BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
*
*
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÂM VĨNH ÁI
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂKLĂK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
*
*
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÂM VĨNH ÁI
thầy, cô và bạn bè.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./.
Phú Yên, ngày
tháng
năm 2017
Tác giả luận văn
Lâm Vĩnh Ái
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Quản lý công “Chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Yên” là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giả luận văn
Lâm Vĩnh Ái
MỤC LỤC
Mở Đầu.............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài luận văn ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ..................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ............................................................. 7
3.1. mục đích nghiên cứu: ................................................................................. 7
thiểu số từ thực tiễn tỉnh phú yên trong thời gian qua .................................... 43
2.3. Đánh giá chung về công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân
tộc thiểu số ...................................................................................................... 61
Chương 3 ......................................................................................................... 70
Các giải pháp hoàn thiện việc thực hiệnchính sách giảm nghèo bền vững đối
với đồng bào dân tộc thiểu số.......................................................................... 70
3.1. Quan điểm, mục tiêu thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với
đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh phú yên ........................................................... 70
3.2. Các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
đối với đồng bào dân tộc thiểu số ................................................................... 75
3.4. Một số kiến nghị....................................................................................... 85
Kết Luận .......................................................................................................... 92
Tài Liệu Tham Khảo ....................................................................................... 95
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLĐTBXH
: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
BTC
: Bộ Tài chính
DTTS
: Dân tộc thiểu số
ĐCĐC
MTTQVN
: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
NSTW
: Ngân sách Trung ương
NĐ-CP
: Nghị định – Chính phủ
NQ-CP
: Nghị quyết – Chính phủ
NQ-HĐND
: Nghị quyết – Hội đồng nhân dân
NQ/TU
: Nghị quyết/ Tỉnh ủy
PRPP
: Dự án hỗ trợ giảm nghèo
QĐ-TTg
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở
mọi quốc gia. Đói nghèo là một hiện tượng mang tính toàn cầu, nó không chỉ
tồn tại ở những nước nghèo có thu nhập thấp, mà ngay cả ở những nước có
nền kinh tế phát triển vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo nàn
cả về vật chất và tinh thần. Do đó, xóa đói giảm nghèo phải được xác định là
một chiến lược lâu dài và thường xuyên của mọi quốc gia. Đói nghèo Việt
Nam nói riêng, xóa đói giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn được Đảng và
Nhà nước xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển Kinh tế Xã hội của đất nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính
sách xóa đói giảm nghèo đã trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia và
được đưa vào kế hoạch định kỳ 05 năm của Chính phủ và các địa phương, đến
nay đã thực hiện qua 03 giai đoạn (1998-2000, 2001-2006, 2006-2010), hiện
nay đang thực hiện giai đoạn 2011-2015 và định hướng giai đoạn 2015-2020.
Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đồng thời
phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản quan trọng để hiện thực hóa trong cuộc sống, với hệ
thống các chương trình, chính sách, từ những chương trình, chính sách mà tên
gọi đã trở nên rất đỗi thân quen, gần gũi như “134”, “135”,... và cùng với
chương trình có ý nghĩa đột phá như Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62
huyện nghèo và mới đây nhất là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của
Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm
2020.
1
Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững
giai đoạn 2011-2015, cùng với cả nước nói chung, tỉnh Phú Yên cũng đã triển
khai thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm
nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Chương trình mục tiêu
tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cộng đồng vẫn còn phổ biến ở
nhiều địa phương. Đồng thời một số hộ nghèo có tâm lý không thích thoát
nghèo để được hưởng chính sách của Nhà nước, những điều như trên cũng đã
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
hiện nay. Chính vì vậy, trong giai đoạn đến (2016-2020) Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 về Phê duyệt
Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn
chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020’’.
Phú Yên thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ, có diện tích tự nhiên
5.060 km2 , vùng miền núi của tỉnh có diện tích 3.679 km2, chiếm 72% diện
tích toàn tỉnh. Trong đó, có 30 dân tộc thiểu số với 58.656 người chiếm
khoảng 6% dân số toàn tỉnh, chủ yếu tập trung ở 03 huyện miền núi Sông
Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân. Trong đó, dân tộc Ê đê: 23.535 người, chiếm
40,07%; Chăm: 21.579 người, chiếm 36,74%; Ba Na: 4.661 người, chiếm
7,94%; Tày: 2.626 người, chiếm 4,47%; Nùng: 2.372 người, chiếm 4,1%;
Hoa: 2.285 người, chiếm 3,9% và các dân tộc khác chiếm 3,18%[5].
