Đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 31

1

Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung đông dân cư, là trung tâm văn
hoá, kinh tế lớn của cả nước, là nơi giao lưu của nhiều đoàn khách quốc tế,
ngoại giao, du lịch, do đó cũng là nơi bọn tội phạm tập trung gây ra nhiều vụ
án xâm phạm tài sản công dân và người nước ngoài. Trong đó, đặc biệt nổi
lên là tội phạm cướp giật tài sản. Có nhiều thời điểm quần chúng nhân dân
hoang mang lo lắng, bởi bị cướp giật tài sản trên đường phố là một trong
những hiểm hoạ khôn lường mà bất kỳ người dân nào cũng lo sợ, vì bên cạnh
việc bị giật mất tài sản thì tai nạn kèm theo như thương tích, thương tật, thậm
chí tử vong... là điều khó tránh khỏi.
Theo báo cáo tổng kết trong 5 năm của Công an Thành phố Hồ Chí
Minh, thì toàn thành phố xảy ra 7639 vụ cướp giật tài sản công dân, chiếm tỉ
lệ 20,28% trong tổng số vụ phạm pháp hình sự xảy ra trên toàn thành phố
(toàn thành phố xảy ra 37.658 vụ phạm pháp hình sự), gấp hơn 4 lần so với số
vụ cướp tài sản (295 vụ) và gấp hơn 36 lần so với số vụ cưỡng đoạt tài sản
(33vụ). Riêng năm 2004 số vụ cướp giật tài sản công dân xảy ra giảm 7,5% so
với năm 2003 (1307 vụ), nhưng số vụ xảy ra còn rất cao. Năm 2005 xảy ra
1372 vụ cướp giật, tỉ lệ tăng so với năm 2004 là 13,48%. Tuy nhiên, những
con số nói trên chỉ mới là số vụ cướp giật tài sản mà nạn nhân trình báo với
cơ quan chức năng, thực tế số vụ cướp giật tài sản mà nạn nhân không khai
báo còn lớn hơn rất nhiều.
Thời gian gần đây, bọn tội phạm cướp giật tài sản hoạt động với tính
chất ngày càng manh động, tinh vi, quyết liệt, táo bạo hơn, chúng thường hoạt
động có băng nhóm, có tổ chức. Có những vụ chúng giật không được tài sản
chúng còn sử dụng cả vũ khí, hung khí tấn công lại cả lực lượng công an và
những người tham gia truy bắt.

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử

nhân dân; Luận văn thạc sỹ “Sử dụng đặc tình hình sự trong điều tra khám

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


3

phá các vụ án cướp giật tài sản của lực lượng cảnh sát hình sự Công an
thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Công Tâm; Khoá luận tốt nghiệp Đại
học Cảnh sát “Điều tra các vụ án cướp giật tài sản công dân do cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành, thực
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra phòng ngừa” của Vũ Quốc
Công; Khoá luận tốt nghiệp Đại học Cảnh sát “Thực trạng các vụ án cướp
giật tài sản của công dân có đồng phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
và những giải pháp điều tra phòng ngừa” của Nguyễn Đông Triều...Các đề
tài, chuyên đề nêu trên mới chỉ tập trung ở một số khía cạnh của đối tượng
nghiên cứu mà chưa đưa ra đầy đủ, toàn diện về đấu tranh phòng chống tội
phạm này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được mục tiêu sau đây:
- Đánh giá đúng thực trạng tội phạm cướp giật tài sản và kết quả đấu
tranh phòng chống đối với tội phạm này của lực lượng CSĐT tội phạm về
TTXH trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân làm hạn chế hoạt động
đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản.
- Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản của lực lượng CSĐT tội phạm
về TTXH Công an thành phố Hồ Chí Minh cho những năm tiếp theo.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt mục đích nêu trên, đề tài cần phải giải quyết những nhiệm vụ

- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng
phương pháp cụ thể sau đây:
+ Tổng kết thực tiễn.
+ Thống kê hình sự.
+ Phân tích so sánh.
+ Toạ đàm trao đổi.
+ Chọn điển hình.

