ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUÓC GIA
MẢ SỎ 08.03
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHÓNG TỘI PHẠM
BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chú trì: TS.LS. Chu Thị Trang Vân
GVKN Bộ môn Tư pháp hình sự - Khoa Luật - ĐI 1QG I IN
(Liên đoàn Luật sư Việt Nam).
ĐA! HOC QUỞC GIA HÀ NỘI
Tí?!UNG TẤM thòng tin ĩ Hư viện
OũOt ocooc
ờị
Ilà Nội - Tháníỉ 1 1/2010
MỤC LỤC
STT Nội dung
Phụ lục
Báo cáo tống quan Đe tài
Chưong 1 Khái quát chung về tội buôn bán phụ nữ, trẻ em
1.1. Khái niệm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em
1.2. Sơ lược lịch sử phát triên của pháp luật hình sự vê
tội buôn bán phụ nữ, trẻ em
1.3. Phân biệt tội buôn bán phụ nữ, trẻ em với một sô
tội phạm khác có liên quan
1.4. Nghiên cứu tội buôn bán phụ nữ, trẻ em trong pháp
luật hình sự một sô nước
Chương 2 Thục trạng tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em
thòi gian vừa qua và công tác phát hiện, xú lý.
2.1. Thực trạng công tác phát hiện, xử lý tội phạm buôn
bán phụ nữ, trẻ em thời gian qua
KHOA HỌC CÁP ĐẠI HỌC QƯỎC GIA GIAO VÈ KHOA LUẬT
MÃ SỐ QL.08.03
***
“Đâu tranh phòng chông tội phạm buôn bản phụ nữ, trẻ em
trong giai đoạn hiện nay ”
Chủ trì:
Ts.Chu Thị Trang Vân, Giảng viên lciêm nhiệm,
Bộ môn tư pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học quôc gia Hà Nội.
(Luật sư - Liên đoàn luật sư Việt Nam)
Danh sách tâp thê tham gia nghicn cửu
1. Ths.NCS. Nguyền Thị Lan - Bộ môn Tư pháp hình sự - Khoa Luật -
Đại học quôc gia Hà Nội (Thành viên);
2. Ths.NCS. Trân Thị Lâm Thi - Khoa pháp luật - Học viên an ninh nhàn
dân (Thành viên);
3. Ths. Nguyền Văn Khánh - Chuyên viên Vụ Pháp chế - Bộ Công an
(Thành viên).
4. Sinh vicn Trân Thanh Ngọc. Lóp K49A - Khoa Luật - Đại học quốc gia
Hà Nội.
5. Học viên Nguyễn Thị Hạ - Học viên cao học khoá XIV - Khoa Luật -
Đại học quôc gia Hà Nội.
ĐẺ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẮP ĐHQG ỌL.08.03
1. S ự CẢN THIÉT CỦA VIỆC THựC HIỆN ĐÈ TÀI
Buôn bán phụ nữ và trẻ em (BBPNTE) là một loại tội phạm nguy
hiêm xâm hại trực tiêp danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ, tính mạng của phụ nừ
và trẻ em; ánh hưởng đến hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội,
an ninh biên giới. Hơn the nữa, BBPNTE không những vi phạm thô bạo đên
quyên con người mà còn làm tăng đáng kể nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã
hội, điên hình nhất là căn bệnh HIV/AIDS trong cộng đông, làm mât đi nguôn
nhân lực lao động, gảy thiệt hại vê kinh tẻ cho gia đình và xã hội.
