Việc truyền bá đạo tin lành và ảnh hưởng của nó ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía bắc nước ta hiện nay - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VĂN HÀ

VIỆC TRUYỀN ĐẠO TIN LÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI -2004


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VĂN HÀ

VIỆC TRUYỀN ĐẠO TIN LÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNXHKH
Mã số:

5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn: PGS. TS NGUYỄN QUỐC PHẨM


DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở NƢỚC TA

31

2.1. Một số đặc điểm vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

31

Chương 2.

có liên quan đến hoạt động truyền đạo Tin Lành
2.2. Diễn biến và đặc điểm du nhập đạo Tin Lành vào vùng dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc

35

2.3. Nguyên nhân du nhập và phát triển của đạo Tin Lành vào

41

vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong thời gian qua
2.4. Những ảnh hƣởng của việc truyền đạo trái phép vào đồng
bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

46

NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ẢNH HƢỞNG
TIÊU CỰC CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN ĐẠO TIN LÀNH TRÁI PHÉP
VÀO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
NƢỚC TA HIỆN NAY

chiều sâu, đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp phù hợp. Một trong
những vấn đề bức xúc vào những năm gần đây là sự phát triển trái phép của
đạo Tin Lành đã và đang gây ra những hậu quả phức tạp, tác động tiêu cực
đến mối quan hệ nội bộ các dân tộc thiểu số và giữa đồng bào thiểu số theo
đạo Tin Lành với tổ chức Đảng và chính quyền địa phƣơng.
Sự thiếu thống nhất trong nhận thức, đánh giá về đạo Tin Lành và
vận dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng của một số cấp uỷ, chính
quyền, ban ngành địa phƣơng, đã dẫn đến tình trạng lúng túng, thiếu nhất
quán không đồng bộ và kém hiệu quả trong chỉ đạo giải quyết vấn đề về
đạo Tin Lành trong một số địa bàn thuộc dân tộc thiểu số.
Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đang ra sức tập trung tấn công
xoá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng chiến lƣợc “diễn biến hoà bình”, đồng thời
tạo cớ răn đe, can thiệp bằng bạo lực khi có điều kiện. Chúng đang ra sức
lợi dụng chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay để
xâm nhập vào các dân tộc ít ngƣời, lợi dụng những khó khăn, thiếu sót
trong việc chăm lo đời sống và tinh thần đối với đồng bào thiểu số ở các
1


tỉnh miền núi phía Bắc để lôi kéo quần chúng bằng kinh tế, văn hoá, lợi
dụng những sơ hở thiếu sót của ta trong việc xử lý các vấn đề tôn giáo và
dân tộc để chia rẽ kích động quần chúng hòng tạo ra nhân tố mất ổn định
lâu dài, phá hoại công cuộc xây dựng đất nƣớc của nhân dân ta.
Văn kiện nghị quyết lần thứ VII của Ban chấp hành Trung ƣơng
khoá IX của Đảng ta đã chỉ rõ: “ở một số nơi, nhất là ở vùng dân tộc thiểu
số, một số ngƣời đã lợi dụng tín ngƣỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt
động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,
gây mất ổn định chính trị” [12, tr.45]. Nghiên cứu, khắc phục ảnh hƣởng
tiêu cực của việc truyền đạo Tin Lành vào đồng bào dân tộc thiểu số ở các
tỉnh miền Bắc nƣớc ta hiện nay là vấn đề mới rất cần thiết có những cứ liệu

Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các phƣơng pháp lịch sử, lôgic điều
tra
khảo sát thực tế, kết hợp lý luận với thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Đánh giá đúng đắn ảnh hƣởng tiêu cực của việc truyền đạo Tin
Lành vào các tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tôn
giáo các tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta hiện nay.


- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu đạo Tin lành
và vận dụng trong việc nghiên cứu trong các môn học thuộc khoa học Mác
-Lênin.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chƣơng (09 tiết).
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN LÀNH TRÊN THẾ GIỚI
VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP ĐẠO TIN LÀNH VÀO VIỆT NAM

1.1.