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


5

7. ý nghĩa của việc nghiên cứu
Đây là công trình nghiên cứu khoa học vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý
nghĩa thực tiễn:
- ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào
lý luận về đấu tranh chống tội phạm cướp giật tài sản của lực lượng Cảnh sát
nhân dân.
- ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào
kinh nghiệm công tác của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an thành
phố Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
ở các trường Cảnh sát nhân dân.
8. Những điểm mới của đề tài
Lần đầu tiên hoạt động của đối tượng phạm tội cướp giật tài sản và đặc
điểm hình sự tội phạm cướp giật tài sản cũng như hoạt động phòng ngừa, điều
tra khám phá tội phạm cướp giật tài sản ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc. Những giải
pháp, kiến nghị được tác giả nêu ra có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù
từ 3 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


7

e) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ lệ
thương tật từ 11% đến 30%;
g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới
200.000.000 đồng;
h) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm
đến 15 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ
lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới
500.000.000 đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm
đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên;

muốn người chủ tài sản không kịp phản ứng và ngăn cản việc chiếm đoạt, và
do vậy họ không có khả năng bảo vệ tài sản.
- Mặt chủ quan của tội phạm: tội cướp giật tài sản được thực hiện do lỗi
cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản.
- Chủ thể của tội phạm: bất kỳ người nào có có năng lực trách nhiệm
hình sự.
- Hình phạt: Điều luật quy định 4 khung hình phạt:
+ Khung 1 (cấu thành cơ bản): quy định hình phạt tù từ một năm đến
năm năm.
+ Khung 2 (cấu thành tăng nặng): quy định hình phạt tù từ ba năm đến
mười năm đối với các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên
nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Dùng thủ đoạn nguy hiểm; Hành hung để tẩu
thoát; Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ lệ

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


9

thương tật từ 11% đến 30%; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng
đến dưới 200.000.000 đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Khung 3: quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm đối với
các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60%; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ
200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
+ Khung 4: quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung
thân đối với các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết
người; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên; Gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng.

Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 (tháng 12/1989,
tháng 8/1991, tháng 12/1992, và tháng 5 năm 1997), để đáp ứng đầy đủ yêu
cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Nhà Nước ta đã
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những quy định mới đối với hành vi cướp
giật tài sản, tách hai hành vi cướp giật tài sản và hành vi công nhiên chiếm
đoạt tài sản ra làm hai tội độc lập, tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều
136 Bộ luật hình sự năm 1999.
Ngoài Bộ luật hình sự hình sự, Nhà nước ta còn ban hành nhiều đạo
luật và văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng như:
- Điều 12, khoản 2, 3 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật, đấu tranh
phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”.
- Điều 25, Bộ luật TTHS quy định trách nhiệm của các tổ chức và công
dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm như sau:

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


11

1. Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành
vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ
chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin

Quá trình chứng minh tội phạm là quá trình tiến hành những biện pháp
điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm
tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng, minh tội phạm. Những vấn đề phải
chứng minh trong vụ án hình sự là hệ thống các tình tiết của vụ án mà cơ
quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ để giải quyết vụ án theo đúng quy định
của pháp luật.
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật hình sự quy định về tội cướp giật tài sản và
quy định tại Điều 63 Bộ luật TTHS, trong giai đoạn khởi tố, điều tra loại tội
phạm này, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH cần phảI làm rõ những vấn đề
sau đây:
- Có hành vi cướp giật tài sản xảy ra hay không
Trước tiên CQĐT phải chứng minh có hành vi phạm tội cướp giật tài
sản xảy ra hay không hay chỉ là một vụ va quẹt, vụ tai nạn, nạn nhân bị té ngã,
bị rơi mất đồ vật, mất tài sản...Muốn chứng minh được vấn đề này, CQĐT
phải thu thập những tài liệu chứng cứ để chứng minh hành vi xảy ra có đủ các
dấu hiệu pháp lý đặc trưng được qui định trong cấu thành tội phạm cướp giật
tài sản.
- Thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm cướp giật tài sản
Làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra vụ cướp giật là cơ sở để tiến hành các
họat động điều tra ban đầu, truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng. Phải làm rõ
địa điểm xảy ra tội phạm có những đặc điểm gì, chẳng hạn nơi vắng vẻ, hay là
chợ, khu trung tâm thương mại, khu vực dân cư đông đúc, mật độ người qua
lại khu vực nơi tội phạm xảy ra. Bên cạnh đó phải làm rõ hành vi phạm tội
xảy ra vào lúc nào, ban ngày, buổi trưa, buổi tối hay đêm khuya...những yếu
tố đó đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như gây khó khăn cho đối tượng thực