Hiện nay, nạn BBPNTE không còn là vân đè mới mà đã nôi lên thành
thường sông ớ vùng nông thôn, miền núi, trình độ văn hoá thâp, nhận thức xã
hội hạn chê, thiêu hiêu bict, cả tin, không có việc làm ôn định, điêu kiện kinh
tê khó khăn hoặc do bị tôn thương, đô vỡ trong hôn nhân, hoàn cành gia đình
co le, trắc trở, muôn có nhiêu tiền, không có việc làm. Tre cm bị buôn bán
thường là trẻ em lang thang, thiêu sự quan tâm, giáo dục, quản lý của gia đình
hoặc bị bò rơi, bị băt cóc, dụ dỗ lừa đảo đem đi bán. Thời gian gần đây, tình
hình mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và tiếp
tục có xu hướng gia tăng. Đứng trước tình hình đó, Nhà nước ta đã thề hiện
quyêt tâm trong việc phòng, chông tệ nạn này và từng bước đây lùi loại tội
phạ nguy hại này ra khỏi đời sông xã hội. Ngày 14 tháng 7 năm 2004 bằng
Quyết định 130/2004/ỌĐ-TTG, Thủ tướng Chính phủ đă phê duyệt Chương
trình hành động phòng, chông tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004
đến năm 2010 (Chương trình 130). Theo thông kê, trong 05 năm thực hiện
Chương trình 130, ca nước xảy ra 1.586 vụ, 2.888 đối tượng, lừa bán 4.008
nạn nhân. Trong đó, sỏ vụ mua bán phụ nừ là 1.218 vụ với 2.310 đối tượng
3.019 nạn nhân; sô vụ mua bán tre em là 191 vụ với 268 đối tượng, 491 nạn
nhân; sô vụ mua bán cà phụ nừ, trẻ em là 177 vụ với 310 đối tượng, 498 nạn
nhân. So với 05 năm trước, tăng 1.090 vụ. 2.1 17 đối tượng và 2.935 nạn nhân
trong đó, trên 60°b tông sô vụ mua ban satm Tru nu Quốc, 1 1° 0 tốnu số vụ hán
sang Campuchia, sô còn lại mua bán saim Lao. qua tuyến hàníỉ không tuyến
3
ĐẺ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA IIỌC CẤP DIỈQG QL.08.03
____________________________________
biên đê bán ra một số nước khác. Các địa phương xày ra nhiêu vụ mua bán
người là: Hà Giang (134 vụ); Lào Cai (105 vụ); Lạng Son (95 vụ); Quàng
Ninh (73 vụ), Hà Nội (66 vụ); Nghệ An (66 vụ); Lai Châu (56 vụ); Bắc Giang
(44 vụ)2
Với những lý do có tính thời sự đó mà chúng tôi đê xuât nghiên cửu
đê tài “Đâu tranh phòng, chông tội mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai
đoạn hiện nay ” với mục đích nhàm phân tích nhũng quy định của pháp luật
nói chung và toàn xã hội Việt Nam nói riêng. Trước tình hình này. có rât
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những bài tạp chí, những câu chuyện
đau lòng về những người là nạn nhân của các vụ BBPNTE và những kẻ bât
nhân đã đang tâm trao đôi mua bán họ như một món hàng, được đăncr trên các
báo: “Công an nhân dân”, “Công an thành phô Hô Chí Minh", “Phụ nừ",
“Pháp luật", các tạp chí Toà án, tạp chí Luật học Đã có những công trình
nghiên cửu có tính chuyên sâu như Luận văn thạc sỳ luật học cua tác giá
Hoàng Hương Thuv (Cao học Khoa Luật, bao vệ năm 2006) hoặc một số bài
viết có tính đơn lẻ trên các tạp chí khoa học như bài “Luật hình sự Việt Nam
nhìn từ góc độ tiếp cận vê giói” của tác giả Nsuyền Tuyêt Mai, đăng trên Tạp
chí Luật học sô 3/2007 trang 44; bài “Nội dung pháp lý hình sự trong công
ước cùa Liên Hiệp Quôc vê chông tội phạm có tô chức xuyên quôc gia”(Tạp
chí Toà án nhân dân sô 7 tháng 4 năm 2006); bài “Bình đăng giới, sự tiến bộ
cùa phụ nừ qua các bán Hiên Pháp” của tác mà Nguyễn Văn Huê đăng trên
Tạp chí Dân chù và pháp luật tháng 3/2006. Cuốn sách “Phòng chống các loại
tội phạm ờ Việt Nam troniz thời kỳ đôi mới” cua tác íiiã Nguyễn Xuân Yêm
dã giành ricng một chương XXIV đê vict vê pliòrm chôm? các tội phạm buôn
bán phụ mì, tre em và trc cm" {Xem Danh mục tài liệu tham khao). Ọua dó
cho thây vàn dè này đang dược toàn xã hội quan tâm sâu sắc. Mồi công trình
5
DẺ TẢI NGHIÊN CỬU KHOA nọc CẤP DHQG ỌL 08 03
____________________________________
khoa học đê cập đên ờ một khía cạnh khác nhau của vân nạn BBPNTE. Trên
cơ sở nghiên cứu, kế thừa và tiếp thu nhừns kêt quà nghiên cứu đó chúng tôi
đã tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này với cách tiêp cận riêng của mình.