Quá trình hình thành về phát triển của đạo Tin Lành trên thế giới

Đạo Tin lành trên thế giới đƣợc gọi bằng nhiều tên khác nhau (Đạo thệ
phản), ( Đạo cải cách). Ngƣời theo Tin Lành gọi mình là ngƣời theo chúa Giê
Su ki tô,,còn ở Việt Nam tên gọi Tin Lành suất phát từ câu kinh thánh “ Hãy
đem Tin Lành đi giao giảng khắp thế gian”  2, tr .10 
Đạo Tin Lành ra đời trên cơ sở sự phân liệt của đạo Công giáo đầu

Từ lâu các lãnh chúa, các thị dân Đức, nhất là những ngƣời mang
nặng tƣ tƣởng dân tộc Đức bất bình với Giáo hội Rô Ma và xót xa khi thấy
tài sản tiền của nƣớc Đức chạy ra ngoài. Do đó ở nhiều nơi họ lên tiếng ủng
hộ những quan điểm của Luther chống lại Giáo hội Rô Ma.
Tuy nhiên các Giáo hội cao cấp, các nhà thần học kinh viện phản đối
Luther. Giáo hoàng giao cho bề trên dòng O-gut-xti-nô thuyết phục, răn đe


ngƣời tu sĩ "bƣớng bỉnh" này từ bỏ những ý đồ cải cách.
Năm 1518 tại Đại hội đồng thƣờng niên dòng Ô-gut-xti-nô tại
Heidelbeng, Luther kiên trì quan điểm của mình về tuyên bố sẵn sàng tranh
luận với bất cứ ai về những nội dung cải cách mà ông khởi xƣớng. Năm
1519 tại Lepzich. Luther tuyên bố phủ nhận quyền lực của tòa thánh và
cộng đồng chung, chỉ công nhận chỉ có chúa Giêsu và kinh thánh.
Năm 1520, khi tranh luận với các đại biểu thần học kinh viện. Luther
liên tiếp cho ra đời 3 tác phẩm với nội dung lên án giáo quyền Rô Ma, nhất
là quyền bính của Giáo hoàng đã lần lƣợt thế quyền, phê phán các nghi
thức tự do đề cao vai trò cá nhân trong đời sống tín ngƣỡng.Ông cũng đã
thể hiện toàn bộ quan điểm cải cách tôn giáo của mình.
Tháng 6 - 1520, Giáo hoàng ban sắc lệnh phủ nhận giáo thuyết của
Luther và ra lệnh tuyệt thông nếu 60 ngày ông không chịu hối cải, Luther
phản ứng lại bằng việc đốt sắc lệnh của Giáo hoàng trƣớc đông đảo công
chúng tại trƣờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Ông nói: "Mọi việc đã
quyết định xong rồi, đời tôi sẽ không bao giờ làm hòa với Lamã".
Hoàng đế CharleV đƣợc Giáo hoàng giao quyền thi hành kỷ luật đối
với Luther nhƣng đã tỏ ra ngần ngại không dám đụng chạm đến lực lƣợng
ủng hộ Luther. Song trƣớc sức ép của tòa thánh và để vừa lòng các vua
chúa phong kiến, Charle V triệu tập hội nghị toàn đế quốc cho Luther đến
tự bào chữa. Tại hội nghị, Luther tiếp tục bác bỏ giáo quyền Rô Ma. Hội
nghị đã quyết định đốt hết các tác phẩm của Luther và đƣa ông lên giàn

giáo sĩ bảo thủ cũng nhƣ các chúa phong kiến Savoi (Bắc Italia). Năm
1538, Giăng Can-vanh và Farel bị đuổi ra khỏi Giơ-ne-vơ trong tình hình
chính trị ở đó đang lộn xộn. Năm 1541 dân chúng Giơ-ne-vơ kêu gọi