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


13



14

giác, nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đọat và nhanh chóng tẩu
thoát. Những chứng cứ về thủ đọan gây án có thể thu thập được trong quá
trình lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can.
- Người thực hiện hành vi phạm tội và có đồng phạm không hay
không?
Trong quá trình điều tra cần phải chứng minh làm rõ ai là người thực
hiện hành vi phạm tội, tuổi và năng lực nhân thân của người phạm tội, có
đồng phạm không. Nếu có đồng phạm cần chứng minh làm rõ vai trò, vị trí
của từng bị can trong vụ án, ai là người tổ chức thực hiện tội phạm và làm rõ
đặc điểm nhân thân của từng bị can trong vụ án.
Để làm rõ được những vấn đề trên cần tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời
khai người làm chứng, người bị hại. Đối với những vụ cướp giật tài sản do đối
tượng có tiền án, tiền sự gây ra cần phải lấy trích lục tiền án, tiền sự thật đầy
đủ để đưa vào hồ sơ vụ án.
- Động cơ và mục đích phạm tội.
Động cơ và mục đích phạm tội cướp giật tài sản được phản ánh ở động
cơ tư lợi và mục đích chiếm đoạt tài sản. Để làm rõ vấn đề này cần phải đánh
giá đặc điểm hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của thủ phạm và giá trị tài
sản mà thủ phạm định chiếm đoạt hay đã chiếm đoạt thông qua việc hỏi cung
bị can, lời khai người bị hại, người làm chứng.
- Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người
thực hiện hành vi phạm tội phục vụ cho quá trình xét xử đúng tính chất mức
độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời đảm bảo đường lối đấu tranh chống tội
phạm của Đảng và Nhà nước ta là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trấn
áp kết hợp với giáo dục cải tạo”. Chính vì vậy, mà trong quá trình điều tra vụ

Tóm lại, những vấn đề cần chứng minh đã nêu trên là mục tiêu cần đạt
được trong quá trình điều tra một vụ án cướp giật tài sản. CQĐT và Điều tra
viên phải thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ để làm rõ những vấn đề cần chứng
minh.

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


16

1.2.3. Nhận thức cơ bản về hoạt động phòng ngừa tội phạm cướp giật
tài sản
1.2.3.1. Khái niệm về hoạt động phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản
Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp hướng đến việc thủ tiêu những
nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, nhằm ngăn chặn, hạn chế làm và từng
bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Hoạt động phòng ngừa tội
phạm là hoạt động rất phức tạp, đa dạng với sự tham gia của đông đảo các lực
lượng, tổ chức xã hội... vì vậy, để phòng ngừa tội phạm cần phải giải quyết tốt
các nhiệm vụ như nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình
trạng phạm tội cũng như của tội phạm cụ thể; soạn thảo các giải pháp, biện
pháp phòng ngừa tội phạm và tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội
phạm.
Phòng ngừa tội phạm có nghĩa là không để cho một thành viên của xã
hội phải bị xử lý bằng pháp luật. Muốn vậy phải thủ tiêu các nguyên nhân
điều kiện của tình trạng tội phạm. Mông-te-xki-ơ, một nhà xã hội không
tưởng trong cuốn “Về tinh thần các đạo luật” xuất bản giữa thế kỷ XVIII cho
rằng: “Nhà làm luật thông minh không hẳn chỉ là quan tâm đến các hình phạt
đối với các tội phạm mà chủ yếu là quan tâm về việc phòng ngừa tội phạm”.
Điều đó cho thấy công tác phòng ngừa tội phạm mang tính nhân đạo cao.

Phòng ngừa tội phạm cướp giật cũng chính là tiến hành phòng ngừa đối
với một hiện tượng xã hội. Do đó tiến hành hoạt động phòng ngừa phải phát
huy mọi lực lượng của toàn xã hội trong đó có cơ quan chuyên môn, lực
lượng nòng cốt, chủ công là CSĐT tội phạm về TTXH.
1.2.3.3. Nội dung, biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp giật rất đa dạng, được áp
dụng phù hợp với mỗi loại chủ thể khác nhau, trong mỗi lĩnh vực của hoạt
động đời sống xã hội và ở mỗi địa bàn khác nhau, những biện pháp đó được
chia thành hai loại: Biện pháp phòng ngừa xã hội và biện pháp phòng ngừa
nghiệp vụ của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH.

