BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO XUÂN CƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH- TỪ THỰC TIỄN TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO XUÂN CƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH- TỪ THỰC TIỄN TỈNH TUYÊN QUANG
1.1.2. Nguồn gốc của bạo lực gia đình .................................................................................... 14
1.1.3. Đặc điểm của bạo lực gia đình ...................................................................................... 16
1.1.4. Hậu quả của bạo lực gia đình ........................................................................................ 17
1.2. PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH .................................... ….19
1.2.1. Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình 19
1.2.2. Nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ....................................................... 21
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO
LỰC GIA ĐÌNH ...................................................................................................................... 35
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH
TUYÊN QUANG VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..................... 42
2.1. THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở TỈNH TUYÊN QUANG ................................................................ 42
2.1.1. Thực trạng và nguyên nhân bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang ............................... 42
2.1.2. Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở
tỉnh Tuyên Quang ................................................................................................................... 60
2.2. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY .................................................................................................................... 74
2.2.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình........................................................................................................................ 74
2.2.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ......................... 79
2.2.3. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ............ 84
KẾT LUẬN............................................................................................................................. 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 96
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân
khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008.
Những văn bản pháp luật nêu trên và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo
lực gia đình và xử lý các hành vi bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng còn
nhiều hạn chế: bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của
đời sống xã hội; định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng
nề trong đời sống xã hội; bạo lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp dưới nhiều
hình thức tinh vi gây ảnh hưởng tới gia đình- tế bào của xã hội… Thực trạng
bạo lực gia đình diễn ra có nhiều nguyên nhân, và một trong số đó bắt nguồn
từ việc thực thi pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình chưa đầy đủ và
thiếu hiệu quả.
Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, thực tiễn công tác phòng, chống bạo
lực gia đình cũng cho thấy còn những tồn tại, hạn chế nhất định như: chưa có
sự phối hợp hành động hiệu quả từ phía các cơ quan chính quyền, tổ chức,
đoàn thể trên địa bàn; các nguồn lực xã hội dành cho công tác phòng, chống
bạo lực gia đình còn thiếu; trình độ dân trí cùng với mức sống chung của
người dân chưa cao; nhận thức về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình,
về quyền của phụ nữ trẻ em, về bình đẳng giới của người dân còn hạn chế;
tâm lý không muốn “vạch áo cho người xem lưng” của chính nạn nhân khi
có bạo lực gia đình xảy ra vẫn còn phổ biến... Tất cả những vấn đề trên đã và
đang làm cho tình trạng bạo lực gia đình diến biến phức tạp, khó kiểm soát.
2
Trong bối cảnh đó, cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ,
nghiêm túc về những nguyên nhân phát sinh hành vi bạo lực gia đình, những
hậu quả mà hành vi đó mang lại cùng những tác động của nó tới đời sống gia
đình nói riêng cũng như ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội nói chung. Cùng với
Chính trị Quốc gia HCM [45];
“Bạo lực gia đình– một sự sai lệch giá trị” của tác giả Lê Thị Quý và
Đặng Vũ Cảnh Linh [29];
“Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả Nguyễn
Ngọc Điện [11];
“Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ”
của tác giả Trần Thị Hòe [12];
“Tính hợp lý, khả thi của một số biện pháp xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình” của tác giả Phan Thị Lan
Hương [14];
“Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em - thực trạng và nguyên nhân” của
Ngô Thị Hường, Đại học Luật Hà Nội [13];
“Tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực đối với phụ
nữ, trẻ em” của Nguyễn Thị Kim Phụng 17]…
Ngoài ra, còn nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học,
các Luận văn, đề tài đã được nghiệm thu liên quan đến vấn đề bạo lực gia
đình. Nhìn chung, các công trình nêu trên đã phân tích, đánh giá vấn đề bạo
lực gia đình dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên việc nghiên cứu về pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn một địa bàn cụ thể là tỉnh
Tuyên Quang từ đó đề xuất những giải pháp đề hoàn thiện pháp luật về
4
phòng, chống bạo lực gia đình thì có rất ít các đề tài đề cập tới. Vì vậy, đề tài
nghiên cứu này không có sự trùng lắp với những công trình nghiên cứu đã
được công bố, các kết quả nghiên cứu trước đó chỉ có giá trị tham khảo khi
tác giả nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ
bản của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình,
trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, tổng hợp, diễn
giải, quy nạp, phân tích, so sánh để phân tích và làm rõ các vấn đề khoa học
cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn góp phần
làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về pháp luật phòng, chống bạo lực
gia đình, đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia
đình ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thay đổi phần nào nhận thức của
người dân về vấn đề bạo lực gia đình, bên cạnh đó, những giải pháp được đề
xuất vận dụng vào thực tiễn sẽ nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh
phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và có thể là
kinh nghiệm thực tiễn để tham khảo, áp dụng cho những địa phương khác trên
cả nước, đồng thời luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho những người quan
tâm nghiên cứu về những vấn đề bạo lực gia đình.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở
tỉnh Tuyên Quang và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm
thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
bạo lực trái pháp luật để từ đó có những biện pháp phòng, chống bạo lực
trong xã hội nói chung trong đó có vấn đề bạo lực gia đình nói riêng.
“Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành,
nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống
tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”[9]. Còn bạo lực gia đình là hiện tượng xã hội phát
sinh không bình thường, thể hiện những lệch chuẩn xã hội, phá vỡ môi trường
gia đình lành mạnh ấy. Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, và xã
hội Việt Nam cũng không là một ngoại lệ, gây nhức nhối cho nhân loại, nó để
lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, cho gia đình và cho cá nhân, nhất
là đối với phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình tạo nên những rạn nứt, đổ vỡ,
gây nên nhiều đau khổ trong đời sống gia đình, kéo theo những hậu quả nặng
nề cho xã hội. Bạo lực gia đình gần đây đã trở thành một vấn nạn, thu hút sự
quan tâm của toàn xã hội. bạo lực gia đình không chỉ xảy ra ở những nơi có
điều kiện kinh tế thấp, cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu mà nó diễn ra ở mọi nơi
từ thành thị tới nông thôn, xảy ra ở mọi gia đình, trong các tầng lớp khác nhau
và gây ra những thiệt hại to lớn cả về vật chất và tinh thần cho gia đình và xã
hội. Bạo lực gia đình là vấn đề không mới, nó từ lâu đã là mối quan tâm của
nhiều quốc gia, là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học. Cho tới nay, tùy từng góc độ nghiên cứu, đã có rất nhiều quan điểm, cách
hiểu khác nhau về bạo lực gia đình.
Từ góc độ giới:
Bạo lực giới là một vấn đề tồn tại từ rất lâu trong lịch sử nhưng lại là
một nội dung mới trong luật pháp quốc tế. Trước những năm 80 của thế kỷ
XX, người ta cho rằng bạo lực đối với phụ nữ thuộc về các mối quan hệ có
tính riêng tư giữa các cá nhân, các thành viên trong gia đình. Vì vậy, mọi
9
tổn hại nhất định về thể chất, tinh thần, kinh tế, tước đoạt hoặc hạn chế quyền
tự do của các thành viên khác trong gia đình.
Từ góc độ xã hội:
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội. Không
giống bất kỳ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh
học, kinh tế, tâm lý, văn hóa…Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao
gồm vợ, chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em với nhau, những
mối liên hệ khác như: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng với con dâu,
cha mẹ vợ với con rể…Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh:
có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật
chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp xã hội. Mối liên hệ này có thể
dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên các căn cứ thực tế một
cách tự nhiên, tự phát [16].
Vấn đề bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới trong xã hội hiện nay,
tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này không thật đầy đủ nếu không muốn nói là
có phần lệch lạc, hạn chế. Đối với người dân, bạo lực gia đình còn là một khái
niệm mới vì thế ít người biết đến, đại bộ phận người dân chưa có cách hiểu
đầy đủ và chính xác về vấn đề này. Đa số người dân cho rằng chỉ những hành
vi đánh đập, gây thương tích, dẫn tới kết quả nạn nhân bị tổn thương hay tử
vong mới bị coi là bạo lực gia đình, còn những hành vi xâm phạm về tinh thần
thì không phải bạo lực. Nói về bạo lực gia đình có rất nhiều ý kiến khác nhau,
cụ thể là: một nhóm chia bạo lực gia đình ra thành hai loại: loại bạo lực mạnh
và loại bạo lực nhẹ. Bạo lực mạnh xảy ra như chồng vô cớ đánh vợ với những
tổn thương về thể xác nhất định, còn bạo lực nhẹ là chỉ có hành vi ngược đãi
và thi thoảng mới xảy ra. Nhóm khác cho rằng bạo lực gia đình là hành vi tấn
công bằng vũ lực của một người (thường là đàn ông) đối với người có quan
11
giữa anh chị em ruột với nhau mà còn có thể xảy ra giữa ông bà, cô, dì, chú,
bác… là những người có quan hệ họ hàng thân thích mà theo luật đều là thành
viên gia đình.
Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau nên quan điểm về bạo lực gia đình
cũng có sự khác nhau, tuy nhiên nó có một điểm chung đó là: bạo lực gia đình
là một dạng của bạo lực xã hội, là việc dùng sức mạnh để giải quyết các vấn
đề về gia đình. Nếu coi gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là hình thức
thu nhỏ của xã hội thì bạo lực gia đình cũng chính là hình thức thu nhỏ và đặc
biệt của bạo lực xã hội. Sự khác biệt giữa bạo lực gia đình với bạo lực xã hội
ở chỗ bạo lực gia đình thường diễn ra giữa những người có cùng quan hệ hôn
nhân hoặc huyết thống. Nhìn chung, cả hai hình thức bạo lực này đều có sự
đồng nhất trong nhận thức như về hậu quả, sự xâm hại của hành vi bạo lực tới
quyền và lợi ích cá nhân.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 của Việt Nam được
Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua
ngày 21 tháng 7 năm 2007, theo đó tại Điều 1, khoản 2 quy định như sau:
“bạo lực gia đìnhlà hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có
khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên
khác trong gia đình”[22].
Như vậy, qua nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm về bạo lực gia đình,
có thể hiểu: bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi cố ý, chủ thể thực hiện
là thành viên gia đình, hậu quả mang lại đó là gây tổn hại hoặc có khả năng
gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia
đình. Các hành vi bạo lực gia đình có thể được biểu hiện dưới dạng hành động
như hành hạ, ngược đãi, đánh đập… hoặc không hành động như bàng quan,
thờ ơ, ghẻ lạnh, bỏ mặc hay “chiến tranh lạnh”.
13
Về phía xã hội, nguồn gốc sâu xa của tình trạng bạo lực gia đình đó
là nhận thức về vấn đề bình đẳng giới còn hạn chế, bất bình đẳng giới là gốc
rễ của bạo lực gia đình, điều này có thể thấy rõ qua những nội dung:
Do ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa phong kiến với những quan
niệm mang đậm màu sắc định kiến giới, đó là những định kiến nằm ngay
trong truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức bấy lâu
nay trong xã hội phương Đông như: tư tưởng trọng nam khinh nữ; chồng
chúa, vợ tôi; tư tưởng gia trưởng, độc đoán của người đàn ông; phụ nữ là
người giữ gìn hạnh phúc gia đình; ca ngợi thái quá đức hi sinh của phụ nữ;
hay quan niệm nuôi dạy con cái “yêu cho roi, cho vọt”… Những quan niệm
này đã khiến cho nam giới đương nhiên có vai trò trụ cột trong gia đình, có
quyền định đoạt mọi việc, quyền thể hiện tiếng nói của mình trong gia đình
nên họ có thể mắng chửi vợ con là điều bình thường, thậm chí có thể thượng
cẳng chân, hạ cẳng tay với vợ con cũng có thể chấp nhận được.
Nhận thức của chính bản thân người phụ nữ bị bạo lực chưa đúng đắn:
sự đấu tranh của người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu
thẳng thắn, còn cam chịu. Người phụ nữ còn mang nặng tư tưởng “xấu chàng
hổ ai”, họ sợ “vạch áo cho người xem lưng”, lo sợ bạn bè, hàng xóm chê cười
vì những hành vi bạo hành trong gia đình.
Ngoài ra, nhận thức của cộng đồng xã hội về vấn đề bạo lực gia đình
cũng là một nguyên nhân để hiện tượng bạo lực gia đình còn tồn tại và phát
triển. Hiện nay, cộng đồng xã hội đã quá quen với hiện tượng bạo lực gia
đình, họ coi bạo lực gia đình là chuyện thông thường, chuyện riêng tư của
mỗi gia đình theo kiểu “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, sự can thiệp, lên án của
cộng đồng, hàng xóm, khu dân cư và ngay cả chính quyền địa phương cũng
15
lực về thể chất thường đi kèm với bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục.
Thứ ba, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý. Người thực hiện
hành vi ý thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực
hiện hành vi bạo lực đó bất chấp hậu quả xảy ra. Nguyên nhân của hành vi
này có thể do không kiềm chế được bản thân, có thể do được tính toán sẵn để
trả thù người thân của mình hoặc có thể để thỏa mãn sự ích kỷ của bản thân.
Nhưng trong mọi trường hợp hành vi bạo lực gia đình không thể là hành vi vô
ý của chủ thể.
