VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUÀNG THỊ DIỆU LINH
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TƯỜNG DUY KIÊN
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Quàng Thị Diệu Linh
BDT
Ban Dân tộc
BTC
Bộ Tài Chính
BTP
Bộ Tư pháp
BGDDT
Bộ Giáo dục và đào tạo
CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CP
Chính phủ
CT
Chỉ thị
DTTS
QĐ
Quyết định
QH
Quốc hội
SGDĐT
Sở Giáo dục và đào tạo
TTg
Thủ tướng Chính phủ
TW
Trung ương
TT
Thông tư
THCS
Trung học cơ sở
THPT
thống trị của thực dân và phong kiến tay sai, lập nên chính quyền mới của nhân
dân. Người kêu gọi nhân dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi và bổn phận của
mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc nước nhà và nhấn
mạnh “phải làm cho cả làng biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm công dân”
[18, tr. 328]. Pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội được Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất coi trọng, đặc biệt giáo dục ý thức tiến bộ cho nhân dân trong đó bao
gồm ý thức về pháp luật luôn được Người quan tâm, Người kêu gọi: “Mọi người
dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có
1
kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [19, tr. 36].
Để mỗi công dân có thể hiểu biết quyền lợi của mình thì mỗi công dân phải thật
sự hiểu biết về pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật là lẽ đương nhiên, là
yêu cầu cấp bách của mỗi cá nhân và là đòi hỏi của xã hội. Chính vì vậy, công
tác giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những công tác quan trọng trong đời
sống xã hội, đặc biệt là thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay,
là một bộ phận của công tác giáo dục, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính
trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực
hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan
trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi
vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng công dân trong xã hội.
Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc “Đổi mới” do Đảng ta đề xướng và
lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đã đưa đất nước
vượt qua được thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị,
giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề kinh tế - xã hội. Xây dựng “Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”[23, tr. 5]. Nhà nước quản lý xã
hội bằng pháp luật. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Lợi dụng điều này các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền, kích động người
dân chống phá cách mạng, phá hoại đoàn kết giữa các dân tộc từ sự thiếu hiểu
biết pháp luật của bộ phận các DTTS, ngoài ra tình trạng vi phạm pháp luật của
đồng bào DTTS ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng.
Thực trạng trên dù được lý giải thế nào thì cũng phải nhấn mạnh rằng, sự
coi nhẹ và thiếu năng động trong công tác GDPL cho đồng bào các dân tộc thiểu
số là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng các vụ việc vi phạm pháp
luật ngày càng tăng. Điều đó đã đặt ra cho chúng ta thấy sự cần thiết phải nhận
thức được ý nghĩa quan trọng của công tác GDPL cho đồng bào các DTTS nói
chung và đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng.
Với những lý do trên, tôi nhận thấy tầm quan trọng của công tác GDPL
cho đồng bào các DTTS nói chung và cho đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh
3
Sơn La là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà
nước Pháp quyền XHCN. Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Giáo dục pháp
luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Sơn La” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp, nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ bé trong công tác
GDPL nói chung và GDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Sơn La nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục pháp luật là một vấn đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn phát
triển của đất nước ta hiện nay. Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học
pháp lý rất quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu về GDPL được công bố, như:
Những Nghiên cứu về vấn đề lý luận chung về GDPL (gồm: khái niệm,
mục đích, đối tượng, hình thức của GDPL) như: “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ
năm 1994, của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp; “Một số vấn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn xây dựng cơ sở lý luận của giáo GDPL cho đồng bào các DTTS.
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng GDPL cho
đồng bào các DTTS tại tỉnh Sơn La, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng công tác GDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Sơn La.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về GDPL, phân tích những
quan niệm khác nhau về GDPL và vai trò của GDPL, làm rõ cơ sở lý luận của
GDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Sơn La.
- Làm rõ mục đích, vai trò và đặc điểm chủ yếu của GDPL cho đồng bào
các DTTS.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về GDPL cho đồng bào các
DTTS ở tỉnh Sơn La. Từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn của việc GDPL
5
cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Sơn La nói riêng cũng như đồng bào các DTTS
ở Việt Nam.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học,
đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng GDPL cho đồng bào các
DTTS tại tỉnh Sơn La.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục pháp luật cho đồng bào
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu về giáo dục
pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La với các nội dung: cơ
tuyên truyền GDPL…
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận của việc Giáo dục pháp luật cho đồng bào các
dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La.
Chuơng 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu
số tại tỉnh Sơn La hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản tăng cường giáo dục pháp
luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La.