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


18

- Biện pháp phòng ngừa xã hội: là hoạt động phòng ngừa tội phạm
đựơc tiến hành trên bình diện xã hội, được áp dụng các biện pháp mang tính
xã hội và có sự tham gia của các lực lượng của toàn xã hội. Tuy nhiên, những
biện pháp phòng ngừa này phải được dựa trên cơ sở hướng dẫn về mặt nghiệp
vụ của cơ quan chuyên môn. Với chức năng của mình, để sử dụng được các
biện pháp phòng ngừa xã hội, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH cần tiến
hành một số công tác cụ thể sau đây:
+ Lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH làm tốt công tác tham mưu lãnh
đạo Công an các cấp, trên cơ sở đó, lãnh đạo công an các cấp tham mưu cho
Đảng, chính quyền nhằm tích cực chủ động phòng ngừa bằng các hoạt động:
Huy động các cơ quan ban ngành trong toàn xã hội làm tốt chức năng của
mình góp phần xây dựng xã hội mới về mọi mặt, chủ động đấu tranh bài trừ tệ
nạn xã hội, cướp giật, trộm cắp và các hiện tượng xã hội tiêu cực khác, kịp
thời phát hiện xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, lực lượng

dưỡng.
+ Xây dựng và sử dụng có hiệu quả MLBM, đặc biệt là mạng lưới cơ
sở bí mật ở các địa bàn, tuyến phức tạp về tệ nạn xã hội và tội phạm cướp
giật, trộm cắp ... nhằm mục đích thu thập và phát hiện kịp thời những tin tức
về đối tượng gây án và các băng, nhóm, tổ chức tội phạm cướp giật đang
được hình thành và phát triển. Biện pháp này có tác dụng trong việc phát hiện
những tin tức ban đầu về hoạt động phạm tội, đồng thời, còn có thể sử dụng
phục vụ công tác điều tra phát hiện tội phạm bằng các kế hoạch trinh sát cần
thiết như đi sâu vào băng, ổ, nhóm, đường dây, tổ chức tội phạm cướp giật.
+ Phối hợp với các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng tạo điều
kiện công việc làm cho những người thiếu việc làm ổn định, đưa các đối
tượng nghiện ma tuý đi cai nghiện, mở các trung tâm chữa bệnh cho những
người đã là nạn nhân của tệ nạn xã hội, giúp họ từ bỏ con đường lầm lỗi trước
đây.
+ Tiến hành các chiến dịch truy quét, tiến công thường xuyên, liên tục,
tuần tra kiểm soát (kể cả công khai và bí mật) trên các tuyến, địa bàn trọng

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


20

điểm phức tạp về an ninh trật tự có liên quan đến hoạt động phạm tội cướp
giật của bọn tội phạm.
+ Tiến hành điều tra, khám phá khẩn trương, kịp thời và xử lý nghiêm
khắc đối với những hoạt động phạm tội cướp giật.
Để đảm bảo thực hiện được những biện pháp phòng ngừa như trên, lực
lượng CSĐT tội phạm về TTXH phải làm tốt một số công việc sau:
- Tiến hành điều tra nghiên cứu, nắm vững tình hình diễn biến của tội
phạm cướp giật.

Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và loại trừ tội
phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các Nhà nước
dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả đối với
các loại tội phạm – hiện tượng xã hội tiêu cực và phức tạp, đòi hỏi con người
cần phải không ngừng nghiên cứu để nhận thức đầy đủ về hiện tượng này. Tội
phạm là gì? Nó được hình thành phát triểnvà tồn tại theo những quy luật nào?
Để đấu tranh với nó cần phải tiến hành bằng những phương pháp tác động ra
sao?...Công việc đó được tiến hành gắn liền với thực tế đấu tranh chống tội
phạm ở mỗi quốc gia, qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Kết quả của
quá trình đó đem laị cho loài người những tri thức phong phú cần thiết về hiện
tượng tội phạm và những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh chống tội
phạm.
Những tri thức và kinh nghiệm về tội phạm và phương pháp phòng
chống tội phạm ngày càng được tích luỹ đầy đủ. Bước đầu được phản ánh tản
mạn riêng lẻ, sau đó được đúc rút hệ thống lại và được nghiên cứu tỉ mỉ sâu
sắc hơn trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa
học xã hội. Trong điều kiện các lĩnh vực khoa học phát triển, mạnh mẽ theo
hướng chuyên sâu, vấn đề nghiên cứu về tội phạm và biện pháp đấu tranh
chống tội phạm được nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập
chuyên nghiên cứu về những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội
phạm cùng với các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