3. KÉT QUẢ THựC HIỆN ĐÈ TÀI
3.1. Mục tiêu của đề tài
Đê tài tập trung vào các mục tiêu sau:
- Quy định của pháp luật hình sự của Việt Nam vê tội BBPNTE: Đặc
điêin, dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đưÒTi2 lôi xừ lý.
qua và công tác phát hiện, xử lý.
Chương 3 : Một sô giải pháp nâng cao đâu tranh phòng chông tội
phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong thời gian tới
3.5. Các chuyên đê nghiên cúu của đê tài
1. Dảu hiệu pháp lý của tội phạm BBPNTE theo quy định của BLHS
năm 1999.
2. Lịch sừ pháp luật hình sự vê tội phạm BBPNTE.
3. Nghiên cún so sánh với pháp luật hình sự của một sô nước vê loại
tội phạm này.
4. Tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, tre em thời gian qua
5. Nguyên nhân và điêu kiện phạm tội buôn bán phụ nữ, tré em
6. Các biện pháp đâu tranh phòng chông tội phạm buôn bán phụ nữ,
tre cm troim giai đoạn tói.
3.6. Kêt quá khoa học
a. Sảĩĩ p lĩ a 111 khoa lĩ ọc
~Ị
I
ĐẺ TÀI NGHIÊN CỬU KHOA HỌC CẤP ĐHQG QL.08.03
+ Công bố 2 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành/hoặc tham gia Hội
thảo với chủ đề tương ứng; Đê xuât 01 cuôn sách chuyên khảo vê Chủ đê
nghiên cứu.
+ 01 Báo cáo kết quá nghiên cứu (gôm 130 trang).
b. Sản phẩm đào tạo
Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ là tài liệu nghiên cún, giảng dạy các
môn học Luật hình sự, Tội phạm học, Xã hội học pháp luật cho sinh viên, học
viên cao học, nghiên cún sinh và các cán bộ chuyên ngành luật.
+ Số cử nhân được đào tạo trong khuôn khô của đê tài: 01
3.7. Nội dung và tiến độ thực hiện của đê tài
STT
Hoạt động nghiên cứu Thòi gian Kết quả
Nghiệm thu dê tài
2 thán2
Toàn văn Đẻ tài
K
DẺ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP DHQG QL.08.03
____________________________________
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHƯNG VÈ TỘI BUỒN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM
1.1. KHÁI NIỆM TỘI BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM
1.1.1. Định nghĩa
Tội BBPNTE là một trong những loại tội phạm gây nguy hiểm cho xã
hội, mang đây đù những đặc điêm chung nhât của tội phạm, được quy định tại
Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 1999 của Nước CHXNCN Việt Nam 3 (BLHS
1999): “7ợz phạm là hành vi nguy hi êm cho xã hội được quv định trong bộ
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một các cô V
hoặc vỏ V xâm phạm độc lập, chủ quyên, thông nhảt toàn vẹn lãnh thô tô
quôc, xâm phạm chề độ chính trị, chê độ kinh tẻ, nên văn hoá, quôc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xả hội, quyên, lọi ích hợp pháp cùa tô chức, xâm phạm
tỉnh mạng, danh dự, nhản phàm, tự do, tài sán, các quyên, lợi ích họp pháp
khác cùa công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pỉĩáp luật cua
xã hội chù nghĩa'.
