Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay - Pdf 34

1

1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung
sống, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc chiếm đa số, còn lại là 53 DTTS khác.
Đồng bào DTTS chủ yếu sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và nơi biên
cương của Tổ quốc. Đây là nơi còn có nhiều khó khăn, địa bàn chia cắt;
nhưng lại có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, phên dậu của đất nước.
Vấn đề dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là vấn đề chiến
lược, cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện của
Đảng từ trước đến nay luôn thể hiện nguyên tắc: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”. Tính nguyên tắc ấy được
thể hiện nhất quán trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng… Đó cũng là sự thể hiện ý chí của Đảng Cộng sản
Việt Nam, của bản chất Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đi vào cuộc sống của đồng bào các DTTS, công tác tuyên truyền chính
sách dân tộc ở vùng đồng bào DTTS là hết sức quan trọng. Trong thời kỳ
mới, đất nước ta bước vào thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, vùng DTTS đã
từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Việc đẩy
mạnh công tác tuyên truyền nói chung, công tác tuyên truyền chính sách dân
tộc ở vùng DTTS nói riêng, đó cũng chính là một trong những nhiệm vụ công
tác tư tưởng của Đảng.
Vùng núi, vùng DTTS cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội
cần có sự phát triển để tiến kịp miền xuôi. Do vậy Đảng, Nhà nước, các doanh
nghiệp cần có sự quan tâm hơn nữa đối với đồng bào các DTTS. Việc tăng
cường hơn nữa công tác tuyên truyền chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào DTTS

và nhà nước ở các cấp” [20; tr244.245].
Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi
mới,chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi
mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển


3

3

kinh tế xã hội vùng vùng núi vùng DTTS phát triển đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH.
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, (theo kết quả điều tra ngày
01/4/2009) trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm
85,89% dân số của tỉnh. Dân số là người DTTS chiếm 14,11% số dân toàn
tỉnh. Trong số các DTTS dân tộc Mường chiếm 13,62%; dân tộc Dao chiếm
0,92%; dân tộc Sán Chay chiếm 0,22%; dân tộc Tày chiếm 0,15%; dân tộc
Mông chiếm 0,05%; dân tộc Thái chiếm 0,04%...
Trong những năm gần đây, công tác tuyên truyền chính sách dân tộc
có sự thay đổi cả về hình thức lẫn nội dung, các chính sách đã được tuyên
truyền rộng rãi cho đồng bào dân tộc như chính sách 135, 134, 167…đời sống
nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt. Xuất phát từ đặc điểm các DTTS
thường cư trú ở những địa bàn hiểm trở, phức tạp, phong tục tập quán các dân
tộc khác nhau và còn nhiều lạc hậu, chính vì vậy mà công tác tuyên truyền hết
sức chú trọng. Qua các báo cáo cho thấy trên địa bàn tỉnh đa số các chính sách
của Đảng và Nhà nước đều được đa số quần chúng tin và làm theo, tuy nhiên
một bộ phận nhỏ bị các thế lực thù địch lôi kéo, nên luôn tìm cách chống phá
Đảng ta. Các vấn đề đó một phần do nhận thức người dân còn thấp, thiếu hiểu
biết; mặt khác công tác tuyên truyền nói chung và tuyên truyền chính sách
dân tộc nói riêng ở một số địa phương của tỉnh Phú Thọ còn chưa hiệu quả.

bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam.
- GS.TS Phan Hữu Dật (2001): “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã phân tích và đưa ra những nhận thức mới về
khái niệm dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng ta.
- TS. Trịnh Quang Cảnh (2013): “Một số vấn đề cơ bản về công tác dân
tộc”, nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích và bình luận
những kiến thức cơ bản về vấn đề dân tộc, quản lý xã hội về dân tộc trong
thời kỳ mới. Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách dân tộc của Đảng,
Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.


