1
Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu
số ở vùng Đông Bắc nước ta hiện nay
Nguyễn Lệ Thu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Triết học
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học; Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Thạch
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Khái quát làm rõ một số vấn đề lý luận về bình đẳng giới và bình đẳng
giới trong gia đình. Làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với bình đẳng
giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta hiện nay, và đề xuất
các giải pháp nhằm tăng cường bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng
Đông Bắc.
Keywords. Chủ nghĩa xã hội khoa học; Bình đẳng giới; Gia đình; Dân tộc thiểu số;
Vùng Đông Bắc
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu
tranh nhằm xóa bỏ những sự bất bình đẳng xã hội, trong đó có bất bình đẳng giới. Bình
đẳng nam nữ một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng
nhiều thế kỷ.
Ngày nay khi nói đến phát triển, người ta không chỉ đề cập đến chỉ số phát triển
con người HDI mà còn xem xét đến chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI (Gender
Devevelopment Index). Những nghiên cứu thực tế cho thấy đầu tư cho phụ nữ mang lại
hiệu quả, lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào ở các nước đang phát triển. Hay nâng cao
so với các vùng khác trong cả nước. Hạn chế này có nhiều nguyên nhân trong đó
định kiến giới nặng nề là nguyên nhân khá nổi bật. Do vậy chưa khai thác, phát huy
được tiềm năng của lực lượng lao động nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số. Đại
bộ phận các gia đình dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao,
vùng sâu, miền núi. Trong bộ phận dân cư ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất.
Họ là một lực lượng xã hội quan trọng có ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển của
khu vực dân tộc và miền núi. Họ vừa phải tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội,
cộng đồng; vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ lao động và thời
gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao
động vất vả nhưng ít được cộng đồng, xã hội đánh giá khách quan đầy đủ.
3
Xuất phát từ lý do trên, hơn nữa được sinh ra và trưởng thành ở vùng đất này,
tác giả chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc
nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Triết học chuyên ngành chủ nghĩa xã
hội khoa học, mong muốn góp một phần nhỏ vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ và thực
hiện bình đẳng giới khu vực Đông Bắc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa
học và thực tiễn mang tính toàn cầu. Tuy vậy, nghiên cứu khoa học về giới và bình
đẳng giới được “phổ biến ” vào Việt Nam và chính thức trở thành một chuyên ngành
khoa học độc lập chỉ trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây (nhiều nhà khoa học coi sự
kiện thành lập trung tâm nghiên cứu phụ nữ, nay là viện Nghiên cứu Gia đình và Giới,
thuộc viện Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 1987 như là cột mốc của sự ra đời và
phát triển của khoa học này).
Các công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức đã góp phần luận giải nhiều
vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội,
thực hiện bình đẳng giới trong gia đình.
- Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), “Phụ nữ - giới và phát triển”,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội. Tác giả cuốn sách đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên
Viện CNXHKH - Học viện CTQG Hồ Chí Minh. Các tác giả của công trình đã
nghiên cứu các vấn đề về giới từ tiếp cận trong các tác phẩm kinh điển của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đến vấn đề giới trong đường lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trong một số phương
tiện thông tin đại chúng và trong sách giáo khoa. Có thể nói, đây là một công trình
đã đề cập đến tương đối đầy đủ những vấn đề về giới. Đó cũng chính là căn cứ lý
luận và thực tiễn về thực trạng quan hệ giới ở nước ta hiện nay.
- Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên), (2008),“Bình đẳng giới
ở Việt Nam”, (Phân tích số liệu điều tra). Nxb KHXH, Hà Nội. Với mục tiêu chính
là điều tra cơ bản về bình đẳng giới, xác định thực trạng bình đẳng giới về cơ hội
và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới và tương quan giữa hai giới
trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị
trong gia đình, cộng đồng và xã hội.
- Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) (2008), “Khoa học giới
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Các tác giả của công trình này đã cung cấp
một bức tranh về lịch sử phát triển của khoa học giới; đồng thời nghiên cứu vấn đề
5
giới dựa trên cách tiếp cận các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội: Vấn đề
giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động; giới trong chiến lược giảm nghèo; giới trong
lĩnh vực lãnh đạo, quản lý; giới trong hoạch định và thực thi chính sách; giới trong
lĩnh vực văn hóa; giới trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo; giới trong gia đình và
chiến lược dân số; lồng ghép giới trong các chương trình phát triển.