Giăng Can-vanh trở lại với tƣ cách của ngƣời chiến thắng. Tại Giơ-ne-vơ
ông bắt tay vào việc tổ chức lại chính quyền và giáo quyền đi theo xu
hƣớng độc tài, trong đó chính quyền thế tục phải phụ thuộc vào giáo
quyền. Đặc biệt, Giăng Can-vanh tỏ thái độ không khoan nhƣợng đối với
những ngƣời có khuynh hƣớng tôn giáo khác biệt. Giăng Can-vanh còn
mở trƣờng giáo sỹ ở Giơ-ne-vơ để đào tạo giáo sỹ đƣa đi hoạt động ở
Anh, Pháp, Đức, Hà Lan... làm nòng cốt cho cuộc cải cách. Cùng với việc
đƣa ra một giáo thuyết mới, Giăng Can-vanh đã cải cách một cách "khá
hợp lý" về lễ nghi, tổ chức Giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các tổ
chức hệ phái Tin Lành.Về Calvin, Ăng Ghen đánh giá : "Calvin đã làm
nổi bật tính chất tư sản của cuộc cải cách, cộng hoà hoá và dân chủ hoá
nhà thờ - cuộc cải cách của Canvanh đã trở thành lá cờ cho những người
cộng hoà ở Giơ ne vơ . ở Hà Lan và ở X cốt len... và đã cung cấp một bộ
áo tư tưởng cho màn thứ hai của cách mạng tư sản diễn ra ở Anh . Ở đây
Calvin tỏ ra là một sự ngụy trang cho giai cấp tư sản cho lợi ích của giai
cấp tư sản hồi đó bằng bộ áo Tôn giáo"  22, tr .387- 451 .
Cùng với Giăng Can-vanh, phong trào cải cách ở Thụy Sĩ còn có ông
Zwingli (1484 - 1531). Ông là một linh mục từ rất sớm đã ủng hộ và tích
cực tham gia cuộc đấu tranh chống lại việc ban "ơn toàn xá" của Giáo
hoàng Lê-ô X. Năm 1517, Ông công kích mạnh mẽ việc "chuộc tội", nhờ
hành hƣơng viếng đền thờ Đức Mẹ Đồng trinh vào năm 1522, Ông tuyên
bố dứt khoát ly khai với Giáo hội Lamã. Ông nói: "Duy chỉ có một mình
chúa Giêsu là đối tƣợng xứng đáng cho ta thờ kính, tôn vinh. Ấy vậy mà
phẩm trật Lamã chủ trƣơng rằng mình làm trọng tài giữa đấng Christ với
dân Ngài có quyền rao giảng trong giáo thuyết,... Lễ Mi-sa chẳng làm tăng

Giăng Can-vanh, nhƣng cách thức hành đạo dựa theo nghi lễ Công giáo Rô
Ma. Về tổ chức, Anh giáo lập Giáo hội riêng, không quan hệ với Giáo hội
Rô Ma, nhƣng duy trì cơ cấu tổ chức và hàng giáo phẩm theo Công giáo,
vẫn có các địa phận, giáo xứ, vẫn có các chức giám mục, linh mục, mặc dù
họ không sống độc thân nhƣ giáo sỹ Công giáo.
Với nội dung trên, Anh giáo đƣợc coi là gạch nối giữa Công giáo và
Tin Lành, đƣợc xếp vào phong trào cải cách tôn giáo ở thế kỷ XVI hình
thành đạo Tin Lành. Nói một cách hình ảnh, Anh giáo là một tôn giáo đem
tinh thần Tin Lành đặt trong một thân thể Công giáo.
Địa bàn tồn tại của Anh giáo chủ yếu là ở Anh, Mỹ và các thuộc địa
cũ của Anh. (Hiện nay trên thế giới có 27 Giáo hội Anh giáo, với khoảng
70 triệu tín đồ) tuy nhiên ra khỏi nƣớc Anh, một bộ phận Anh giáo không
còn giữ nguyên "tính chất Anh giáo" mà hòa nhập chung, sống với các hệ
phái Tin Lành khác.
- Giáo lý, lễ nghi và tổ chức
+ Giáo lý: Tin Lành có nhiều tổ chức hệ phái và mặc dù có những
điểm khác nhau về giáo thuyết, nghi thức và hành đạo cũng nhƣ cách tổ
chức Giáo hội, nhƣng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung nguyên
tắc chính, có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo nhƣ sau:
Giống nhau: Trƣớc hết, Kinh thánh Tin Lành và Công giáo đều đƣợc
chứa đựng trong Kinh thánh, gồm 2 bộ "Cựu ước" và "Tân ước".
Về "Cựu ước": là bộ giã sử của đạo Tin Lành Do Thái và là Kinh
thánh của đạo Do Thái. "Cựu ước" gồm 46 quyển, có thể chia làm 3 loại
nhƣ sau:


