Vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay (LV thạc sĩ) - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoa học pháp lý, vấn đề vi phạm pháp luật có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn vô cùng phong phú. Việc nghiên cứu thấu đáo vấn đề vi phạm
pháp luật sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, góp phần kiểm soát
xã hội tốt, phát hiện nhanh, nhận diện đúng bản chất và xử lý chính xác các vi
phạm pháp luật, tìm ra phương cách hữu hiệu điều chỉnh xã hội và định
hướng việc thực thi pháp luật đạt hiệu quả.
Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự
nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng,
là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh".
Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời cũng còn nhiều vấn đề
lớn, khó khăn, phức tạp cần phải tập trung giải quyết, khắc phục. Một trong
những khó khăn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội là tình trạng vi
phạm pháp luật hiện nay đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia
đình (BLGĐ) đang ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng đến sự phát triển toàn
diện của xã hội.
Ngày nay, bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức
nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả cho con người. BLGĐ đang trở
thành vấn đề phổ biến, là biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng giữa
nam và nữ, giữa người lớn và trẻ em trên toàn thế giới, là một trong những
nguyên nhân ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của
con người, làm suy giảm chất lượng cuộc sống nói chung. BLGĐ đã và đang
là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng trong xã hội, là lực cản trên con
đường xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại. Vì vậy, trong nhiều năm qua,
sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của BLGĐ là mối quan tâm của nhiều

bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực
hiện pháp luật và xử lý các hành vi BLGĐ.
Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đã để lại nhiều hậu
quả xấu cho xã hội, trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân
phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Vi phạm
pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn làm xói mòn đạo đức, mất tính
dân chủ xã hội và ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai. Kết quả nghiên cứu
cho thấy ở nhiều gia đình, thế hệ con đã lặp lại hành vi bạo lực gia đình mà
khi còn nhỏ chúng đã được chứng kiến. Bạo lực gia đình đang là nguy cơ gây
tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình Việt nam. Ngoài hậu quả về xã
hội, đạo đức và sự bền vững gia đình, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo
lực gia đình còn gây ra những hậu quả về kinh tế như chi phí chăm sóc và
phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi
phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng bệnh tật, mất khả năng tham gia
lao động sản xuất của nạn nhân.

2


Nhiều vụ án thương tâm liên quan đến bạo lực gia đình đã xảy ra và số
lượng tăng lên từng ngày, gây hậu qủa nhức nhối cho xã hội và đặt ra cho xã
hội một lời giải đáp cần phải làm gì trước thực trạng vi phạm pháp luật về bạo
lực gia đình. Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, pháp luật và các
nhà thực thi pháp luật cùng các cơ quan có thẩm quyền cần có một cơ chế và
biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mọi người, giúp họ
thoát khỏi bạo lực đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các chủ
thể vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình, tạo ổn định và phát triển cho xã
hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp giúp phòng, chống bạo
lực gia đình, loại bỏ vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình trong xã hội, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn, đề tài "Vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo

rõ các hành vi vi phạm pháp luật cơ bản trong phòng, chống bạo lực gia đình
trong những năm qua để có một bức tranh về thực trạng vi phạm pháp luật
một cách cơ bản nhất trong phòng, chống bạo lực gia đình. Từ đó, phân tích
các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng trên làm cơ sở cho
việc đưa ra các giải pháp khắc phục vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

4


- Nghiên cứu đưa ra các giải pháp hợp lý, toàn diện, khả thi trong phòng,
chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình góp phần hạn chế tiến
tới đẩy lùi hiện tượng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trong
xã hội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận văn
xác định đối tượng nghiên cứu là các hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo
lực gia đình, việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý trên cơ sở lý luận
chung về Nhà nước, pháp luật và pháp luật thực định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống
bạo lực gia đình trong phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2008 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng và Nhà nước, pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật phòng, chống bạo
lực gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, tổng hợp,


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
1.1.1. Khái niệm về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, Điều 1 Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định bạo lực gia đình là "Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây
tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia
đình" [29, tr.1]. Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội
nên bạo lực gia đình có thể coi là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với
nhiều dạng thức khác nhau. Xét về hình thức, có thể chia bạo lực gia đình
thành các hình thức chủ yếu sau:
- Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia
đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương
tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế
của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…)
- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép
trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép
sinh con.
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác
nhau. Hiểu một cách thông dụng thì bạo lực gia đình là một thuật ngữ dùng để
chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Đây là
hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực và bạo lực trong cả một
quá trình để thực hiện hành vi làm cho người khác đau đớn về thể xác, bị
khủng hoàng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống


tác động và quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của bạo bực gia đình, đồng
thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện xuất hiện bạo lực gia đình.