5

5

Thứ hai, nhóm vấn đề liên quan đếnchính sách bao gồm các công trình
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội, Khoa
dân tộc học (1995): “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta”. Nội dung cuốn sách làm rõ những vấn đề cơ bản về dân tộc và chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong những năm đổi mới.
- Ủy ban Dân tộc và miền núi (2001): “Về vấn đề dân tộc và công tác
dân tộc ở nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đề ra
vấn đề tìm hiểu quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và
nêu những yêu cầu, nhiệm vụ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc
hiện nay.
- TS. Trịnh Quang Cảnh (2005): “Phát huy vai trò đội ngũ trí thức
người dân tộc thiểu số trong công cuộc đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã làm rõ vai trò đội ngũ trí thức trong công
cuộc đổi mới đất nước.

lượng chương trình, nhằm tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc
miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam.
Tóm lại có thể thấy các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở
Trung ương và địa phương đều có giá trị rất lớn về cả mặt lý luận và thực
tiễn. Các tác giả đã đề cập nhiều vấn đề khác nhau trong các lĩnh vực như:
Vấn đề dân tộc, đặc điểm dân tộc, công tác dân tộc… Tuy nhiên các công
trình ấy vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về: “Công tác tuyên truyền
chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ hiện nay”. Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã được công
bố. Những tài liệu nêu trên sẽ giúp ích cho tác giả trong việc tham khảo để
nghiên cứu đề tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác tuyên truyền
và đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng
bào DTTS. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ hiện nay.


7

7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, phân tích làm rõ một số khái niệm công cụ và lý luận về
công tác tuyên truyền; sự cần thiết phải tiến hành công tác tuyên truyền
chính sách dân tộc;
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra về công
tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa

thời chỉ ra những nguyên nhân của việc thực hiện công tác tuyên truyền chính
sách dân tộc vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất
một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền chính
sách dân tộc ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công
tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào DTTS nói chung và
công tác tuyên truyền chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng,
từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên
truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
trong thời gian tới.
Ngoài ra luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại học, đồng thời làm rõ những vấn đề
có liên quan đến công tác tuyên truyền, chính sách dân tộc ở vùng đồng bào
các DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho các đọc giả quan tâm tới vấn đề trên.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được kết cấu theo 3 chương, 9 tiết.


9

9

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀNCHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở
vùng đồng bào DTTS

trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc
đối tượng hành động theo những định hướng nhất định và các mục tiêu đề ra.
Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận
nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích,
thế giới quan ấy.
Tuyền truyền có ba nội dung chủ yếu là: Thông tin; giáo dục và vận
động quần chúng; tổ chức quần chúng đi tới hành động.
Như vậy qua các quan điểm của các nhà khoa học đã trình bày ở trên
chúng ta có thể hiểu khái niệm tuyên truyền như sau: Tuyên truyền là hoạt
động truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của một chính
đảng, một giai cấp đến đông đảo công chúng trong xã hội nhằm nâng cao
nhận thức và thúc đẩy tính tích cực của họ để thực hiện mục đích chủ thể hệ
tư tưởng của một chính Đảng trong xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng
cũng như trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Công tác tuyên
truyền thể hiện ở chỗ nó truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã
hội. C.Mác đã khẳng định:
“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực
lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất,
một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. [27; tr580].
Điều đó có ý nghĩa là để biến “lý luận thành lực lượng vật chất” công
tác tuyên truyền có vai trò vô cùng quan trọng cho nên nó phải được coi trọng
và được đặt lên hàng đầu.


11

11


12

12

lệ 14,27% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành
và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ
nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.
Khái niệm DTTS trước tiên cần phải hiểu khái niệm DTTS là một trong
những hình thái cộng đồng tộc người quan trọng nhất của quá trình phát triển
nhân loại. Việc nghiên cứu dân tộc không chỉ quan trọng về mặt nhận thức mà
cả về thực tiễn.
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam khái niệm dân tộc được hiểu:
Thứ nhất, Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị -xã
hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, trải rộng trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu
được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của
nhiều cộng đồng mang tính tộc người (Ethnic) của bộ phận tộc người.
Thứ hai, Dân tộc (Nation) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính
tộcngười (Ethnic), cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số
của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau được liên kết với
nhau bằng những đặc điểm, ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác
tộc người. [41; tr.655].
Hay chúng ta có thể hiểu dân tộc theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa rộng, dân tộc là để chỉ cộng đồng quốc gia dân tộc như
dân tộc Việt Nam, dân tộc Nga, dân tộc Lào, dân tộc Campuchia…
- Theo nghĩa hẹp, dân tộc là để chỉ cộng đồng các (tộc người) có quốc
tịch thuộc một cộng đồng quốc gia dân tộc, như dân tộc Kinh, Mường, Jrai…
thuộc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khi đề cập tới thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học
được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Khái niệm “dân tộc thiểu số”