- Đỗ Thị Thạch (2010): “Tác động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình
đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” (đề tài khoa học cấp cơ sở của viện Chủ nghĩa xã
hội khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Trên cơ sở
phân tích làm rõ sự tác động của toàn cầu hóa đến việc thực hiện bình đẳng giới
trong các mặt đời sống xã hội và gia đình, đề tài đề xuất một số giải pháp để phát
huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa tới thực hiện
bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
bản và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng giới ở một số tỉnh miền núi
phía Bắc Việt Nam.
Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ -
gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu mới nhưng rất
hiệu quả, đã phác họa bức tranh đa dạng, nhiều vẻ về địa vị người phụ nữ trong sự
nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Qua đó tác động đến suy nghĩ, quan niệm, thái độ
và hành vi của mọi người đối với gia đình và bình đẳng giới ở Việt Nam thời gian qua,
do vậy đây là những tư liệu hết sức quý cho việc triển khai đi sâu nghiên cứu của tác
giả.
Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về thực trạng thực
hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc nước ta.
Đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước
ta hiện nay” trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu trước đây về
gia đình, vai trò phụ nữ nói chung, góp phần đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng
bình đẳng giới trong môi trường sinh hoạt gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra đối với vấn đề bình đẳng giới
trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta, luận văn đề xuất những giải
pháp cơ bản nhằm khắc phục sự bất bình đẳng về giới, nâng cao vị thế người phụ nữ
trong gia đình, góp phần xây dựng gia đình văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội.
Nhiệm vụ
7
+ Khái quát làm rõ một số vấn đề lý luận về bình đẳng giới và bình đẳng giới
trong gia đình
+ Làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với bình đẳng giới trong gia
đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta hiện nay, và đề xuất các giải pháp
nhằm tăng cường bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
chương, 5 tiết.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH
1.1. Quan niệm về giới và bình đẳng giới trong gia đình
1.1.1. Quan niệm về giới
Giới là khái niệm mới xuất hiện trong khoa học về giới ở các nước nói tiếng
Anh vào cuối những năm 60 và ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX. Cho
đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới.
Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền
lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Vai trò, trách nhiệm và
quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của
cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội.
1.1.2. Quan niệm về bình đẳng giới
Khái niệm bình đẳng giới
9
có thể hiểu bình đẳng giới là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ
có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, thậm chí sự cả sự
10
Điều 18, Luật Bình đẳng giới (2007) nêu rõ nội dung bình đẳng giới trong
gia đình qua các khía cạnh sau:
+ Lĩnh vực pháp luật:
+Lĩnh vực về quyền quyết định:
+ Lĩnh vực tái sinh sản:
+ Lĩnh vực giáo dục con cái:
+ Lĩnh vực sản xuất:
Theo Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, có thể dựa vào 4
công cụ để đánh giá bình đẳng giới hay bất bình đẳng giới trong gia đình: Phân
công công việc theo giới; tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực; ra quyết định trong
gia đình và các nhu cầu giới.
1.1.4. Tầm quan trọng của bình đẳng giới trong gia đình đối với sự phát
triển kinh tế xã hội
Thứ nhất: Bình đẳng giới trong gia đình tạo điều kiện cho người phụ nữ
hoàn thành tốt vai trò làm vợ, làm mẹ, tạo nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng
cao.
Thứ hai: Bình đẳng giới trong gia đình góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm
nghèo.
Thứ ba: Bình đẳng giới trong gia đình là nền tảng thúc đẩy bình đẳng và tiến
bộ xã hội.
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà
nƣớc Việt Nam về bình đẳng giới
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
1.2.3. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới
1.3. Một số yếu tố tác động đến quan hệ giới trong gia đình dân tộc thiểu
số ở vùng Đông Bắc
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Đông Bắc nằm ở địa đầu của Tổ quốc có một vị trí hết sức quan trọng. Như
2.1. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng
giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nƣớc ta hiện nay
2.1.1. Một vài nét về gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc
Vài nét khái quát về dân tộc Mông và dân tộc Tày.