Trong thực tiễn, tội BBPNTE được biết đến với một tên rộng hơn là
tội buôn bán người. BLHS 1999 mới chi có định nghĩa vê tội phạm chung và
gân đây trong Luật sửa đôi, bô sung là khái niệm tội buôn bán người nhưng
chưa có định nghĩa thê nào là buôn bán phụ nữ, buôn bán tre em (?). Tuy
nhicn, một sô nghiên cứu cũng đã có định nghĩa về vấn đề này như sau:
“Buôn bán phụ nừ. trẻ em là bất kỳ một hành độns hoặc sự giao dịch nào mà
qua đó người phụ nừ, trẻ em bị chuyên giao từ bất kỳ một người hay một
nhóm người khác đê nhận tiên hay bất kỳ hình thức thanh toán nào khác” 4
hoặc mua bán phụ nừ là nhũng hành VI “dùníí tiên hoặc phươnc tiện thanh
c) Đôi vứi nhiêu người;
' Lê Văn Cam (2003). G iá o trìn h Ị.iicii hình s ụ Viẻt Num (P hà n cát lõ i phalli). NXB DI 1ỌGIIX. Ha NÔI
" Đièu 3 cua Nghị định thư vè ngăn ngừa phone chons và trivnư trị việt mua ban nụưòi.
10
ĐẺ TÀI NGHIÊN CỬU KHOA HỌC CÁP ĐHQG QL.08.Cl3
_____________________________________
g) Phạm tội nhiều lần.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đông đên năm mươi triệu
đồng, phạt quàn chế hoặc cấm cư trú từ một năm đên năm năm.”
Điều 120. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bât kỳ hình thức
nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thi bị phạt tù từ mười năm
đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nehiệp;
c) Vì động cơ đê hèn;
d) Đổi với nhiêu trẻ em;
đ) Đe lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
e) Đê đưa ra nước ngoài;
g) Đê sừ dụng vào mục đích vô nhân đạo;
h) Để sừ dụng vào mục đích mại dâm;
i) Tái phạm nguy hiểm;
k) Gây hậu quả nghiêm trọng.”
Qua nghiên cún một sô khái niệm trên, lcêt hợp với pháp luật thực
định Việt Nam thì chúng tôi đưa ra định nghĩa về Tội BBPNTE như sau: "Tội
buôn bán phụ nữ, trẻ em là hành vi nguy hiềm cho xã hội được quy dinh trong
Bộ luật hình sự, do người có đù nàng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cô ý, xâm hại đêìi quyên bât khả xâm phạm của phụ nữ, trẻ em về sức
kỉìoẻ, tỉnh mạng và danh dự, nhân phâm ”.
tụ hiẽm có trên thỏ giới dà dành mối quan tâm dặc biệt, sâu sẳc và cụ thê dê
các cháu nhi đông. Người luôn dành cho tre em một tinh yêu thương vô bờ
12
ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CÁP ĐHQG ỌL.08.03
bến, điều này được cà dân tộc Việt Nam và nhiêu dân tộc khác trên thê giói
thừa nhận. Trẻ em là những thực thê xã hội còn yêu ót vê mặt thê chât và chưa
hoàn thiện về mặt tinh thần, rất cần sự quan tâm chăm sóc, giáo dục của toàn
xã hội. Với cương vị là lãnh tụ của đất nước, Hồ Chí Minh đi tiên phong trong
việc quan tâm chăm sóc tới trẻ em. Chăm lo cho trẻ em chính là chăm lo cho
nguồn lực tiêp tục sự nghiệp cách mạng mà các the hệ cha anh đã băt đâu.