của Chính phủ về công tác dân tộc như sau:
DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm
vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Dân tộc đa số là dân
tộc có số dân trên 50% tổng dân số cả nước. [34; tr.2].
Từ những luận giải trên chúng ta có thể hiểu khái niệm DTTS: Dân tộc
thiểu số là một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng sinh
sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, có số dân ít hơn so
với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
1.1.2.2 Chính sách dân tộc
Ở đây để hiểu khái niệm chính sách dân tộc cần giải quyết ở ba cấp độ:
chính sách; chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và chính sách dân
tộc (được hiểu là chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam).
Khái niệm chính sách: Là cách thức tác động có chủ đích của một
nhóm, tập đoàn xã hội này vào những nhóm tập đoàn xã hội khác thông
qua các thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện mục
tiêu đã được xác định trước.


14

14

Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Là muốn nhấn mạnh đến
chủ thể trong mối quan hệ với đối tượng; chủ thể tác động là Đảng, Nhà nước
Việt Nam với mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, dân giàu nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thông qua quyền lực, công cụ, luật
pháp nhằm bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ, nếu không sẽ bị cưỡng chế
thực hiện hoặc nếu vi phạm pháp luật thì sẽ bị xét xử theo luật định.
Chính sách dân tộc (được hiểu là chính sách dân tộc của Đảng và Nhà

Chính sách dân tộc là hệ thống các nguyên tắc, chủ trương, giải pháp
phát triển đối với các dân tộc nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Do đó hoạt động
tuyên truyền là truyền bá chủ trương, đường lối, chính sách về kinh tế của
Đảng, Nhà nước cho vùng đồng bào DTTS nhằm nâng nhận thức, cung
cấp tri thức, các nguyên tắc, chủ trương, giải pháp phát triển trên các lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, văn hóa…để đảm bảo sự thống nhất của cộng đồng
quốc gia dân tộc.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã tổng kết bài học kinh
nghiệm số một của cách mạng nước ta là "Trong toàn bộ hoạt động của mình,
Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động", yêu cầu thực hiện có nền nếp phương
châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Đồng thời, Đảng cũng
khẳng định công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn
thể nhân dân. Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể
mà là trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị cần sự phối hợp
với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi cán bộ đảng viên và nhân viên Nhà
nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức năng của mình.
Để làm được điều đó công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng
đồng bào DTTS có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện:
Tuyên truyền là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tư
tưởng có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với quần chúng nhân dân.


16

16

Tuyên truyền góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hình

17

những tồn tại, yếu kém để cùng nhau khắc phục, xây dựng tinh thần đoàn kết,
bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Trong công tác tuyên truyền, việc tôn vinh người tốt, biểu dương việc tốt,
bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong đồng bào các DTTS cần
được quan tâm chú trọng. Công tác tuyên truyền cần đẩy mạnh các phong trào thi
đua yêu nước trong vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Thực hiện tốt các cuộc
vận động về từng lĩnh vực cụ thể và cuộc vận động chung “Toàn dân đoàn kết
phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong kinh tế thị trường, tuyên truyền phổ biến cách làm ăn mới, hướng
dẫn việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, động
viên đồng bào tích cực XĐGN, vươn lên làm giàu đó là những nhiệm vụ quan
trọng của cán bộ tuyên truyền. Tuyên truyền và hướng dẫn ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất để chuyển dịch
mạnh cơ cấu kinh tế trong vùng đồng bào DTTS. Khuyến khích phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyên chế biến nông, lâm, thuỷ sản trong vùng
đồng bào dân tộc. Đồng thời phát triển mạnh mạng lưới thương mại liên tỉnh huyện - cụm xã và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông
hàng hoá, tạo động lực cho sản xuất, dịch vụ phát triển ở các xã thuộc vùng
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Trong giao lưu quốc tế, việc tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS
tích cực tham gia xây dựng đời sống văn hoá, phát triển giáo dục, y tế; phòng,
chống các tệ nạn xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu cần được quan tâm đúng
mức. Song song với việc tăng cường xây dựng các thiết chế văn hoá ở cơ sở,
cần có biện pháp đẩy mạnh các hoạt động văn hoá - văn nghệ quần chúng
nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của
đồng bào các dân tộc; vận động và tạo điều kiện cho đồng bào giữ gìn, phát
huy truyền thống văn hoá của mỗi dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá



đều phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, lợi ích của giai cấp, của
dân tộc, tức là trên quan điểm của Đảng, Nhà nước để xem xét, đánh giá, phân


19

19

tích. Luôn coi trọng giáo dục nhận thức, mỗi cán bộ tuyên truyền chính sách
dân tộc phải tuyệt đối trung thành với đường lối, chính sách của Đảng về công
tác dân tộc, đồng thời luôn có ý thức tổ chức kỷ luật, nói và viết không được
trái với quan điểm đường lối của Đảng. Đồng thời cần kiên quyết đấu tranh
với các luận điệu thù địch, thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội.
Thứ hai: Tính khoa học và thực tiễn
Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc phải dựa trên các luận cứ
khoa học và thực tiễn của vùng núi, vùng DTTS để nhìn nhận, phân tích sự
vật, hiện tượng, từ đó thuyết phục cảm hóa đối tượng. Vì vậy cần phải gắn
thực tiễn, tổng kết thực tiễn trong tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng
đồng bào DTTS và miền núi nhằm giải đáp những thắc mắc đặt ra trong thực
tế để từ đó định hướng cho nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức,
phương tiện phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng tuyên truyền.
Thứ ba: Tính chân thật
Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc cần được trình bày một cách
khách quan dựa trên kết quả thực tiễn (thành tựu – thiếu xót và sai lầm) để
phân tích phản ánh sự vật và hiện tượng đúng theo bản chất của nó. Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường căn dặn người cán bộ cách mạng không được nói dối
dân, phải tôn trọng sự thật của các loại chính sách. Trong lúc khó khăn, nói rõ
cho đồng bào biết, giải thích rõ bản chất những khó khăn đó, nguyên nhân và
cách khắc phục. Từ đó phản ánh tâm tư nguyện vọng của đồng bào DTTS,
đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn chỉnh đường lối, chính sách của

tác tuyên truyền và hiệu quả tuyên truyền.
1.3.1 Chủ thể tuyên truyền
Chủ thể công tác tuyên truyền chính sách dân tộc là các cấp ủy đảng và
đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền. Ở nước ta, công tác tuyên truyền là
nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn hệ thống chính trị, đội ngũ này có
lực lượng chuyên trách, chuyên môn ở các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cụ thể:
Một là, các đảng bộ cơ sở, các chi bộ đảng trực tiếp tuyên tuyên truyền,
vận động quần chúng vùng DTTS hoặc thông qua đội ngũ đảng viên.


21

21

Hai là, mặt trận và các đoàn thể nhân dân làm công tác tuyên truyền
vận động đồng bào DTTS dưới sự lãnh đạo cuả cấp uỷ.
Ba là,nhà nước đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân thể hiện thông
qua hoạt động của bộ máy Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tổ chức
Nhà nước, cơ quan chính quyền có trách nhiệm làm công tác tuyên truyền,
vận động đồng bào dân tộc. Cán bộ, công chức Nhà nước phải tôn trọng dân,
gần dân, hiểu dân, phải biết tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc ủng
hộ chính quyền, hợp sức với chính quyền để thực hiện các nhiệm vụ đề ra.
Nhà nước quản lý bằng pháp luật và bằng vận động quần chúng.
Bốn là, các lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an, Bộ đội biên
phòng...) chủ động và phối hợp với các tổ chức chính quyền, Mặt trận, các
đoàn thể nhân dân làm công tác tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS.
Năm là, các cơ quan thông tin đại chúng (Báo chí, Đài phát thanh truyền hình...), các cơ quan văn hoá, văn nghệ có trách nhiệm thường xuyên
phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