Sách lịch sử gồm 5 quyển (Sáng thế ký, Edit tô ký, Lêvi ký, dân số
ký, Phục truyền lệ ký, do Maixen viết về sự tạo dựng vũ trụ con ngƣời của
Thiên Chúa, về sự tích dân Do Thái cùng luật pháp, phong tục tập quán và
truyền thống văn hóa của đạo Do Thái.

quyền kê cứu giảng giải nhƣ Công giáo. Tất cả các tín đồ, giáo sỹ đạo Tin
Lành đều sử dụng Kinh thánh, nói và làm theo Kinh thánh.
Quan niệm về thế giới: Tin Lành và Công giáo cơ bản đều giống
nhau, đó là niềm tin vào Thiên Chúa và sự màu nhiệm của Thiên Chúa.
Theo giáo lý, Thƣợng đế có trƣớc đời đời, có trƣớc cả không gian và thời
gian. Thiên Chúa có 3 ngôi: ngôi thứ nhất là cha; ngôi thứ hai là con; ngôi
thứ ba là thánh thần. Tuy là 3 ngôi nhƣng cũng cùng chung một bản thể là
Thiên Chúa. Ngôi 2 bởi ngôi 1 mà ra. Ngôi 3 bởi ngôi 1 và ngôi 2 mà ra.
Ba ngôi "đồng đẳng, đồng vinh, đồng quyền" nhƣng mỗi ngôi có một chức
năng, vai trò khác nhau đối với con ngƣời.
Ngôi 1: Cha, tạo dựng; ngôi 2: Con, cứu chuộc; ngôi 3: Thánh thần,
Thánh hóa.
Thiên Chúa là đấng sáng tạo nên trời đất và muôn loài từ hƣ không.
Kinh "Cựu ước" kể lại rằng: Thiên Chúa tạo dựng trời đất trong 6 ngày.
Ngày thứ nhất, tạo nên sự sáng và tối; đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là
đêm. Ngày thứ hai, tạo ra không gian, quen gọi là trời. Ngày thứ ba, tạo ra
đất, nƣớc, cỏ cây. Ngày thứ tƣ, tạo ra các tinh tú trên trời làm cơ sở phân
chia ngày đêm, tháng, năm, thời tiết. Trong đó, có hai vì tinh tú lớn là mặt
trời cai trị ban ngày, mặt trăng cai trị ban đêm. Ngày thứ năm, tạo ra muôn


vật; chim trên trời, cá dƣới nƣớc; muông thú trong rừng. Ngày thứ sáu, tạo
nên con ngƣời, Ngày thứ bảy, sau khi hoàn tất sự sáng tạo của mình Thiên
Chúa nghỉ. Ngày này, còn gọi là ngày Chúa nhật hay là ngày chủ nhật.
Đạo Tin Lành cũng nhƣ Công giáo đều cho rằng: Con ngƣời đƣợc
Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh của mình, có nhiệm vụ thờ phụng Thiên
Chúa và tiếp tục sự nghiệp kiến tạo trái đất của Thiên Chúa. Kinh "cựu
ước" kể rằng: Con ngƣời đầu tiên đƣợc Thiên Chúa sáng tạo, bằng cách lấy
bụi đất nặn thành ngƣời con trai, đặt tên là Ađam. Ađam có nghĩa là "ngƣời
đầu tiên". Sau đó, Thiên Chúa thấy Ađam sống một mình đơn độc, bèn bẻ