Trên phương diện lý luận, khách thề của tội phạm BBPNTE là quyền
bât khả xâm phạm vê thân thề, danh dự, nhân phàm, quyên tự do của con
người (ờ đây là người phụ nữ và trẻ em) được Hiên pháp và pháp luật quy
định. Tại Điêu 71 Hiên pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyên hát kha
xâm phạm vê thân th ề ”, Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: ngăn
cấm mọi hành vi xâm hại phụ nừ và trẻ cm Bên cạnh đỏ, tội phạm
BBPNTE còn xâm hại nghiêm trọng đên trật tự, an toàn xã hội, gây hoang
mang trong nhân dân, phá vỡ hạnh phúc của nhiêu gia đình nên tàng, tê bào
cùa xã hội, đông thời xâin phạm clcn chính sách đôi nội, đôi ngoại cua Đảng
và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Như vậy, quyên cua phụ nừ, tre cm là những vắn đề cơ bán, quan
trọng, bảo vệ các quyên này là câp bách được cà cộng đôns quan tâm sâu sac.
Mặt khác đây cũng lại là đôi tượng tác động cua tội phạm BBPNTE và cần
được pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng bào vệ. Thời gian gần
đây ngày càng xuât hiện nhiêu những ke bât chấp đạo đức, pháp luật dùng
nhừng thủ đoạn xảo quyệt đê lừa nhừng người phụ nìr cả tin, lừa những em bé
ngây thơ, khờ dại đê đem họ ra trao đôi mua bán như những món đồ vật. Bỏi
vậy, việc bao vệ quyên cua phụ nữ, tre em không chi dừng lại ờ những tuyên
bô trong các văn ban pháp luật khác mà còn là những chế tài nghiêm khắc
được quy định troniỉ BLỈỈS 1999.
Nglụ dị nil tlnr vê chòng dưa ngưài di cư hut hợp pháp và Nghị định (lur về chống mua bán bất hợp pháp vũ
khi, ilạn dược. Dày la những co so pháp lv cho các quóc ma tron” việc phòim và chốnụ tội phạm có tố chúc
xuyên quỏc gia. Việt Nam đã ky Còng ƯỚC roc tư tháng 12/2000 va việc nghiên cứu đẻ xuất phê chuân
Công ước. cũng như tham gia Ngliị định thư bô sunt’ vê chông buôn hán nuười đã đưực tiên hành ngay từ
năm 2001.
s Báo cáo sổ 135 BC-RTP ngay 12 tháng 7 năm 2010 vè Tông hạp va tiếp (hu y kiến các Bó. naãnh vẽ Du
tháo Luật Phònti, chỏniỉ mua bán người.
14
ĐẺ TẢI NGHIÊN CỬU KHOA HỌC CẮP ĐHQG QL.08.03_________________________________________________
thuật ngữ được chính thức sử dụng sao cho vừa phù họp với những đạo luật
khác của quốc gia và vừa phù hợp với tinh thân của pháp luật quôc tê. Chính
vì vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, có lúc chúng tôi sử dụng thuật
ngừ “mua bán”, lúc khác lại dùng “buôn bán”, nhưng điêu đó không làm ảnh
hưởng đến nội hàm của khái niệm “mua bán phụ nữ, trẻ em” hay “buôn bán
phụ nừ, trẻ em”. Nói cách khác, bản chât của hành vi khách quan không hê bị
thay đồi bởi việc dùng từ “mua bán” hay “buôn bán”.
Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan cùa tội BBPNTE bao gôm:
- Hành vi nguy hiềm cho xã hỏi: Trong quy định của pháp luật thực
định, dâu hiệu hành vi khách quan của tội phạm BBPNTE chỉ được quy định
bằng cụm từ “mua bán“. Tuy nhiên, thực tiễn đâu tranh, phòng chông cho
thấy đây là hành vi dùng tiên hoặc phương tiện thanh toán khác như vàng,
ngoại tệ, tài sản hoặc những lợi ích vật chất khác hoặc có thể là bất cứ hình
thức nào khác nữa đê mua, bán, trao đôi phụ nữ và trẻ em như một thứ hàng
hoá. Khi việc mua bán xảy ra, nạn nhân có thê biết hoặc không biết mình là
đôi tượng bị mua bán, họ có thê không đông tình nhưng cũng có thê đông tình
với việc mua bán ban thân mình. KMng định răng hành vi khách quan của tội
BBPNTE là hành vi mua bán dưới bât kỳ hình thức nào.