cách khác công tác tuyên truyền là sự phản ánh những mong muốn ước
nguyện có chủ đích để đạt tới mục đích trong tương lai. Đồng thời là sự phản
ánh trước sản phẩm dự kiến của hoạt động tuyên truyền. Sản phẩm dự kiến đó
là một kiểu thế giới quan, một kiểu ý thức xã hội và ý thức cá nhân, là một
loại hình tích cực xã hội của con người. Mục đích thường được thể hiện thông
qua một hệ thống mục tiêu cụ thể thuộc từng mặt, từng bộ phận và nhiệm vụ
của công tác tuyên truyền trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng. Nói
cách khác, mục đích tuyên truyền chính sách dân tộc là làm cho mỗi cộng
đồng các DTTS hiểu và nắm được đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước và chính sách dân tộc. Khẳng định nguyên tắc nhất quán
của Đảng và Nhà nước ta là: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng
phát triển giữa các dân tộc”.


23

23

1.3.4 Nội dung tuyên truyền
Nội dung công tác tuyên truyền chính sách dân tộc là nội dung các hoạt
động mà chủ thể tuyên truyền xác định nhằm thực hiện mục đích đặt ra. Nội
dung công tác tuyên truyền chính sách dân tộc do mục đích công tác tuyên
truyền và nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng quy định.
1.3.5 Phương pháp tuyên truyền
Phương pháp công tác tuyên truyền chính sách dân tộc là tổng hợp các
phương tiện, thao tác, cách thức, quy trình mà chủ thể sử dụng để cung cấp
cho đối tượng những thông tin nhất định nhằm củng cố, bổ sung hoặc xây
dựng ở họ kiểu thế giới quan, nhân sinh quan mới về tự nhiên hoặc xã hội,
qua đó tác động đến nhận thức, thái độ và hiệu quả hành động thực tiễn của
họ trong đời sống xã hội, như vậy người làm công tác tuyên truyền cần nắm

Gần dân: Người cán bộ làm công tác dân tộc phải có cách tiếp cận tốt
với đồng bào DTTS, thái độ, tác phong, lối sống phải gần gũi với dân, không
được xa dân, cách biệt với dân. Tại nơi cư trú cũng phải luôn luôn gương
mẫu, tích cực tham gia mọi hoạt động của nhân dân địa phương.
Hiểu dân: Phải nghe được tiếng nói thực của đồng bào DTTS, ở địa
phương công tác, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào. Để hiểu được
đồng bào DTTS, thì cán bộ công tác ở nơi nào phải học để có thể nghe và nói
được tiếng dân tộc ở nơi đó.
Học dân: Người cán bộ phải khiêm tốn, biết lắng nghe, học hỏi đồng
bào DTTS, không được tự cho mình cái gì cũng giỏi, cái gì cũng biết.
Có trách nhiệm với dân: Phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, chăm lo
đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc. Cán bộ không phải là
"quan cách mạng" mà là "người đầy tớ thật trung thành của nhân dân", khi
làm việc cho dân phải làm cho tốt và phải xác định rõ : "Bao nhiêu lợi ích đều
vì dân".
Các yếu tố nêu trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, để người
tuyên truyền đưa được chính sách đến với đồng bào thì người tuyên truyền
phải gần dân sẽ hiểu dân và có trách nhiệm với dân, ngược lại nếu người
tuyên truyền không trọng dân thì sẽ không hiểu dân và tuyên truyền thiếu


25

25

trách nhiệm với dân, không học hỏi được kinh nghiệm của dân. Như vậy
người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền phải gắn bó mật thiết và không
tách rời nhau từ đó công tác tuyên truyền mới đem lại kết quả thực sự.
Thứ ba, cụ thể hoá chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thành
các chương trình, dự án


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status