12
* Dân tộc Mông
Người Mông chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy nên đời sống kinh tế của
đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, thường xuyên thiếu đói về lương thực. Cây trồng
chính là ngô, lúa, dong, giềng và một số loại rau quả. Sản xuất mang tính tự cung tự
cấp trong môi trường sinh hoạt gần như khép kín. Đồng bào thường cư trú ở vùng
sâu, vùng xa, vùng núi cao, giao thông đi lại khó khăn, còn nhiều phong tục tập
quán gây ảnh hưởng nặng nề trong đời sống sinh hoạt của đồng bào. Trình độ dân
trí của người Mông nhìn chung còn thấp, tỷ lệ người viết đọc, biết viết thấp nhất
trong số các dân tộc vùng cao, đặc biệt là đối với phụ nữ.
* Dân tộc Tày
Người Tày sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Họ có một nền nông
nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau
quả mùa nào thức đó. Với truyền thống làm ruộng nước, người Tày từ lâu đời đã biết
thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp
phai, lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ
mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày
còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc,
gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ
công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn
đẹp và độc đáo.
Khái quát về gia đình dân tộc Mông, Tày.
- Hình thái và cấu trúc gia đình
Hình thái chủ đạo của gia đình Mông, Tày là gia đình phụ hệ, do vậy trong
không đồng nghĩa với việc chia đều công việc gia đình giữa nam và nữ, cũng không
phải bắt phụ nữ từ bỏ việc chăm sóc gia đình. Song gánh nặng công việc của vai trò
kép đè lên vai người phụ nữ dân tộc thiểu số sẽ cản trở sự phát triển của họ. Vì vậy,
sự cảm thông, chia sẻ của người chồng, quan tâm của xã hội là hết sức cần thiết.
2.1.2.2. Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, lợi ích và tham gia ra các quyết
định trong gia đình
Một là: Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, lợi ích
- Quyền kiểm soát đất đai và nguồn vốn
- Tiếp cận dịch vụ khuyến nông
- Lợi ích tinh thần
Hai là: Sự tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong gia đình
14
- Quyền quyết định trong hoạt động sản xuất
- Quyền quyết định trong việc vay vốn và sử dụng vốn
- Quản lý kinh tế hộ gia đình
2.1.2.3. Trong việc tham gia hoạt động cộng đồng và thực hiện chiến lược
dân số, kế hoạch hóa gia đình
Một là: Trong việc tham gia hoạt động cộng đồng
Các hoạt động bên ngoài phạm vi gia đình, người vợ tham gia chiếm tỷ lệ
thấp nhất là 7,2%; người chồng tham gia chiếm 22,5% gần gấp 3 lần so với sự tham
gia của người vợ. Rõ ràng, trong những công việc này, vai trò, vị thế của người vợ
thấp hơn so với người chồng. Tuy nhiên, chỉ số hai vợ chồng cùng tham gia là
tương đối cao, chiếm 54,5%. Điều này cũng nói lên cơ hội cho cả hai vợ chồng
cùng tham gia các hoạt động cộng đồng ngày càng biến đổi theo hướng bình đẳng
hơn.
Hai là: Bình đẳng giới trong hoạt động dân số, kế hoạch hóa gia đình
Thực tế cho thấy tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ở người vợ là 60,4% chồng
là 15,3%, cũng như quan niện của họ ai sử dụng thì tốt hơn: 55,9% là vợ và 30,2% là
chồng thể hiện khoảng cách giới rất lớn trong lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình.
đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người (1948), Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ của Liên hợp quốc (1979) và nhiều văn kiện pháp lý quốc tế khác, cũng
như đã được khẳng định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Bình đẳng giới là mục tiêu vừa có ý nghĩa vừa có chiến lược lâu dài, vừa có
tính cấp bách trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Thực hiện mục tiêu này, nam giới
và nữ giới có thể có những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng
của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp trong công cuộc phát triển đất nước trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Thực tiễn đời sống đã chứng
minh, bất kỳ một sự phân biệt đối xử nào cũng đều dễ gây nên những căng thẳng và
xung đột xã hội. Bất bình đẳng giới không chỉ hạn chế sự phát triển của phụ nữ mà
còn cản trở tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát
triển.
Vấn đề bình đẳng giới được đề cập rất sớm ở Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới đã chiếu rọi con đường vươn lên của phụ
nữ Việt Nam. Các quan điểm về bình đẳng giới không chỉ được ghi nhận trong các
văn kiện của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, được cụ thể hóa bằng các văn bản,
16
những chỉ thị, nghị định, mà quan trọng hơn, ở một mức độ nhất định, đã và đang
được thực thi trong cuộc sống nhằm phát huy vai trò, vị trí và tiềm năng của phụ nữ
trong xã hội.
Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã làm thay đổi trên nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội. Gia đình là một thiết chế xã hội cũng có những biến đổi theo xu
hướng tích cực tiến bộ, đặc biệt các mối quan hệ trong gia đình ngày càng hướng tới
sự dân chủ, bình đẳng hơn. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
ngày càng được khẳng định hơn.
Miền núi vùng Đông Bắc là vùng đất có nhiều tiềm năng và nguồn lực phát
triển về kinh tế, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng, lãnh đạo trong
hơn 25 năm qua đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân tộc thiểu
2. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới (2001), Đưa vấn đề giới
vào phát triển, Nxb VHTT, Hà Nội.
3. Báo cáo của tổ chức phi chính phủ về 10 năm thực hiện cương lĩnh hành động
Bắc Kinh.
4. Báo cáo số liệu các hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Cao Bằng, Hà Giang,
Thái Nguyên.
5. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội ở các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang.
6. Đỗ Thị Bình (1997), Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong
giai đoạn hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Đỗ Thị Bình (1997), Thực trạng môi trường Việt Nam hiện nay và sự tác động
của nó đến đời sống sức khỏe của phụ nữ. Mười năm tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
8. Đỗ Thúy Bình (1991), "Gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Nhận
diện gia đình Việt Nam hiện nay", Tạp chí Khoa học về phụ nữ, Hà Nội.
9. Đỗ Thúy Bình (1992), "Gia đình người H
’
mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay",
Tạp chí Dân tộc học, (2).
10. Đỗ Thúy Bình (1993), Gia đình - Những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã hội ở
các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
11. Đỗ Thúy Bình (1993), "Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống
phụ nữ các dân tộc ít người góp phần hoàn thiện chính sách xã hội", Tạp
chí Dân tộc học, (2).
18
12. Trần Bình (2002), “Một số vấn đề về nhận thức, thái độ và hành vi chăm sóc
sức khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số ở Hà Giang”, Tạp chí khoa
học về phụ nữ, (2).
13. Bộ Chính trị (1989), "Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trương,
chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi”, Báo Nhân dân.
28. Trần Thị Minh Đức (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: Lý thuyết và
thực tiễn, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội
29. Phạm Thị Hoàng Hà (2005), Thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa ở các
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ Triết học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
30. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980,
1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Trần Thanh Hiển (2008), “Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở
đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Triết học, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
32. Khoa học giới những vấn đề lý luận và thực tiễn, 2008, Nxb Chính trị - Hành
chính, Hà Nội.
33. Hà Quế Lâm (2002), Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện
nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Lê Ngọc Lân (1996), Thực trạng đời sống và khả năng tham gia phát triển kinh tế
của gia đình phụ nữ nghèo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Nguyễn Thị Kim Loan (2005), Giải phóng phụ nữ: Từ quan điểm của chủ nghĩa
Mác Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam và thực tiễn ở nước ta, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
36. C. Mác - Ph. Ăng ghen (1967), Về vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
37. C.Mác - Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
38. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
39. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (1992), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20
hiện nay”, Lý luận Chính trị,(8).
21
60. Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
61. Lê Ngọc Thắng (1998), “Phụ nữ dân tộc và miền núi trong đời sống kinh tế -
văn hóa các dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, (5)
62. Lê Thi (chủ biên) (1996), Gia đình Việt Nam ngày nay, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
63. Lê Thi(1998), Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam, Nxb Phụ nữ,
Hà Nội.
64. Lê Thi (1999), Việc làm đối với phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam.
65. Lê Thi (2005), Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số và phát triển bền vững,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
66. Chu Thị Thoa (2002), Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng
sông Hồng hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
67. Tóm tắt tình hình giới của Liên hợp quốc tại Việt Nam (2006), Hà Nội
68. Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc (1995): Việt Nam qua lăng kính giới, Hà
Nội.
69. Đặng Thị ánh Tuyết (2005), Thực hiện bình đẳng giới các tỉnh miền núi phía
Bắc nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh.
70. Ủy ban Dân tộc và miền núi (2001), Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước
ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
71. Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Báo cáo tình hình hoạt động vì sự tiến bộ của
Phụ nữ.
72. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Báo cáo tình hình hoạt động vì sự tiến bộ của
phụ nữ.
73. UNDP (2002), Bài viết về chính sách bình đẳng giới, UNDP, Niu -ooc, Hoa Kỳ.