khi kháng cáo, kháng nghị
bị thay đổi, bổ sung trớc hoặc tại phiên toà
xét xử phúc thẩm (sau khi thông báo kháng
cáo, kháng nghị) thì bị cáo cũng nh ngời bào
chữa của bị cáo sẽ bị động trớc những bổ
sung, thay đổi đó. Nếu việc bổ sung, thay đổi
kháng cáo, kháng nghị theo hớng làm xấu đi
tình trạng của bị cáo sẽ làm cho bị cáo và
ngời bào chữa không có điều kiện để chuẩn bị
và thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên toà.
Luật tố tụng hình sự quy định việc bổ sung,
thay đổi kháng cáo, kháng nghị trớc hoặc tại
phiên toà xét xử không đợc làm xấu đi tình
trạng của bị cáo chính là nhằm đảm bảo quyền
bào chữa của bị cáo mà quyền bào chữa chỉ

kháng cáo, kháng nghị, toà án mới tiến hành
thông báo kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy, việc
thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị trong
thời hạn luật định không ảnh hởng đến quyền
bào chữa của bị cáo đồng thời đảm bảo quyền
kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể.
Điều 212 BLTTHS không quy định việc rút
kháng cáo, kháng nghị phải theo nguyên tắc
không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nhng
cũng có đề xuất cho rằng việc rút một phần
kháng cáo, kháng nghị cũng phải theo nguyên
tắc này, không đợc rút những phần kháng
cáo, kháng nghị có lợi cho bị cáo vì điều đó
cũng có thể bất lợi đối với bị cáo,
(4)
chúng tôi
cho rằng đề xuất này không cần thiết vì những
lí do sau đây: nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003

59

- Tình trạng của bị cáo có xấu đi hay
không là phải so sánh với các quyết định trong
bản án của toà án cấp sơ thẩm, những phần
kháng cáo, kháng nghị đ đợc rút sẽ nằm
ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm. Toà án cấp

- TANDTC - 1990, tr.138.
(3).Xem: Lu Tiến Dũng - Xung quanh vấn đề sửa
đổi nội dung kháng nghị, rút kháng nghị. Tạp chí toà
án số 7/1992.
(4).Xem: Đặng Văn Dùng - Về Điều 212 BLTTHS.
Tạp chí toà án số 4/2000.
(5).Xem: Quách Thành Vinh - Một số vấn đề liên
quan đến làm xấu đi tình trạng của bị cáo khi xét xử
phúc thẩm. Tạp chí toà án số 12/1999.
Nghĩa vụ cấp dỡng

(Tiếp theo trang 41)
Khi li hôn, bên kia yêu cầu đợc cấp dỡng thì
có coi là họ có khả năng để thực hiện nghĩa vụ
cấp dỡng hay không? Rõ ràng là không thể
không coi là họ có khả năng để cấp dỡng
nhng nếu nh vậy thì hoàn toàn không phù
hợp với thực tế và rất khó chấp nhận. Ngời ta
chỉ có thể chấp nhận bán dần nhà ở hoặc
chuyển quyền sử dụng đất canh tác để lấy tiền
chăm sóc, nuôi dỡng hoặc cấp dỡng cho
cha, mẹ, con hoặc cho vợ (chồng) khi vợ
chồng đang tồn tại hôn nhân mà khó có thể
chấp nhận bán dần nhà ở hoặc chuyển quyền
sử dụng đất canh tác để lấy tiền cấp dỡng cho
vợ hoặc chồng đ li hôn. Hơn nữa, khi một
ngời không có thu nhập thờng xuyên mà
cuộc sống chỉ nhờ vào khối tài sản sẵn có thì
cuộc sống lâu dài của họ cũng khó có thể đợc
bảo đảm. Tục ngữ có câu "miệng ăn, núi lở",


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status