8


Phòng bạo lực gia đình và sự cần thiết của phòng bạo lực gia đình là để bảo
vệ, duy trì trật sự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của
cộng đồng, của xã hội.
Bạo lực gia đình phát sinh, tồn tại là do những nguyên nhân và điều
kiện khác nhau, song chúng ta hoàn toàn có khả năng tiến hành phòng ngừa
và ngăn chặn hàng vi bạo lực gia đình khi nó chưa xảy ra.
Trong ngành tư pháp: Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì
càng tốt hơn. Quan điểm này thể hiện phương châm rất quan trọng là lấy giáo
dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống bạo lực gia
đình tốt. Yêu cầu là phải phòng bạo lực gia đình ngay từ lúc đầu, làm cho bạo
lực gia đình ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra bạo lực gia đình hay xử lý
bạo lực gia đình chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ.
Do đó, phòng bạo lực gia đình cần lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo
dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu. Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này thì
phòng bạo lực gia đình được coi là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành và
toàn xã hội.
b) Khái niệm chống bạo lực gia đình
Khi bạo lực gia đình đã tiến triển lên mức độ trầm trọng hơn, tần suất
cũng như cường độ mạnh hơn, hoặc ở vào tình thế nguy hiểm thì nạn nhân
thường nhờ cậy các tổ chức đoàn thể, chính quyền, công an, với huy vọng là
các tổ chức này gây áp lực và có biện pháp hữu hiệu cũng như mong muốn
chống lại bạo lực gia đình.
Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp chống bạo lực gia đình, lấy
phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư

chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời. Do đó, cần phát huy
vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong
chống bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà
còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc chống bạo lực
gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước
và những người có liên quan. Việc chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó
khăn khi triển khai trên thực tế, do không có nhiều chủ thể tích cực tham gia
công tác này vì nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó. Điều
10


đó một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc
phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng động, cơ quan, tổ
chức trong việc phòng chống bạo lực gia đình.
c) Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình
Phòng chống bạo lực gia đình là hoạt động của các cơ quan nhà nước,
các tổ chức xã hội, cá nhân và gia đình trong việc phòng ngừa và ngăn chặn
các hành vi bạo lực gia đình; xử lý các hành vi vi phạm các quy định của pháp
luật về phòng chống bạo lực gia đình. Công tác phòng, chống bạo lực gia đình
của nước ta hiện nay chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong đó yếu tố về
nhận thức, kinh tế và pháp luật là cơ bản nhất.
- Yếu tố nhận thức: Ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những
quan niệm mang đậm màu sắc định kiến giới nằm ngay trong truyền thống
văn hóa, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức với tư tưởng trọng nam
khinh nữ, chồng chúa vợ tôi. Suy nghĩ sai lầm đó đã củng cố niềm tin rằng
đàn ông có quyền dạy dỗ vợ của họ thông qua các hành động có tính bạo lực.
Họ cũng tự cho mình có vai trò trụ cột gia đình, có quyền định đoạt mọi việc,
có thể mắng chửi vợ con một vài câu là bình thường, nhiều bậc cha mẹ tự cho
mình quyền được mắng chửi con cái. Họ luôn có tư tưởng cam chịu, vì sợ

nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau” [26].
Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp; nội dung phòng, chống bạo lực
gia đình được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác. Tiêu biểu là
những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là một trong những văn bản
đó. Bộ luật Hình sự là căn cứ để xác định hành vi bạo lực gia đình nào là hành
vi phạm tội. Điều 130, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm
quyền bình đẳng của phụ nữ: "người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm
trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn
hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị
phạt tù từ ba tháng đến một năm" [27]. Ngoài ra, Bộ luật hình sự Việt Nam đã
hình sự hoá nhiều hành vi bạo lực gia đình, quy định thành nhiều tội phạm
liên quan đến bạo lực gia đình. Tuy nhiên, những điều luật đó mới chỉ quy

