Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG THẢO VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ
THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ
THÁI BÌNH HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. Nguyễn Linh Khiếu

Hà Nội - 2014 3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, Luận văn này là do tôi độc lập nghiên cứu, xây
dựng dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Nguyễn Linh Khiếu.
Luận văn có tham khảo các công trình khoa học khác với tinh thần

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH HIỆN NAY 42
2.1. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở
thành phố Thái Bình hiện nay 42
2.1.1. Bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình 43
2.1.2. Bình đẳng giới trong tiếp cận, quản lí và kiểm soát
các nguồn lực của gia đình 47
2.1.3. Bình đẳng giới trong thể hiện quyền lực trong gia
đình và tham gia sinh hoạt cộng đồng 54

5
2.2. Một số vấn đề đang đặt ra đối với bình đẳng giới trong gia
đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay 63
2.2.1. Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương chưa thực sự gắn với yếu tố giới 63
2.2.2 Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân chưa
được quan tâm thỏa đáng 65
2.2.3. Công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, về
vai trò của phụ nữ có nhiều hạn chế 67
2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy bình đẳng giới
trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay 70
2.3.1. Xây dựng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương có tính tới yếu tố giới 70
2.3.2. Tăng cường các chính sách đảm bảo sự bình đẳng về
giới trong gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình 77
2.3.3. Phát huy vai trò của đoàn thể, tăng cường công tác
giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và
hiểu biết về vai trò của phụ nữ, thúc đẩy sự bình đẳng 7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội càng phát triển, sự bình đẳng giữa nam và nữ càng cần được chú
ý. Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của nam và nữ, mức độ giải phóng của
phụ nữ trong xã hội phản ánh trình độ phát triển của xã hội. Bình đẳng giới là
tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của quốc gia.
Bình đẳng giới có thể xem là một “cuộc cách mạng” gian nan và lâu dài
ở Việt Nam. Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người
Việt Nam từ ngàn năm nay. Bất bình đẳng giới đã và đang tiếp tục trực tiếp và
gián tiếp để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội Việt Nam. Hậu quả của bất
bình đẳng giới, phân biệt giới dẫn đến trong đời sống xã hội, phụ nữ bị đối xử
tệ bạc, bị rẻ rúng, bị tổn thương nặng nề. Vì lẽ đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào,
phụ nữ đều muốn thoát khỏi tình trạng này. Ở nước ta, thời gian qua, những
thành tựu về bình đẳng giới là rất đáng ghi nhận, nhưng bất bình đẳng giới
vẫn là nỗi bức xúc của xã hội. Hiện tượng bất bình đẳng giới mặc dù đã được
các phương tiện truyền thông đại chúng, dư luận xã hội nói đến rất nhiều,
nhưng bất bình đẳng giới vẫn mang tính phổ biến và để lại nhiều hệ lụy đối
với sự phát triển, thăng tiến của phụ nữ.
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình vững chắc là nhân tố quan trọng
để ổn định và phát triển xã hội. Trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập, gia
đình hạt nhân đang ngày một nhiều hơn và sẽ tiếp tục là xu hướng gia tăng.
Nhưng cũng chính trong các gia đình hạt nhân lại đối diện nhiều thách thức.
Thực tế cho thấy, nhiều gia đình hạt nhân chưa thích nghi được với hoàn cảnh
mới đã rơi vào khủng hoảng, thậm chí tan rã.
Bởi vậy, nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân nhằm nhận

Thành phố Thái Bình đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Cuộc sống
khấm khá mang lại cho con người no đủ về cơm ăn, áo mặc và các yếu tố vật
chất khác, nhưng chưa hẳn đã mang lại cho các gia đình trẻ (gia đình hạt
nhân) một tổ ấm thực sự. Bởi lẽ, dưới sự tác động của kinh tế thị trường, bên
cạnh những người biết cân bằng cuộc sống, biết vượt lên chính mình trong
buổi giao thời để tự trang bị cho mình hành trang sống hợp lí với thực tế thì
vẫn còn số lượng lớn các bạn trẻ chưa giác ngộ, bị ảnh hưởng nặng nề bởi các
quan niệm truyền thống không còn phù hợp với hoàn cảnh mới.
Tuy vậy, trong công cuộc đổi mới, thành phố Thái Bình cũng mang
những đặc trưng của một đô thị đang chuyển mình về kinh tế, văn hóa - xã
hội, đan xen truyền thống và hiện đại, những tiến bộ đáng tự hào và những
hạn chế tất yếu của buổi giao thời. Điều đó thể hiện rõ trong các gia đình, cụ
thể là trong mối quan hệ nam và nữ trong gia đình hạt nhân.
Thành phố Thái Bình chưa phải là một đô thị đã phát triển toàn diện,
phân công và sử dụng lao động trong xã hội chưa hợp lí, chưa phù hợp với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đáp ứng nhu cầu phát triển trong
gia đình nói chung và trong gia đình hạt nhân nói riêng ở đây rất cần sự kết
hợp hài hòa, bình đẳng nam và nữ để phát triển kinh tế, chăm sóc con cái, làm
việc nhà và hưởng thụ các phúc lợi xã hội phù hợp với thực tế đời sống. Sự
bất bình đẳng giới trong các gia đình hạt nhân sẽ là nguyên nhân dẫn tới sa sút
kinh tế, trẻ em không được chăm sóc chu đáo, xã hội kém phát triển.
Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn đóng góp một phần công sức
nhằm thực hiện bình đẳng giới trong gia đình, tiến tới xây dựng và phát triển
gia đình bền vững, giải phóng phụ nữ và chăm sóc trẻ em ở thành phố Thái
Bình, tôi đã chọn đề tài “Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở
thành phố Thái Bình hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu

10
Bình đẳng giới không phải là vấn đề mới. Trên thực tế, vấn đề này đã

Khiếu. Đây là những công trình nghiên cứu tạo cơ sở khoa học cho việc xây
dựng chính sách, chiến lược phát triển gia đình, đời sống người phụ nữ và bình
đẳng giới trong gia đình Việt Nam.
“Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” (2002) của Đỗ Thị Bình - Lê Ngọc Văn - Nguyễn
Linh Khiếu. Các tác giả đã điều tra, phân tích, tổng hợp để đưa ra bức tranh chân
thực nhất về thực trạng gia đình Việt Nam và vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia
đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Đây là công trình
nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần tạo lập cơ sở để các nhà hoạch
định chính sách, quản lí xã hội xây dựng và điều chỉnh các chính sách về phụ nữ
và gia đình.
“Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay”
(2006) của Lê Thi chủ biên; “Bạo lực gia đình: Một sự sai lệch giá trị” (2007)
của Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh; Giới, việc làm và đời sống gia đình”
(2007) của Nguyễn Thị Hòa chủ biên; “Bình đẳng giới - vấn đề của mỗi người,
từng gia đình và cả cộng đồng” (2008) của Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng
cao năng lực cho phụ nữ; “Bình đẳng giới ở Việt Nam” (2008) do Trần Thị Vân
Anh, Nguyễn Hữu Minh chủ biên; …“Khoa học giới - những vấn đề lý luận và
thực tiễn’’ (2008) của Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch.
Ngoài các tác phẩm đã xuất bản còn có nhiều Luận án tiến sĩ, Luận văn
thạc sĩ từng nghiên cứu về lĩnh vực bình đẳng giới trong gia đình như: Luận
văn thạc sĩ triết học “Bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam” (2010) của
Nguyễn Hoài Anh; “Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở đồng
bằng sông Cửu Long hiện nay” (2008) của Trần Thanh Hiền … Luận án tiến
sĩ Triết học “Bình đẳng về giới trong các gia đình nông thôn ở đồng bằng

12
sông Hồng hiện nay” (2002) của Chu Thị Thoa. Đây là công trình nghiên cứu
khá toàn diện, điển hình, vừa chi tiết vừa khái quát về bình đẳng giới ở đồng
bằng sông Hồng.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình, cụ thể là
bình đẳng giới vợ và chồng trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình
trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình nói chung
mà chỉ nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân.
Luận văn chỉ nghiên cứu bình đẳng giới của gia đình hạt nhân ở thành
phố Thái Bình trong 5 năm trở lại đây (2010 - 2014).
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lí luận
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước ta về phụ nữ, giới, bình đẳng giới, gia đình.

14
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cụ thể là các phương pháp lôgíc và lịch
sử, phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, kết hợp các phương pháp điều
tra xã hội học, thống kê và so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ một phần thực trạng quan hệ giới trong gia đình hạt
nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay. Bước đầu chỉ ra những thành tựu cũng
như hạn chế của quan hệ giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình
hiện nay.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng về giới
trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình trong thời gian tới.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

những quan niệm khác nhau về gia đình.
Trong nhiều năm qua tại Việt Nam, nhiều quan điểm khác nhau về gia
đình đã được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn thảo.