hiện nay. Cuộc sống của loài ngƣời lại tiếp tục sa ngã và mắc vào tội lỗi,
Thiên Chúa phải ra tay cứu vớt loài ngƣời một lần nữa.
Tin Lành cũng giống với Công giáo tin rằng một ngày kia toàn thế
giới sẽ bị hủy diệt, con ngƣời sẽ chết.
Những điểm khác nhau giữa đạo Công giáo và Tin Lành:
Tin Lành không thừa nhận những vị Thánh, Thiên Thần, Đức Mẹ
của đạo Chính Thống và Thiên Chúa. Ở họ, đức chúa ba ngôi giữ một địa
vị hoàn toàn độc quyền. Điểm chủ yếu phân biệt đạo Tin Lành với đạo
Thiên Chúa và chính giáo là học thuyết về mối liên hệ trực tiếp của chúa
với con ngƣời. Theo quan niệm của các tín đồ đạo Tin Lành, Thiên huệ là
do chúa ban cho con ngƣời không thông qua Giáo hội, "sự cứu rỗi" chỉ đạt
đƣợc nhờ lòng tin cá nhân của con ngƣời và nhờ ý muốn của Chúa. Học
thuyết này đã phá hoại địa vị đứng đầu của quyền lực Giáo hội đối với
chính quyền và vai trò thống trị của Giáo hội Thiên Chúa giáo và Giáo
hoàng Lamã, đã giải phóng con ngƣời ra khỏi xiềng xích phong kiến và làm


thức tỉnh ở họ những tình cảm về sở hữu cá nhân, những quan niệm cá
nhân tƣ sản,.... Do thái độ khác của con ngƣời đối với Chúa, nên không chỉ
giới thầy tu và Giáo hội mà cả việc thờ cúng trong đạo Tin Lành cũng đƣợc
quy vào địa vị thứ yếu. Tin Lành bác bỏ tín điều lạc lõng, thô thiển và ngây
dại nhƣ chuyện Eva là mẫu xƣơng sƣờn của Ađam. Đức mẹ Maria còn
đồng trinh sau khi sinh chúa Giêsu.  13, tr.84 
+ Lễ nghi: đạo Tin Lành là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong
đức tin. Đạo này cho rằng hạnh phúc... đến với con ngƣời là do đức tin chứ
không phải vì những "hình thức tại ngoại", tức là luật lệ, lễ nghi. Do đó,
luật lệ, lễ nghi và cách thức hành đạo của Tin Lành đơn giản, không cầu kỳ,
phức tạp nhƣ Công giáo.
Đạo Tin Lành không có việc thờ cúng các tƣợng thánh và thánh tích.
Con số của các bí tích đƣợc rút xuống còn có hai (Lễ Rửa tội và lễ Ban

phúc, tha tội cho tín đồ, không phải là cầu nối trung gian trong mối quan hệ
giữa tín đồ với đấng thiêng liêng. Do đó, vai trò của giáo sỹ Tin Lành
không tuyệt đối nhƣ giáo sĩ Công giáo.
Tin Lành tuy tách ra từ Công giáo nhƣng không lập ra tổ chức ra
Giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo, mà tổ chức theo hƣớng xây
dựng các Giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo
từng hệ phái, hay theo quốc gia theo cơ cấu tổ chức Giáo hội. Các hệ phái
Tin Lành chủ trƣơng giao quyền tự trị cho các Giáo hội cơ sở. Chi hội, các
cấp Giáo hội bên trên hình thành phù hợp với hoàn cảnh cho phép. Thậm
chí, một số hệ phái Tin Lành còn cho tín đồ, giáo sỹ tự do tách khỏi hệ phái
này, hay hệ phái khác hoặc tách ra đứng độc lập.
Giáo hội Tin Lành không cấu thành bởi các vị giáo sỹ một cách cố