12


định gián tiếp về hành vi bạo lực gia đình, chưa có nhiều quy định trực tiếp về
phòng, chống bạo lực gia đình.
Cùng với Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Chính phủ cũng quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: "Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính
sách xây dựng gia đình Việt Nam bình đẳng, ấm no, hạnh phúc; bảo đảm
quyền bình đẳng nam, nữ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình;
bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ và trẻ em; có biện pháp ngăn ngừa và
chống mọi hành vi bạo lực, xúc phạm nhân phẩm đối với phụ nữ và trẻ em".
[31]. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 là một trong những văn
bản pháp luật quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ
hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử
của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức
tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến

nên một cuộc cách mạng thực sự trong phòng, chống bạo lực gia đình, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình đã được Quốc hội khoá XII nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2008. Luật phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương
và 46 điều. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách trực tiếp, cụ
thể về hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình. Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình năm 2007 đã điều chỉnh một cách có hệ thống các hành vi bạo lực
gia đình để trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về phạm vi điều chỉnh;
định nghĩa về bạo lực gia đình, xác định cụ thể các hành vi bạo lực gia đình;
nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; nghĩa vụ của người có hành vi bạo
lực gia đình; quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình; chính sách của
Nhà nước, hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình và những hành vi
bị nghiêm cấm.
Về phạm vi điều chỉnh được quy định tại điều 1, Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình: "Luật này quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ,
hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan,
tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình". Như vậy phạm vi điều chỉnh của Luật khá
rộng. Luật điều chỉnh nhiều vấn đề, quy định về tất cả hành vi bạo lực của các
14


thành viên trong gia đình kể cả đối với gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc
nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng, các
phương thức phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực
gia đình đồng thời xác định trách nhiệm của toàn xã hội đối với vấn đề này và
quy định về xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Lần đầu tiên, bạo lực gia đình được quy định trong văn bản pháp luật
Việt Nam. Theo đó, hành vi bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi cố ý

chưa hiểu rõ quy định về hành vi bạo lực gia đình, tránh được quan niệm của
một số người, bạo lực gia đình là chồng đánh vợ hoặc vợ đánh chồng, có
nghĩa là phải có "đánh đập", còn "chửi mắng, lăng mạ, cô lập, xua đuổi, hay
cưỡng ép..." thì không phải là hành vi bạo lực gia đình hay một số người thì
cho rằng hành vi đánh vợ hay chồng là chuyện bình thường xảy ra trong cuộc
sống, vì vậy, không phải là hành vi bạo lực gia đình và như vậy, không phải là
vi phạm pháp luật.
Cũng như các đạo luật khác, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Việt
Nam cũng quy định "nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình" điều 3, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình 1. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp
phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác
tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống
văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 2. Hành vi bạo
lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của
pháp luật. 3. Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu
tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật
và phụ nữ. 4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng,
cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình [29].
Như vậy, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã đưa ra các nguyên tắc
rất cơ bản trong phòng, chống bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình đang là một
căn bệnh nguy hiểm trong xã hội, là vấn đề toàn cầu, gây ảnh hưởng đến tính
mạng, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm của người phụ nữ trong gia đình. Do
vậy, để ngăn chặn đẩy lùi bạo lực gia đình thì nguyên tắc phòng ngừa là chính
được đặt lên hàng đầu; hành vi bạo lực gia đình phải nhanh chóng được phát
hiện để bảo vệ, giúp đỡ nạn nhân đồng thời xử lý nghiêm minh đối với người
16


có hành vi bạo hành; mỗi cá nhân và cả xã hội phải có trách nhiệm trong việc



gia đình, dòng họ tiến hành hay cơ quan, tổ chức tiến hành hoặc do tổ chức
hoà giải cơ sở tiến hành. Quy định này rất quan trọng nhằm phát huy vai trò
và trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi thành viên trong xã hội, phát huy
được tính dân chủ trong nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và nâng
cao ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật đặc biệt là pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình.
Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ ở mức cao nhất thông qua các
biện pháp như: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình điều 18; biện pháp ngăn
chặn, bảo vệ điều 19; cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch uỷ ban nhân
dân cấp xã điều 20, quyết định của toà án điều 21; biện pháp chăm sóc tại cơ
sở khám chữa bệnh điều 23; biện pháp tư vấn điều 24; hỗ trợ khẩn cấp các
nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân [29]. Những quy định trên thể hiện tính nhân
đạo của Nhà nước ta, thể hiện sự quan tâm, bảo vệ quyền con người, kế thừa
truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Một trong những biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân rất quan trọng là
biện pháp cấm tiếp xúc và biện pháp này được thực hiện theo điều 20 và điều
21 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Khoản 1, điều 20, Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình quy định: "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy
ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn
không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây: a. có đơn yêu cầu của nạn
nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có
đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; b. hành vi
bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khoẻ hoặc đe
doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; c. người có hành vi bạo lực gia
đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp
xúc". Điều 21, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: "toà án đang thụ
lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có