7
Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH SƠN LA
1.1. Khái lược về giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm chung về giáo dục pháp luật
Khái niệm về giáo dục pháp luật ở nước ta cho đến nay đã được nghiên
cứu một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống. Có nhiều quan điểm khác nhau
đưa ra khái niệm về giáo dục pháp luật. Vì vậy, cần phải hiểu một cách đúng đắn
nhất về GDPL để từ đó hiểu đúng bản chất của GDPL.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giáo dục” là hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,
làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu
cầu đề ra” [15, tr. 293]. Giáo dục là là tất cả những gì được truyền tải và tác
động lên cách tư duy, cách hành xử, làm việc của mỗi con người trong chúng ta.
“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
khi không thực hiện được một cách toàn diện, hiệu quả công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ và nhân dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam đòi hỏi công dân phải có tri thức khoa học, có hiểu biết về pháp luật, có ý
thức tuân thủ pháp luật. Thực tế hiện nay cho thấy, tình hình vi phạm pháp luật
trong xã hội ngày càng tăng. Mặt khác, việc mở cửa nền kinh tế cũng có những
ảnh hưởng, tác động đến truyền thống, đạo đức xã hội, một số nét đẹp trong đạo
đức truyền thống bị phá vỡ, đạo đức xã hội có biểu hiện xuống cấp, ý thức pháp
luật trong dân chúng chưa cao, việc tuân thủ pháp luật chưa được coi trọng. Xã
hội càng phát triển, nhu cầu hiểu biết pháp luật và vận dụng pháp luật trong các
hoạt động kinh tế hay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân
trong xã hội càng lớn. Do đó, việc hiểu khái niệm và bản chất của GDPL rất
quan trọng; đồng thời, GDPL là việc làm đúng đắn, cần thiết và cấp bách đáp
ứng đòi hỏi khách quan của sự phát triển của xã hội nhằm nâng cao dân trí pháp
9
lý và thực hiện chủ trương của Đảng đã đề ra trong các Nghị quyết hội nghị
Trung ương.
1.1.2. Mục đích, yêu cầu của giáo dục pháp luật
1.1.2.1. Mục đích của giáo dục pháp luật
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến
pháp và pháp luật”. GDPL được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chính
sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, vấn đề xác
định được mục đích của GDPL có ý nghĩa quan trọng, nhằm xây dựng ý thức
pháp luật trong nhân dân. Dựa trên các nghiên cứu khoa học cũng như trong
thực tiễn, GDPL có những mục đích cơ bản như sau:
- Thứ nhất, Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng (Mục đích nhận
thức): Không phải lúc nào mọi người trong xã hội cũng chủ động tìm hiểu, quan
Tạo dựng lòng tin vào pháp luật cho mỗi người dân trong xã hội đòi hỏi
sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng là
GDPL để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện áp
dụng pháp luật. Từ đó, mọi người sẽ hiểu biết đúng về quyền và lợi ích của bản
thân trong xã hội và sẽ đồng tình ủng hộ pháp luật.
-Thứ ba, Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng (Mục
đích hành vi): Tự giác là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc.
[19, tr. 145]. Xây dựng ý thức tự giác chấp hành luật pháp của người dân đang là
vấn đề được Nhà nước và xã hội rất quan tâm, bởi việc chấp hành pháp luật là
điều kiện tiên quyết để xã hội vận hành có trật tự, kỷ cương và là điều kiện
quyết định góp phần phát triển bền vững đất nước. Trong xã hội hiện đại, ý thức
chấp hành pháp luật là một trong các biểu hiện của lối sống có văn hóa. Ý thức
pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố là tri thức pháp luật và
tình cảm pháp luật.
Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua
việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động
thực tiễn và công tác.
11
Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực
hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực
hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.
Sự tự giác ý thức pháp luật có được từ kết quả của nhiều yếu tố, trong đó
giáo dục kết hợp với răn đe, xử lý, giữ vai trò quan trọng giúp mỗi cá nhân chấp
hành luật pháp một cách nghiêm túc. Tất nhiên, để việc chấp hành pháp luật trở
thành ý thức tự giác của phần lớn nhân dân, còn cần tới sự gương mẫu chấp
hành của những người "cầm cân nảy mực", sự công bằng và minh bạch trong thi
hành pháp luật, có sự hỗ trợ và kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đoàn thể, khu
luật khách quan của quá trình vận động xã hội, nêu lên những yêu cầu, đòi hỏi
và đường lối phát triển của kinh tế, văn hoá xã hội. Pháp luật cụ thể hoá đường
lối đó, nhưng không phải là cụ thể hoá tất cả, chi tiết hoá đầy đủ thành các quy
định để điều chính các quan hệ xã hội. Mặt khác, các quan hệ xã hội luôn biến
đổi vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và việc tuyên truyền
giáo dục pháp luật phải lấy đường lối chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho
các hoạt động đó.