định nhƣ Công giáo mà cả tín đồ, giáo sỹ tham gia bầu cử một cách dân
chủ. Đại hội các cấp của Giáo hội (Đại hội đồng) có vị trí đặc biệt quan
trọng trong việc thay đổi cơ cấu tổ chức nhân sự, lề lối làm việc của Giáo
hội và hoạt động tôn giáo, xã hội.
Tóm lại, sự ra đời của đạo Tin Lành là sự cải cách tôn giáo theo tƣ
tƣởng dân chủ tƣ sản và khuynh hƣớng tự do cá nhân. Vì vậy, nó đã nhanh
chóng chiếm đƣợc cảm tình của các tầng lớp tƣ sản, trí thức, công chức và
thị dân nói chung trong xã hội tƣ sản hiện đại. Với sự nhấn mạnh tính năng
động và chiều sâu lý tính cá nhân, Tin Lành đã nhanh chóng thích ứng với
mọi hoàn cảnh chính trị - xã hội và trở thành niềm tin tôn giáo của nhiều
tầng lớp trong xã hội. Nhất là trong thời đại ngày nay, trƣớc những biến
động phức tạp của thế giới, Tin Lành đã trở thành một trong những tôn giáo
có tính Quốc tế. “Có sắc thái mới, thu hút nhiều tầng lớp trong xã hội hiện
đại, nhất là tầng lớp trí thức, công chức, vì vậy giới chủ nhà cầm quyền các
nước tư bản vẫn khuyến khích thậm chí đầu tư tư bản thêm để cho các giáo
phái Tin Lành trở nên hùng mạnh và xuất những món hàng tôn giáo này ra

chặn ảnh hƣởng của Mỹ ở châu Á và căn cứ vào quyền tự do truyền đạo
của Công giáo ghi trong Hòa ƣớc 6 - 6 - 1884, Toàn quyền Pháp ở Đông
Dƣơng cấm Tin Lành hoạt động. Năm 1927, lệnh này bị hủy bỏ, Tin Lành
đƣợc hoạt động trở lại.
- Năm 1927, Đại hội đồng Tin Lành Việt Nam lần thứ IV ở Đà Nẵng
bầu Ban trị sự Tổng Liên hội do mục sƣ Hoàng Trọng Thừa làm hội
trƣởng. Điều lệ của Tổng Liên hội đƣợc thông qua năm 1928. Năm 1932,
Tin Lành bắt đầu truyền giáo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây


Nguyên và năm 1933 các giáo sỹ xây dựng Tin Lành ở các tỉnh miền Bắc.
Để tránh sự nghi ngờ của Nhật, năm 1942, các giáo sỹ Tin Lành ra tuyên
bố: đạo Tin Lành không "tham gia chính trị". Đến đây, Tin Lành đã chính
thức trở thành một tổ chức tôn giáo ở Việt Nam.Năm 1942 Chính quyền
thuộc địa mới thực sự công nhân tƣ cách pháp nhân của tổ chức này  32, tr
129 . Tuy nhiên, quá trình du nhập vào Việt Nam, Tin Lành đã gặp không

ít khó khăn: sự chèn ép của Công giáo và sự cấm đoán của chính quyền
thuộc địa. Năm 1954, Tin Lành ở Việt Nam đã có 100 mục sƣ truyền đạo
và 6 vạn tín đồ.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đạo Tin Lành ở hai miền
Nam - Bắc có khác nhau. Ở miền Bắc, số đông giáo sỹ, tín đồ đã di cƣ
vào miền Nam. Số còn lại khoảng 5 nghìn ngƣời và gần chục mục sƣ.
Năm 1955, những giáo sỹ, tín đồ còn lại ở miền Bắc lập Giáo hội riêng
lấy tên là Tổng Hội Hội thánh Tin Lành miền Bắc với tôn chỉ hoạt động
"kính chúa yêu nƣớc".
Ở miền Nam từ năm (1954 - 1975), lợi dụng chiến tranh xâm lƣợc
của Mỹ, đạo Tin Lành ở Mỹ tăng cƣờng phƣơng tiện, giáo sỹ giúp Tổng
Liên hội Hội thánh Tin Lành miền Nam mở rộng cơ sở truyền giáo và đào
tạo giáo sỹ. Chẳng hạn: chuyển trƣờng Kinh thánh ở Đà Nẵng vào Nha


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status