22

sự tác động của hiện tượng này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội
phạm đã ra đời và phát triển.
Xem xét về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu thấy rằng: “Tội phạm học”

Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta,
Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí quan trọng đặc biệt của công cuộc bảo vệ
vững chắc nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đấu tranh kiên quyết
và triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang đặt ra những nhiệm
vụ nặng nề cho các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tế trong nghiên cứu tội
phạm, xây dựng phương pháp đấu tranh ngăn chặn một cách có hiệu quả với

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


23

chúng. Nghiên cứu và phát triển hoàn thiện khoa học tội phạm là vấn đề có ý
nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống các loại tội phạm hình sự, giữ
vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học.
Mỗi ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Đó là
những quy luật tác động trong lĩnh vực mà ngành khoa học đó cần nghiên
cứu. Tội phạm học với tư cách là môn khoa học độc lập, vì vậy cũng có đối
tượng nghiên cứu riêng. Đó là những sự vật hiện tượng liên quan đến hoạt
động tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Trong các tài liệu Tội phạm học của nhiều nước trên thế giới đã được
xác định và phân loại thành những nhóm đối tương nghiên cứu như: nghiên
cứu tội phạm là hiện tượng của xã hội; nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân
thân người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Có thể xác nhận rằng việc định
ra đối tượng nghiên cứu của tội phạm như vậy là đúng đắn, bởi vì điều đó
phản ánh được khái quát nội dung nghiên cứu của vấn đề về tội phạm theo
một trình tự hệ thống bao hàm được đầy đủ những vấn đề phản ánh quy luật
hoạt động nhận thức về hiện tượng tội phạm, từ việc xác định khái niệm tội
phạm, phạm vi tình trạng, cấu trúc tội phạm và diễn biến của nó, đến việc đi

phạm vi cả nước và ở mỗi vùng dân cư. Những nội dung này phản ánh số
lượng và tính chất hoạt động của tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ
thể trong mỗi thời kỳ, mỗi địa phương khác nhau.
- Nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại giữa Tình trạng tội
phạm với các hiện tượng và các quá trình xã hội khác (CT,KT, VH, GD…)
hoặc với những hình thức khác nhau của hành vi tiêu cực (lười biếng, suy
thoái về đạo đức, tệ nạn xã hội ).
Nghiên cứu làm rõ những nội dung đã chỉ ra trong nhóm đối tượng
nghiên cứu trên cho phép chúng ta đánh giá một cách khái quát về Tình trạng
tội phạm nói chung trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương cụ thể, đồng
thời có thể đề ra phương hướng chung, biện pháp tổng hợp trong việc phòng
ngừa ngăn chặn tội phạm.

Ketnooi.com kết nối công dân điện tử


25

1.2.2. Nguyên nhân nảy sinh tình trạng tội phạm và điều kiện tạo thuận
lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội là một trong những nội dung tất yếu
của sự phát triển và tồn tại trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội.
- Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là tổng hợp các sự vật hiện
tượng tiêu cực xã hội tác động đến con người và là hành vi phạm tội. Vì vậy
cần phải xem xét phân loại một cách khoa học các loại nguyên nhân, điều
kiện khách quan, chủ quan, trực tiếp, dán tiếp, chủ yếu thứ yếu, bên trong, bên
ngoài…điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức tội phạm và sử
dụng biện pháp phòng ngừa chúng.
- Cần thiết phải có quan điểm rõ ràng trong phân biệt giữa nguyên nhân
và điều kiện, mối quan hệ tác động giữa nguyên nhân và điều kiện trong quá
trình tác động đến hành vi phạm tội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status