Muốn đề cao tính Đảng trong công tác giáo dục pháp luật thì phải hiểu
biết, quán triệt đầy đủ đường lối chính sách của Đảng đối với từng thời kỳ, từng
vấn đề và đường lối chung xây dựng kinh tế, xã hội. Đường lối chính sách của
Đảng cũng như pháp luật là hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản
ánh cơ sở kinh tế, do đó nó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và có quá
trình vận động như các hiện tượng khác. Chính vì vậy, GDPL và tuyên truyền
đường lối chính sách của Đảng luôn phải bắt nhịp được với những thay đổi
trong đời sống chính trị - pháp luật của đất nước.
Bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản:
GDPL không giống việc tuyên truyền phổ biến giáo dục về văn hoá văn nghệ.
Khi tuyên truyền, phổ biến giáo dục về văn hoá văn nghệ, người ta có thể nhân
cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích
của họ. GDPL khác với các loại hình phổ biến giáo dục khác ở chỗ nội dung
được GDPL, là những quy tắc xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt
13
chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó. Do đó, GDPL phải
tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác,
truyền đạt trung thành văn bản.
GDPL không chỉ thông tin cho đối tượng cần truyền đạt được biết các văn
bản pháp luật và những điều luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về
thích pháp luật cho người khác, chính vì thế ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đóng
vai trò rất quan trọng cho sự thành công của người làm công tác GDPL. Sự kết
hợp giữa khả năng nói và viết trong người làm công tác GDPL sẽ đem lại hiệu
quả cao trong công tác GDPL.
Có khả năng hoà đồng và giao tiếp: Làm công tác GDPL là làm công tác
vận động quần chúng, nó không thuần tuý là đi thông tin và giải thích pháp luật
cho các đối tượng được tuyên truyền. Trước khi thực hiện công tác GDPL,
người làm công tác GDPL cần phải biết đối tượng được GDPL là ai, họ cần gì,
công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh vực pháp luật nào và mình phải quan
hệ công tác với họ như thế nào.
GDPL là một hoạt động mang tính hai chiều, không đơn thuần là sự
truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác GDPL có mà
sự phản hồi của đối tượng được tuyên truyền, giáo dục. Chính vì vậy, đòi hỏi
người làm công tác GDPL phải hội đủ kiến thưc cần thiết cũng như đáp ứng các
yêu cầu của người được GDPL.
1.1.3. Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật
1.1.3.1. Chủ thể của giáo dục pháp luật
Theo lý luận giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy cô giáo và tất cả
những người làm công tác giáo dục khác. Vận dụng vào giáo dục pháp luật, có
thể hiểu chủ thể của giáo dục pháp luật là tất cả những người có chức năng,
nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích
giáo dục pháp luật cho các đối tượng của GDPL. Từ các nghiên cứu lý luận và
thực tiễn đã xác định và thừa nhận có hai loại chủ thể giáo dục pháp luật: chủ
thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp với vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu
và trình độ, kỹ năng GDPL khác nhau.
15
Chủ thể chuyên nghiệp GDPL là những người có chức năng, nhiệm vụ
qua lại lẫn nhau giữa các bên tham gia trong mối quan hệ. Song chiều tác động
chủ yếu vẫn là sự tác động, chi phối của người giáo dục (chủ thể). Sự tác động
giáo dục là những hoạt động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt
tới mục tiêu, mục đích nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm
xúc, mục đích hành vi, thói quen xử sự theo pháp luật). Nói cách khác, chủ thể
GDPL tác động lên khách thể (đối tượng) GDPL với những mong muốn cụ thể
là xây dựng được ý thức và những hành vi hợp pháp cho khác thể (đối tượng)
GDPL.
1.1.4. Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật
1.1.4.1. Nội dung của giáo dục pháp luật
Muốn hiện thực hóa mục đích, mục tiêu GDPL thì phải có những nội
dung giáo dục cụ thể. Đó là toàn bộ những gì mà chủ thể GDPL cần truyền đạt,
chuyển tải cho đối tượng GDPL, giúp họ có những kiến thức, hiểu biết nhất định
về pháp luật; trên cơ sở đó, hình thành, phát triển ý thức pháp luật, niềm tin đối
với pháp luật và lối sống pháp luật.
Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày
20/6/2012, nội dung của phổ biến GDPL bao gồm: “1. Quy định của Hiến pháp
và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân
sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng,
bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan
nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban
hành. 2. Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, các thoả thuận quốc tế. 3. Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý
thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt,
việc tốt trong thực hiện pháp luật” [22, tr. 15].