ban hành Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Nghị định Quy định xử phạt hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã
hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình. Cùng với các
văn bản pháp luật khác, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã tạo nên một hệ
thống pháp luật khá đầy đủ trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Với
tính chính xác, kịp thời, cụ thể, rõ ràng, phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt Nam, hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là một trong
những công cụ hữu hiệu nhất để hạn chế, chặn đứng, đẩy lùi được nạn bạo lực
gia đình đang gia tăng hiện nay.
1.1.4. Vai trò pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

21


Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là cơ sở pháp lý thống nhất để bảo
vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, góp phần củng cố và
xây dựng gia đình Việt nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
Đây là một đạo luật quan trọng và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện
rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước trong vấn đề phòng, chống bạo hành và
là cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên
trong gia đình.
Có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội,
tạo ra trật tự và ổn định cho xã hội nhất là trong việc ngăn chặn và đẩy lùi
hiện tượng vi phạm pháp luật. Một hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực
gia đình hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất, cụ thể, tính khả thi cao, dân chủ, tiến
bộ, hướng tới các giá trị nhân văn cùng với hệ thống các biện pháp phòng
ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật phòng,
chống bạo lực gia đình ngày càng đầy đủ; hoạt động của hệ thống các cơ quan
bảo vệ pháp luật ngày càng đạt hiệu quả cao hơn sẽ là những đảm bảo pháp lý
để ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình.

động cụ thể mới có thể bị quy kết là đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình được biểu
hiện dưới hai hình thức là hành động như người chồng đã có hành vi đánh vợ
gây thương tích hoặc không hành động như người chồng đã hành hạ người vợ
bằng cách trong một thời gian dài thờ ơ, không nói chuyện, không về nhà làm
người vợ bị tổn thất nặng về tinh thần.
Như vậy, dấu hiệu đầu tiên để nhận biết vi phạm pháp luật phòng,
chống bạo lực gia đình là nó phải biểu hiện ra ngoài bằng hành vi bởi pháp
luật phòng, chống bạo lực gia đình không điều chỉnh những suy nghĩ của con
người.
Thứ hai, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hành vi
trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Tính trái pháp luật thể hiện sự chống đối, làm ngược lại những quy
định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Cụ thể, chủ thể có những
hành vi trái với quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hay các quy
định trong các văn bản pháp luật khác có quy định về phòng, chống bạo lực
gia đình như Hiến pháp 2013, Luật Hình sự 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự
23


2003, Bộ luật Dân sự 2005... Chẳng hạn, chủ thể có một trong những hành vi
quy định tại điều 2, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như cưỡng ép quan
hệ tình dục; ...[29]. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cấm hành vi trên,
mọi người có quyền được bảo vệ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm nhưng
người chồng đã xâm hại đến quyền đó của người phụ nữ, làm trái lại những gì
mà pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình yêu cầu, đặt ra thì đó chính là
hành vi trái pháp luật.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật nhưng là hành vi trái pháp
luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Chỉ các hành vi liên quan
đến lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, trái với các quy định trong hệ

thể thực hiện hành vi vi phạm phải đạt một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh
tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Trong thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, người chồng thường uống
rượu say rồi về hành hạ, đánh đập vợ thì vẫn bị coi là vi phạm pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình và phải chịu trách nhiệm pháp lý vì mặc dù lúc
đó họ không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng họ đã có lỗi
trong việc tự đặt mình vào trong tình trạng say đó.
Trong mỗi trường hợp vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
khác nhau, thì chủ thể gây ra vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
là khác nhau: có trường hợp chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, ngoài các điều
kiện trên còn bắt buộc phải là nam giới (trường hợp bạo lực gia đình đối với
phụ nữ). Có trường hợp, chủ thể phải là người có nhiệm vụ, quyền hạn (không
thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực phòng, chống
bạo lực gia đình) như: người có thẩm quyền đã không xử lý người có hành vi
bạo lực gia đình, điều tra viên không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can khi
biết chính xác và có đầy đủ căn cứ pháp lý rằng bị can đó đã có hành vi phạm
tội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.
Từ những phân tích trên ta thấy, khi xem xét hành vi vi phạm pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình, phải căn cứ vào cả bốn dấu hiệu kể trên. Các
dấu hiệu trên là tiêu chí để ta phân biệt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status