Trên tinh thân lĩnh hội những giá trị tôt đẹp của pháp luật quốc té và
xu hướng xây dựng Luật phòng chống mua, bán người ờ Việt Nam hiện nay,
chúng tôi đông ý quan điêm giải thích hành vi mua bán người (trong dó có
quá khứ, có thê dân đên sự bât mãn hoặc thái độ tiêu cực đối với xã hội, bị
người thân ghe lạnh, cộng đông dị nghị và xa lánh Tóm lại, vấn đề tái hoà
nhập xà hội, ticp tục dói diện với xã hội đê sống tiếp đối với họ quả thật là
khó khăn. Hậu qua này không làm thế nào khẳc phục hoặc bù đáp cho du
được. Đôi với nạn nhân ỉà tre em hậu quả vê thê chất sẽ cànc nặnẹ nề hơn với
16
ĐÈ TẢI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CÁP ĐHQG QL.08.03
tác dộng đến quá trình đang trưởng thành của đứa trẻ mà hậu quà của nó có
thê kéo dài mãi trong suôt cuộc đời sau này của đứa trẻ.
Bên cạnh đó, dưới khía cạnh chính trị - xã hội, hành vi BBPNTE còn
đề lại hậu qua khá nặng nề cho toàn thề xã hội. vấn đề tái hoà nhập xã hội cua
nạn nhân khi được giải thoát có thê trở thành gánh nặng cho xã hội. Giả sử
một phần trong số họ không thê quay trờ lại với cuộc sông lương thiện trước
đây - nguyên nhân có thê từ phía xã hội không tạo điêu kiện cho họ, nhưng
cũng có thề xuất phát từ chính thái độ tiêu cực, bât cân vì không còn gì đê mât
của họ - thi họ sẽ rất dễ có những hành vi lệch chuân. Từ đó dẫn đên vi phạm
pháp luật thật chẳng bao xa. Thêm nừa, những người khi trờ vê với xã hội
không còn khoẻ mạnh rõ ràng tạo thành sự lo lăng cho gia đình và xã hội. Đặc
biệt là với những trường họp nạn nhân đã mang trone người những căn bệnh
truyền nhiễm mà không có ý thức kiểm soát tỏt. Đây là một thực tẻ đau lòng
tạo thành sự mâu thuân vòng quanh giữa việc tạo diêu kiện cho các nạn nhân
tái hoà nhập cộng đône và việc giải quyêt những nguy cơ hay những hệ luỵ
liên quan mà xã hội phai gánh chịu.
Nghiêm trọng hơn nữa khi mà hậu quà cua hành vi BBPNTE còn ảnh
hường tói sự vừng mạnh của chê độ xã hội, của Nhà nước và an ninh quốc
gia. Mặc dù không trục tiêp xâm phạm đên an ninh quốc gia nhưng tội phạm
này thường được thực hiện dưới dạng có tô chức, câu kết chặt chẽ, eây rối
ren, nhức nhôi trong xã hội. Từ việc phát sinh những tệ nạn xã hội, làm suy
đôi đạo đức, dân đên nhừng thái độ căm phân trong xã hội, làm tiềm ẩn những
nguy cơ các phân tử xâu lợi dụng đê tuvên truvên, nói xấu, xuyên tạc sự thật
phai trở thành một đứa trẻ ăn xin tàn tật, khô sờ. Bản thân em bẻ thì bị tồn hại
về sức khoe, bị bóc lột sức lao động, hệ luy kẻo theo là nỗi đau mất con. mất
em, mất cháu của những người ruột thịt của em. Nguyên nhân dẫn đến bi kịch
ây không gì khác mà chính là hành vi buôn bán trò em của những kẻ vô lương
tâm đan? rát càn phải bị ngăn chặn và phải bị pháp luật răn đe nghiêm khấc.