Trong năm năm 2011-2015, toàn tỉnh đã có hơn 37.614 hộ thoát
nghèo; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,72% vào cuối năm 2015 đạt 118% kế
hoạch. Đặc biệt, huyện miền núi huyện Sơn Hòa hộ nghèo trên địa bàn
huyện giảm từ 27,38% cuối năm 2010 xuống còn 11% cuối năm 2015[ 5].
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỷ lệ hộ nghèo trong
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng cao; việc lòng ghép
chính sách, cân đối nguồn lực và công tác quản lý điều hành thực hiện chính
3
sách giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo động lực để người nghèo, hộ nghèo
vươn lên thoát nghèo.
Để chính sách giảm nghèo bền vững đem lại hiệu quả trong giai đoạn
đến, việc nghiên cứu, đánh giá thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững
Liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua, vấn
đề đói nghèo vẫn luôn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả với nhiều bài
viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn, các đề tài khoa học và các công
trình dưới dạng tài liệu tham khảo như:
Thực thi chính sách giảm nghèo của Nhà nước đối với đồng bào dân
tộc KHMer tỉnh Sóc Trăng (nghiên cứu trường hợp thực thi QĐ 74/2008/QĐTTg), luận văn thạc sĩ hành chính công của Mã Chí Thanh, năm 2010: Đề tài
đã nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo đối với đồng
bào dân tộc thiểu số; phân tích kết quả thực hiện và đánh giá các chính sách
xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, tìm ra được những tồn tại và nguyên
nhân của từng chính sách; đề ra được một số giải pháp để hoàn thiện chính
sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh trong thời gian đến.
Quản lý Nhà nước về công tác giảm nghèo đối với đồng bào thiểu số
trên địa bàn tỉnh Đắc Nông, luận văn thạc sĩ hành chính công của Trần Thị
Diễm Thúy, năm 2013: Đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm
nghèo; công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Đắc Nông;
đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong quản lý nhà nước đối với
công tác xóa đói giảm nghèo; đưa ra phương hướng và giải pháp để hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
Trong sách chuyên khảo “Chính sách xóa đói giảm nghèo -Thực trạng và
giải pháp” của PGS.TS. Lê Quốc Lý chủ biên, xuất bản năm 2012: Đã nêu một
số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương, đường lối của Đảng và
chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; Thực trạng đói nghèo ở Việt
5
Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010; một số
chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam thời gian qua; đánh
giá tổng quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn
2001-2010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời
gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm
năm 2015; đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền
vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng những lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững để thực
hiện tốt các chương trình, dự án phát triển KT-XH, từ đó giảm tỷ lệ hộ nghèo
đến mức thấp nhất, tiến tới thoát nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc
thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Tìm ra những bất cập của chính sách giảm
nghèo bền vững hiện nay và đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
chính sách giảm nghèo bền vững hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững
đối với đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta trong những năm đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn là nghiên cứu
những vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững và chính sách giảm
nghèo bền vững ở Việt Nam. Tìm hiểu thực trạng thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Phú Yên,
từ đó đánh giá kết quả thực hiện giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân
tộc thiểu số tại tỉnh Phú Yên hiện nay, đề ra mục tiêu, định hướng, giải pháp
hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số
trong thời gian đến.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách về công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân
tộc thiểu số của Nhà nước ta hiện nay đang thực thi trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Quá trình thực hiện đề tài sẽ tập trung nghiên cứu việc cụ thể hoá, tổ chức
triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, địa phương
của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và tỉnh Phú Yên
nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và
ngoài nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Các phương pháp luôn được phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, linh
hoạt tạo nên hệ thống các vấn đề được trình bày theo một trình tự lô gíc, diễn
giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ
sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam;
đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích chính sách công,
đánh giá chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững đối với đồng bào DTTS ở địa phương.
- Kết quả nghiên cứu luận văn minh chứng cho việc vận dụng các lý
thuyết phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong
quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối
với đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách giảm
nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững đã ban hành.
9
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn, trước hết là góp phần nâng cao nhận
thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội đoàn thể các cấp từ
tỉnh, huyện đến cơ sở và người dân hiểu rõ hơn về thực tiễn thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ
kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc
vững
1.1.1. Một số khái niệm về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1.1. Một số khái niệm liên quan về giảm nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu.
Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà còn tồn
tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào
điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc
gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia cũng khác nhau. Nhìn
chung, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghèo, tuy nhiên, thông thường
nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo không
chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận các
dịch vụ cơ bản của xã hội như: giáo dục, y tế, văn hoá; không những thiếu
tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế
kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có cả thị trường đất đai, vốn và lao động
cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận
hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh
doanh thuận lợi. Tình trạng nghèo còn đe dọa làm con người bị mất những
phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng.