16
Theo “Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học”: “Gia đình là một hình
thức cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan
hệ máu mủ” [30, tr. 148].
Trong cuốn “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con
người” giáo sư Lê Thi cho rằng gia đình là “một nhóm xã hội được hình
thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan
hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội
ngoại) đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình
nuôi dưỡng Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách
nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ có những điều ràng
buộc có tính chất pháp lí, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Đồng thời
trong gia đình có qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán
trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [33, tr. 20]. Có thể khẳng định
rằng, quan niệm về gia đình của giáo sư Lê Thi đã nêu được những thuộc
tính cơ bản của gia đình.
Gia đình là tế bào của xã hội, tế bào khỏe mạnh thì cơ thể mới mạnh
khỏe. Trong gia đình, các thành viên cùng cư trú, có mối quan hệ hôn nhân
hoặc huyết thống, tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể, gia đình có
chung những giá trị vật chất và tinh thần, đảm nhận chức năng sinh đẻ,
nuôi dưỡng, giáo dục con người, phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử ở mỗi
quốc gia.
Các tác giả cuốn “Gia đình học” định nghĩa :“Gia đình là một thiết chế
xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống
và chăm sóc con cái. Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ
họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở

thiết chế xã hội. Sự vận động biến đổi của thiết chế gia đình tuân theo

18
những qui luật chung của hệ thống, nhưng thiết chế ấy đồng thời cũng vận
động biến đổi còn trên cơ sở kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của
mỗi nền văn hóa, mỗi vùng và địa phương khác nhau và còn được bộc lộ,
thể hiện ở mỗi thành viên và thế hệ thành viên trong sự hòa quyện của mỗi
cá nhân với mỗi gia đình. Từ các hoạt động, tổ chức đời sống trong gia
đình, mỗi người, mỗi gia đình tiếp nhận, chịu sự tác động và phản ứng lại
đối với những tác động xã hội, thông qua các tổ chức, các thiết chế, chính
sách… của xã hội. Sự phù hợp hay không phù hợp của những tác động từ
xã hội, nhà nước với những hình thức tổ chức, sinh hoạt trong thiết chế gia
đình sẽ tạo ra kết quả tốt hay xấu của mỗi xã hội.
Có những lĩnh vực, thông tin của xã hội tác động đến con người
thông qua gia đình. Hoàn cảnh gia đình của một người như thế nào sẽ giúp
xã hội nhận thức, đánh giá một phần về con người đó như thế ấy. Nhiều nội
dung quản lí xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội,
mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người. Nghĩa
vụ và quyền lợi xã hội của mỗi người được thực hiện với sự hợp tác chung
của các thành viên gia đình. Qua đó, ý thức công dân của cá nhân được
nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có nội dung xác thực.
Gia đình là nơi mang lại sự cân bằng, sự hài hòa trong đời sống cá
nhân mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội. Trong cả cuộc đời con
người, mỗi người được nuôi dưỡng, chăm sóc để trở thành công dân của xã
hội, lao động cống hiến và hưởng thụ, đóng góp cho xã hội trước hết và
chủ yếu là thông qua gia đình và với gia đình. Bình yên, hạnh phúc của mỗi
gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự hình thành, phát triển nhân
cách, bảo đảm đạt hiệu quả cho các hoạt động lao động của xã hội. Vì vậy
muốn xây dựng xã hội thì phải chú ý đến xây dựng gia đình. Gia đình là
nền tảng, là một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu phấn đấu


20
viên khác nhau, song chủ yếu là giáo dục bằng nêu gương, thuyết phục, giả
thích. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa quyết
định, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại
hiệu quả lớn không thể thay thế. Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo
dục. Do đó, chủ thể giáo dục gia đình cơ bản và chủ yếu vẫn là thế hệ cha mẹ,
ông bà đối với con cháu. Để thực hiện giáo dục có hiệu quả, ông bà và cha mẹ
phải là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.
Con người sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình, đến một độ
tuổi nhất định nào đó mới đến trường, và khi còn nhỏ thời gian ở gia đình
mỗi ngày thường nhiều hơn thời gian ở trường. Giáo dục gia đình là một bộ
phận và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà
trường và xã hội. Do đó, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội dù có
phát triển lên trình độ nào, thì giáo dục gia đình vẫn được coi là một thành
tố của nền giáo dục nói chung.
Gia đình có chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm, sinh lí, tình cảm.
Việc thỏa mãn nhu cầu tâm, sinh lí được coi là một chức năng cơ bản
không chỉ có tính văn hóa - xã hội mà cả tính chất tự nhiên của gia đình.
Chức năng này có vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác
tạo ra khả năng thực tế cho xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhiều vấn đề
phức tạp có liên quan đến giới tính và giới, tâm lí lứa tuổi và thế hệ, những
căng thẳng về thể xác và tâm hồn trong lao động, học tập … nhiều khi có
thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hòa thuận. Sự hiểu biết,
cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu sinh lí giữa vợ và chồng, tâm lí
tình cảm cha mẹ và con cái … làm cho mỗi thành viên trong gia đình có
điều kiện sống hài hòa, lạc quan, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần… là
những tiền để cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống
gia đình và xã hội.