- Thời diêm hoàn thành cua tội phạm chính là lúc hành vi phạm tội đà
thoa màn hêt các dàu hiệu được mô ta trorm cấu thành tội phạm. Theo đó, tội
phạm BBPNTE hoàn thành khi chu thề đà thực hiện xon2 bất ky hành vi nao
sau dày: môi giới, chuyên giao, tiẻp nhận, vặn chuyền, chứa chấp imười nhằm
IX
ĐẺ TẢI NGHIÊN CỬU KHOA HỌC CẤP ĐHQG QL.08.03_________________________________________________
mục đích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, cưởng bức lao động, lây các
bộ phận cơ thê hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
- Những dấu hiêu khác của mát khách quan: về mặt lý luận, ngoài dâu
hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi nguy hiêm đó gây
ra, các dấu hiệu khách quan khác của tội phạm gôm hoàn cảnh, thời gian,
không gian, địa điềm, phương tiện, phương pháp, thu đoạn phạm tội Những
dấu hiệu này không mang tính băt buộc trong định tội danh nhưng có ý nghĩa
quan trọng trong lượng hình, quyêt định hình thức trách nhiệm.
+ về phương pháp, thủ đoạn phạm tội (cách thức thực hiện hành vi
phạm tội) thì ở tội BBPNTE, phương pháp phạm tội có thê là bât cứ thủ đoạn
nào. Tuy nhiên, thu đoạn thường được áp dụng chính là lừa gạt, tạo lòng tin
đôi với nạn nhân đô lừa bán họ sang nước ngoài, thủ đoạn đặt quan hệ yêu
đương với nạn nhân đê gây dựng lòng tin, thủ đoạn phình nịnh và hứa hẹn
những công việc được trả thù lao hậu hĩnh.
+ Vê địa điêm phạm tội BBPNTE thi có thê ơ cả tron" nước và ngoài
nước. Nhưng chủ yêu tội phạm được thực hiện ở những vùng biên giới, vùng
nông thôn và miên núi. Những khu vực nàv có địa diêm dề thực hiện tạo diều
kiện thuận lợi cho những kè buôn bán phụ nừ, tre em lợi dụng để luân chuyên
các nạn nhân. Đông thời đây cũng là nhữns, nơi mà người dân có mức thu
phận cơ thê hoặc nói chung là mục đích vô nhân dạo là dấu hiệu bất buộc để
khăng định đó là hành vi mua bán người (trong đó bao gồm múa bán phụ nữ
trỏ em). Chúng tỏi cho răng việc quy định là bắt buộc đối với dấu hiệu mục
đích vô nhân đạo là hợp lý, nếu cơ quan có thâm quyền ban hành văn bán
hướng dẫn áp dụng Điều 119, 120 Bộ luật hình sự thì củng nên hướng dẫn
theo quan điêm này. Sờ dĩ cân phải khăng định mục đích vô nhân đạo là bắt
buộc là bởi vì có những hành vi tương tự như hành vi mua bán người nhưnơ
lại rât nhân đạo và đáng dược khích lộ. Ví dụ, một nhà báo hoặc bất kỳ một
9 Kèm (heo Tờ trình sỏ 92 TTi-CP ngày 9 tháng 8 năm 2010 cua Chinh phu (linh UBTVỌII klioá XII. kv họp
tháng 11/2010 vê dự án Luật Phòng, chòng mua bán ngưỏi.
20
ĐẺ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP ĐHỌG QL.08.03
người có tấm lòng nhân hậu nào đó, nghe được tâm sự của một cô gái làng
chơi bị lừa bán thân và động lòng trắc ẩn nên đã bò tiên ra trà cho chu cua cô
gái này để mua cô về nhằm giải thoát cho cô khoi sự quản thúc và áp bức dã
man của bọn ma cô và chủ chứa. Sau khi thực hiện xong việc trao đôi mua
bán, người này đã trả tự do cho cô gái, bào cô về quê làm ăn lương thiện.