Thứ tư, hậu quả của hành vi bạo lực gia đình là gây tổn hại hoặc có khả
năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác
trong gia đình. Theo cách hiểu thông thường, hậu quả là những tổn hại thực tế
đã xảy ra có thể định lượng, nhưng đối với hành vi bạo lực gia đình, hậu quả
bao gồm cả những tổn hại có khả năng xảy ra trong tương lai từ hành vi bạo
lực của chủ thể. Những tổn hại thực tế hoặc tiềm ẩn đó nhằm vào cả thể chất
(đau đớn, thương tổn về thể xác, đe dọa tới tính mạng…) tinh thần (sự đau
khổ, bế tắc, trầm uất…) và kinh tế (mất thu nhập, mất việc làm, gia tăng các
chi phí…) đối với các thành viên khác trong gia đình.
1.1.4. Hậu quả của bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình mang lại những hậu quả dai dẳng, không chỉ xâm hại
trực tiếp tới cá nhân người bị bạo hành mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực tới trật
tự an toàn xã hội, băng hoại các mối quan hệ gia đình và xã hội, ảnh hưởng
tới thế hệ tương lai của đất nước. Hậu quả của bạo lực gia đình được xem xét
cụ thể qua các mặt:
Đối với phụ nữ: Hành vi bạo lực gây tổn hại trực tiếp tới thể chất,
sức khỏe bị hủy hoại, bị gây thương tích đau đớn, có thể bị tàn tật suốt đời, có
17
thể dẫn đến tử vong. Bạo lực cũng gây tổn hại về tinh thần, người phụ nữ cảm
thấy xấu hổ và tội lỗi, luôn bị ám ảnh bởi bạo lực, chán nản, buồn rầu, lo lắng,
lực gia đình còn làm giảm chất lượng cuộc sống của phụ nữ và trẻ em, tiêu
tốn nguồn lực rất lớn cho các cơ quan nhà nước trong việc xử lý hành vi bạo
lực gia đình.
1.2. PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.2.1. Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình mang lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã
hội, ảnh hưởng tới sự đóng góp của cá nhân tới sự phát triển chung của xã
hội. Những hành vi bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm
trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, tính mạng của công dân
mà đã được nhà nước quy định và bảo vệ, vì vậy Nhà nước phải xây dựng
những chế định cụ thể nhằm phòng ngừa những hành vi bạo lực gia đình và
có những biện pháp xử lý thích đáng đối với những người vi phạm, để kịp
thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới bạo lực gia đình, định
hướng hành vi cho công dân theo những chủ trương, đường lối và chính sách
pháp luật chung của Nhà nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn
bản để đề cao công tác xây dựng, phát triển gia đình thời kỳ đổi mới, không
có bạo lực, cụ thể như: Hiến pháp năm 2013 của nước CHXNCN Việt Nam;
Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số
48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình,
trẻ em và chính sách xã hội.
Những văn bản trên đã nêu bật những mục đích cơ bản của công tác
phòng, chống bạo lực gia đình, đó là nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí,
19
trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương,
nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết
để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật
tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân theo
những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận.
1.2.2. Nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ được gói gọn
trong các quy định tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 mà nó
còn được quy định trong nhiều văn bản và đạo luật khác nhau. Để tìm hiểu
những nội dung cơ bản của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đòi
hỏi phải có sự nghiên cứu đầy đủ, toàn diện những chế định có liên quan như:
các quy định về phòng, chống bạo lực gia đình; vấn đề bình đẳng giới; vấn đề
bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; chế độ hôn nhân gia đình…Nhìn chung,
pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình của nước ta hiện nay bao gồm
những vấn đề cơ bản sau đây:
1.2.2.1. Quy định mục tiêu cơ bản của phòng, chống bạo lực gia đình
Mục tiêu chung nhất của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đó
là “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm
của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội” [9], trên cơ sở quyền bình
đẳng giới được tôn trọng, trẻ em được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục, các
quyền con người về tinh thần, kinh tế được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực
gia đình.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được xây dựng trên
những nội dung của Hiến pháp sửa đổi 2001 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân trong đó nêu rõ “gia đình là tế bào của xã hội” (Điều 64) thể hiện vị
trí quan trọng của gia đình trong sự đóng góp vào quá trình phát triển chung
của xã hội và đất nước. Để xây dựng gia đình hạnh phúc thì phải có sự quan
tâm sâu sắc tới trẻ em- những chủ nhân tương lai của đất nước- và tránh tình
21