đình Việt Nam hiện nay là gia đình hạt nhân. Các gia đình này chủ yếu là
trí thức, viên chức nhà nước, công nhân, gia đình bộ đội, công an tập
trung tại các đô thị. Ngoài ra, ở nông thôn, các gia đình làm nông nghiệp
cũng có xu hướng hạt nhân hóa ngày càng nhiều. Gia đình hạt nhân ở Việt
Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và những lợi thế
không thể phủ nhận của nó.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, gia đình hạt nhân ở Việt Nam hiện
nay chủ yếu, phổ biến là gia đình trẻ. Đặc điểm này tồn tại ở cả nông thôn và
thành thị. Gia đình hạt nhân tồn tại và phát triển độc lập, linh hoạt, có khả
năng thích nghi cao và rất nhanh với các biến đổi xã hội. Gia đình hạt nhân có
sự độc lập, tự chủ về kinh tế. Trong gia đình hạt nhân, mỗi thành viên trong
gia đình có khoảng không gian tự do hơn (so với gia đình truyền thống) để họ
được phát huy năng lực, sở thích cá nhân. Tự do cá nhân luôn được đề cao.
Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu
hiện chất lượng cuộc sống gia đình, biểu thị sự phát triển xã hội. Nếu được
gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng và phát triển năng lực cá nhân sẽ tạo ra
phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều
có bản sắc. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần những
con người có năng lực thực sự, bản sắc như vậy.
Dĩ nhiên, gia đình hạt nhân cũng bao gồm trong nó những điểm yếu
nhất định. Ví dụ như, mỗi người dành thời gian và không gian nhiều hơn cho
cái tôi nên khả năng hỗ trợ, thấu hiểu lẫn nhau về tinh thần giữa các thành
viên trong gia đình bị hạn chế. Sự tương trợ lẫn nhau về vật chất, tinh thần
giữa gia đình nhỏ (gia đình hạt nhân) và gia đình lớn (ông bà, cha mẹ, các
cháu), giữa các gia đình với nhau cũng giảm sút. Ảnh hưởng của các thế hệ

23
tới nhau ít đi cũng làm giảm khả năng giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa
truyền thống trong gia đình.
Dù vậy, gia đình hạt nhân là một thành tựu trong quá trình phát triển

giới so với nữ cũng khác nhau.
Cho đến nay thì người ta vẫn thường dựa vào sự khác biệt giới tính để
giải thích sự khác biệt nam và nữ về mặt xã hội. Ví dụ như quan điểm cho
rằng phụ nữ có năng lực hạn chế hơn so với nam giới. Đây là những quan
niệm hoàn toàn mang tính định kiến, không có cơ sở khoa học.
Khái niệm giới và giới tính tuy khác nhau nhưng vẫn có quan hệ với
nhau. Giới tính là yếu tố ban đầu và lâu dài để phân biệt nam hoặc nữ. Sự
khác biệt về giới tính là yếu tố tự nhiên, hầu như không thể mất đi và cũng
không nên can thiệp để mất đi sự khác biệt đó. Mặt khác, sự khác biệt về giới
tính là cơ sở để tìm hiểu năng lực, sở trường, nhu cầu riêng của nam và nữ để
từ đó phân công lao động hợp lí nhằm phát huy cao nhất năng lực, phù hợp
nhu cầu của mỗi giới.
Nói tóm lại, giữa nam và nữ có những đặc trưng hết sức khác nhau cả
về mặt tự nhiên và mặt xã hội. Sự khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ mang
tính bẩm sinh, không thể thay đổi được, và cũng không cần thay đổi, đó là sự
hài hòa mà tạo hóa đã ban cho loài người để bảo tồn nòi giống. Ngược lại, sự
khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội đã tạo ra, sự khác biệt đó đã đưa tới
sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Xóa bỏ sự bất bình đẳng giới là cần thiết và

25
nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ chứ không phải là xóa
bỏ sự khác biệt giữa họ về mặt tự nhiên.
Bình đẳng về giới
Bình đẳng là khái niệm có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Theo từ điển tiếng
Việt thì: bình đẳng là ngang hàng ngang nhau về địa vị và quyền lợi.
Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó
có bình đẳng nam nữ, nhưng thế nào là bình đẳng nam nữ (bình đẳng giới) là
một nội dung quan trọng về mặt nhận thức cần phải làm rõ.
Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội
đối với nam và nữ. Phụ nữ và nam giới có vị trí xã hội như nhau, có các cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status