Hoặc cũng tương tự như vậy, nêu một người xót xa một đứa trẻ bị chủ một
nhà hàng ăn uống bóc lột sức lao động nên đã bò tiên ra mua nó vê, nuôi ăn
học và còn tìm lại bố mẹ đò cho nó thì neười này lại chính là ân nhân của đứa
bé. Xét về mặt hình thức, những hành vi nói trên không khác gì hành vi mua
bán phụ nữ, chi khác nhau vê mục đích mua bán. Ban chât cua nhừng hành
này chính là việc làm từ thiện - những điều mà xã hội hiện đại và tiên bộ đang
cố gắng phát huy và kêu gọi mọi người cùng làm. Đê phân biệt hành vi mua
bán phụ nữ, tré em vì mục đích từ thiện với tội phạm mua bán phụ nừ, tre em,
chắc chắn cần thiết phải quy định răng đôi với tội phạm mua bán phụ nừ, trẻ
em thì hành vi mua bán không thê tách rời mục đích vô nhân đạo.
d. Chu thê tội phạm
Chu thê cúa tội phạm này là bât kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuôi chịu trách nhiệm hình sự cụ thê là người từ đu 14 tuôi trở lên, có
biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nêu chưa hét thời hiệu
truy cửu TNHS hoặc chưa được xoá án tích; Người phạm tội đêu lấy các lần
phạm tội làm nghê sinh sông và lây kêt qua của việc phạm tội làm nguồn sống
chính"
+ Đẻ lây bộ phận cơ thê cua nạn nhân: ngày nay, với sự tiên bộ của y
học, con nmrời có thè cày ghép mô, thay thê các bộ phận cua cơ thể bị bệnh
bàng các bộ phận cua cơ thê khoe mạnh la có thẻ chữa khỏi được một số căn
bệnh hièm imhco. Dày chính là lý do dan đcn việc một người có the bị mua đi
10 Điếm 5. Nghị quyết 01 2006 NỌ-IIĐTP ngày 12-05-2006 cua HỎI dõnu Thâm phán TANDTC huũn<> đần
áp dụns một sỏ quy đinh cua Bộ luật hình sư
DẺ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẮP ĐHQG QL.Ũ8.03_________________________________________________
bán lại và rồi bị chiếm đoạt bộ phận nào đó trên CO' thê mình. Cùng chính nhờ
sự phát triền của y khoa mà nhiều người nảy sinh ý định thực hiện hành vi
phạm tội đề cứu sống người thân của mình. Khi nhu câu này xuât hiện thì
cũng chính là yếu tố kích hoạt cả chuỗi hành vi buôn bán người đề lấy nội
tạng.
+ Đê đưa ra nước ngoài', là việc buôn bán phụ nừ đê đưa ra khỏi biên
giới Việt Nam, không phụ thuộc vào việc người phụ nừ bị bán sè có cuộc
sông tôt hơn hay xâu đi.
+ Đôi với nhiều người: là việc mua bán từ hai người phụ nữ trở lên.
+ Phạm tội nhiêu ỉân: là việc mua bán từ hai lân trở lên mà các lân đó
đều chưa bị phát hiện, xử lý lân nào.
b. Đôi với đôi tượng (nạn nhân) là trẻ em có hai khung hình phạt:
- Khung cơ ban có mức phạt tù từ 3 năm đen 10 năm. Đây là khung
hình phạt cơ bản áp dụng trong trường họp không có tình tiêt tăng nặng kèm
theo.
- Trường họp đôi tượng bị buôn bán là tré em thì khung tăng nặng sẽ
là phạt tù từ 10 năm đên 20 năm hoặc tù chung thân. Khung này được áp dụng
cho trường họp có một trong những tình tiêt tăng nặng sau:
+ Vì mục đích mại dâm: Buôn bán trẻ em vì mục đích mại dâm là