Tại hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan
tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: Đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ
11
bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương. Theo định nghĩa này thì
mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là khác nhau.
Trong khi đó, theo Biên niên sử Liên hiệp quốc ngày 01/12/2002 thì
nghèo đói là sự thiếu hoàn toàn cơ hội, đi kèm với mức độ cao của nghèo đói,
thành thị, giữa các vùng, miền, các dân tộc và các nhóm dân cư, để thực hiện
mục tiêu giảm nghèo bền vững của cả nước.
1.1.2. Các tiêu chí xác định chuẩn nghèo
Ngày 30/01/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2011 - 2015.
Trong đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu/năm) trở xuống; ở thành thị có mức thu
nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu/năm) trở xuống. Như
vậy so với mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 - 2010
(200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở
thành thị) thì mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015
được điều chỉnh lên gấp 2 lần.
Cũng theo Quyết định này thì hộ cận nghèo ở nông thôn có mức thu
nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng;
ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến
650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn hộ nghèo, cận nghèo nêu trên là căn
cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách kinh tế - xã hội khác
và được áp dụng kể từ ngày 01/01/2011 (giai đoạn 2011-2015).
Trong giai đoạn đến (2016-2020) Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 về Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển
đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng
13
cho giai đoạn 2016-2020“ và ngày 19/11/2015 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 là:
Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị;
Khả năng tìm kiếm, nắm bắt cơ hội việc làm thấp: Người nghèo nói riêng
và người có thu nhập thấp nói chung luôn là đối tượng yếu thế trong thị
trường lao động vì họ có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo nghề hoặc
trình độ tay nghề chưa đáp ứng nhu cầu. Một số người có thu nhập thấp trên
chuẩn nghèo nhưng do công việc không ổn định nên họ có thể bị mất việc bất
cứ lúc nào.
Vốn xã hội của người nghèo chưa được phát huy: Vốn xã hội là khái
niệm chỉ một loại tài sản phi vật chất của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, cộng
đồng hay một quốc gia được tạo dựng qua các quá trình thực hiện giữa các
chủ thể xã hội (cá nhân, gia đình, cộng đồng, nhà nước). Chỉ số đo lường vốn
xã hội được thể hiện qua mức độ hợp tác, sự hỗ trợ từ bên ngoài và độ bền
vững của các mối quan hệ xã hội.
Qua phân tích tính đa dạng của giảm nghèo bền vững cho thấy Nhà nước
cần phải có những chính sách hợp lý, ngoài chính sách chung cần phải có những
chính sách cụ thể, phù hợp với từng đối tượng, từng vùng để hỗ trợ và khắc phục
những hạn chế về nhu cầu dinh dưỡng, sự bất bình đẳng giới, môi trường sống,
khả năng tìm kiếm nắm bắt cơ hội việc làm để hộ nghèo có điều kiện vươn lên
thoát nghèo bền vững.
1.1.4. Chủ thể tham gia việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta có thể xem như: “Có ba chủ thể chính
sách giảm nghèo bền vững: Một là, cơ quan nhà nước; hai là, người nghèo; ba là,
các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị”[16] .
15
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo là một chương trình mục
tiêu quốc gia nên cơ quan nhà nước các cấp tham gia với tư cách tổ chức điều
hành. Hình thức được tổ chức: Ủy ban nhân dân các cấp quyết định thành lập
Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp gồm các thành viên kiêm nhiệm lấy từ các
cơ quan chức năng của Nhà nước như: Lao động-Thương binh và Xã hội; Tài
135…Nhưng gần đây, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP
ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
62 huyện nghèo và mới đây nhất là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về
định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Trên cơ
sở định hướng của Đảng về giảm nghèo bền vững, Chính phủ ban hành các
chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo để thực hiện mục tiêu giảm nghèo
bền vững trên phạm vi cả nước. Một số chính sách giảm nghèo bền vững đối với
đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay đang thực thi, triển khai thực hiện như:
1.2.1. Chính sách tín dụng đối với hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số
Trong giai đoạn 2001 đến 2010 chính sách tín dụng đối với hộ nghèo đã
được chú trọng thực hiện và giai đoạn 2011 đến nay vẫn còn hiệu lực, được
sử dụng để thực hiện chủ trương giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước
ta. Chính sách tín dụng dành cho hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là
chương trình được triển khai rộng rãi, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn của
hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực cho đồng bào, là
một trong những điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo bền vững.
Chính sách tín dụng cho người nghèo được thể hiện qua một số các văn
bản: Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín
dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong Chương trình
mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; Quyết định số 54/2012/QĐ-CP ngày
04/12/2012 của Chính phủ về việc ban hành chính sách cho vay vốn phát triển
17