Phạm vi của nội dung GDPL bao gồm hệ thống pháp luật thực định, các
văn bản pháp luật; các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật và thực tiễn pháp
thông dụng nhất hiện nay. Mỗi hình thức có đặc trưng và kỹ năng riêng của mình:
18
- Tuyên truyền miệng về pháp luật: đặc trưng chính là dùng lời lẽ trực tiếp
truyền đạt nội dung pháp luật cho người nghe.
- GDPL trên các loại hình báo chí, qua mạng internet và qua mạng lưới
truyển thanh cơ sở: đặc trưng chính là sử dụng báo nói, báo viết, báo mạng, báo
hình để truyền bá nội dung cần phổ biến giáo dục…
- Biên soạn và phát hành các loại tài liệu GDPL: dùng các ấn phẩm để
truyền bá nội dung cần phổ biến.
- GDPL trong nhà trường: truyền đạt nội dung pháp luật thông qua các
phuơng pháp sư phạm.
- Tổ chức các hình thức thi tìm hiểu pháp luật: vận động, khuyến khích
đối tượng tìm hiểu pháp luật thông qua thi thố tài năng.
- Thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật: Đối tượng của GDPL
đồng thời cũng chính là chủ thể của GDPL, ở mỗi thành viên phát huy tính nhận thức
tích cực của mình trao đổi, tranh luận… để mở rộng kiến thức pháp luật của mình.
- Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật: Trực tiếp cung cấp tài
liệu, thông tin pháp luật cho đối tượng.
- GDPL thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý: thông
qua việc cung cấp dịch vụ pháp lý, giải đáp pháp luật, hương dẫn thân chủ ứng
xử đúng pháp luật để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ
mà nâng cao hiểu biết pháp luật cho họ.
- GDPL thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở và xét xử tại Toà án: Thông
qua việc giới thiệu văn bản phân tích, hướng dẫn để các bên tranh chấp hiểu văn
bản, tự đối chiếu với hành vi của mình và hành vi của phía bên kia để thấy rõ cái
đúng, cái sai của cả hai bên, giúp các bên nhận thức pháp luật sâu sắc hơn. Hay
tại các phiên toà xét xử, thẩm phán và các cơ quan hành pháp phân tích điều luật
dân, tri thức và những người lao động khác là người DTTS. Đồng bào các DTTS
có những đặc điểm lịch sử, kinh tế văn hoá, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, tâm lý
dân tộc, bản sắc và tập quán từng dân tộc hoàn toàn khác nhau. Tâm lý của đồng
20
bào các DTTS thường hay tự ti, bảo thủ, bao gồm cả tư tưởng cục bộ địa
phương, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, dòng họ có
phong tục tập quán riêng biệt. Trình độ văn hoá và học thức của đồng bào các
DTTS nhìn chung vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của xã hội. Một số dân
tộc thiểu số không có chữ viết riêng, không biết tiếng và chữ viết phổ thông là
tiếng việt, đây là hạn chế và khó khăn lớn trong việc tiếp thu tri thức và pháp
luật. Ngoài ra, đa số đồng bào các DTTS chưa có ý thức tự giác trong việc tìm
hiểu và nghiên cứu pháp luật cũng như sử dụng pháp luật làm công cụ, phương
tiện bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của mình.
Theo quan niệm của đồng bào các DTTS thì luật tục (phong tục, tập quán
đã hình thành nhiều năm, qua nhiều thế hệ) là “ông bà để lại cho”, vì vậy, cùng
với pháp luật của Nhà nước, luật tục có một vị trí quan trong trong việc điều
chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của đồng bào các DTTS. Trong cộng đồng
các dân tộc, luật tục được thành viên trong cộng đồng nghiêm chỉnh tuân theo
một cách tự giác. Nhà nước ta vẫn thừa nhận những luật tục tích cực và loại bỏ
những hủ tục của luật tục truyền thống trong cộng đồng các DTTS.
Chính vì vậy, GDPL cho đồng bào các DTTS không chỉ là làm cho họ hiểu
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước quy định như thế nào mà
còn phải tạo dựng được lòng tin và chứng minh bằng thực tiễn cho đồng bào các
DTTS thấy sự đúng đắn của pháp luật và đường lối chính sách của Đảng.
- Chủ thể GDPL cho đồng bào các DTTS là người truyền thụ, hướng dẫn,
giải thích pháp luật cho nhân dân. Các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã
xác định chủ thể GDPL như sau: là tổ chức, cá nhân có chức năng, nhiệm vụ chủ