Vi phạm pháp luật về đóng, hưởng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

MA THỊ VÂN KIỀU VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
ĐÓNG, HƯỞNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ VĂN BÍNH

HÀ NỘI- 2013

LỜI CAM ĐOAN

1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Bố cục của luận văn 4
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
ĐÓNG, HƯỞNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 5
1.1.1. Khái niệm chung bảo hiểm xã hội 5
1.1.2. Những nội dung cơ bản của Bảo hiểm xã hội 6
1.1.3. Đóng, hưởng Bảo hiểm xã hội 11
1.2. Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng, hưởng Bảo hiểm
xã hội ở Việt Nam và các yếu tố cấu thành 11
1.2.1. Khái niệm và các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 11
1.2.2. Cấu thành của vi phạm pháp luật 13
1.2.3. Các loại vi phạm pháp luật 15
1.2.4. Khái niệm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng, hưởng Bảo
hiểm xã hội 16
1.2.5. Phân loại vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng, hưởng Bảo
hiểm xã hội 16
1.2.6. Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
đóng, hưởng Bảo hiểm xã hội 17
1.3. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực đóng, hưởng bảo hiểm xã hội 20
1.3.1. Về hình thức xử lý 20
1.3.2. Về nguyên tắc xử lý 22
1.3.3. Về thẩm quyền và thủ tục xử lý 24
1.3.4. Về thời hiệu xử lý 25
Chương 2: VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐÓNG, HƯỞNG BẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH
BHYT
BHTN
BLHS
CP
DN
HĐLĐ
KCN
NSDLĐ
NLĐ
Tp. HCM
TNHH
UBND
VPPL
: Bảo hiểm xã hội
: Bảo hiểm y tế
: Bảo hiểm tự nguyện
: Bộ luật Hình sự
: Chính Phủ
: Doanh nghiệp
: Hợp đồng lao động
: Khu công nghiệp
: Người sử dụng lao động
: Người lao động
: Thành phố Hồ Chí Minh
: Trách nhiệm hữu hạn

từ phía người sử dụng lao động, phía người lao động, và phía cơ quan bảo
hiểm, cơ quan, tổ chức khác. Ví dụ như các doanh nghiệp không đóng, đóng
không đúng thời hạn quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không
đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; người lao động thỏa thuận với người
sử dụng lao động không tham gia BHXH; cơ quan bảo hiểm cố tình gây khó
khăn, cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động, Các vi
phạm đó ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề an sinh xã hội, làm giảm uy tín của
người dân tới chế độ bảo hiểm. Hơn nữa, các chế tài xử phạt những vi phạm
này còn ở mức rất nhẹ chưa mang tính chất răn đe để giảm thiểu vi phạm.
Xuất phát từ thực trạng đó, cùng với niềm đam mê khoa học, tôi đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài: “Vi phạm pháp luật về đóng, hưởng bảo hiểm xã hội
ở Việt Nam”.

2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với lĩnh vực BHXH, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều
tác giả, có thể kể đến như: Lê Thị Hoài Thu (2003)“Bảo hiểm xã hội trong hệ
thống an sinh xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học (03), tr. 48-55,
ĐHQGHN; Nguyễn Thị Chính (2010), “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt
động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” Luận văn Tiến sỹ,
người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Định; PGS.TS. Bùi Huy Thảo, Hà
Nội; Hà Văn Chi (2005), “Hoàn thiện cơ chế xét duyệt, thẩm định và quản lý
hồ sơ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội”, Tiểu đề án, Hà Nội.
Bên cạnh đó, đề tài về vi phạm pháp luật cũng được nhiều nhà khoa
học bỏ công tìm hiểu như: Bùi Xuân Phái (2007), “Vi phạm pháp luật, một số
vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, người
hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, PGS. TSKH. Lê Cảm, Hà
Nội; “Bàn về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý”, Tạp chí Toà án
nhân dân tối cao, (18/2007), tr:2-8, Hà Nội;…
Vấn đề vi phạm pháp luật BHXH, đặc biệt là vi phạm pháp luật về

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin;
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch
sử, được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về vi
phạm pháp luật về đóng, hưởng BHXH ở Việt Nam;
Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp
đối chiếu, được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu các quy định về vi
phạm pháp luật về đóng, hưởng BHXH ở Việt Nam;
Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy

4
nạp, được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu một số giải pháp nhằm
giảm thiểu vi phạm pháp luật về đóng, hưởng BHXH ở Việt Nam.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, luận văn kết cấu gồm các chương sau:
Chương 1: Khái quát chung vi phạm pháp luật về đóng, hưởng bảo
hiểm xã hội
Chương 2: Vi phạm pháp luật về đóng, hưởng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hạn chế vi phạm pháp luật về đóng,
hưởng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế,
xã hội từng giai đoạn.
BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều
lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và 1995. Ngày
29/06/2006, Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Bảo hiểm
xã hội gồm 11 chương, 141 điều. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày

6
01/01/2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì từ ngày 01/01/2008,
đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày 01/01/2009.
1.1.2. Những nội dung cơ bản của Bảo hiểm xã hội
BHXH là một hệ thống đa dạng và phức tạp với những nội dung khác
nhau. Tuy nhiên, có thể tập trung vào 4 nhóm nội dung cơ bản sau:
Đối tượng của BHXH

Đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động chứ không phải
bản thân người lao động. BHXH được hình thành để góp phần cân bằng thu
nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc
mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng. Còn đối
tượng đảm bảo của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy định của
pháp luật BHXH. Đối tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử
dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp.
Chủ thể trong quan hệ BHXH

Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa
nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH. Khác với
bảo hiểm thương mại, trong BHXH, mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được
BHXH. Ở đây cũng cần chú ý, ba bên trong BHXH khác với ba bên trong
quan hệ lao động. Nếu như trong quan hệ lao động, ba bên bao gồm Nhà

quỹ BHXH phát triển.
Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh
những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi
ro được bảo hiểm gây ra. Trong BHXH, bên được BHXH là người lao động
tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có
phát sinh nhu cầu được BHXH do pháp luật quy định. Trong kinh tế thị trường,

8
bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH (người lao động làm
việc độc lập, không có quan hệ lao động chẳng hạn). Đối với người lao động
độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng
BHXH vì họ đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính họ. Giữa các bên có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi, trên cơ sở các
quy định của pháp luật (khác với bảo hiểm thương mại là trên cơ sở hợp đồng).
Nếu không thực hiện đúng các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm đóng góp
(của bên tham gia BHXH) cũng như trách nhiệm đảm bảo quyền lợi cho người
thụ hưởng (của bên nhận BHXH), thì đều là vi phạm pháp luật về BHXH.
Các chế độ BHXH

Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng
trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao
động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Hiện nay
pháp luật BHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ, bao gồm: chế độ ốm
đau; chế độ thai sản; chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ tử
tuất; chế độ hưu trí.
Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó
thể hiện được vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với người lao
động khi họ tham gia BHXH. Trong các chế độ BHXH, quy định đối tượng
được thụ hưởng, các điều kiện hưởng BHXH, mức hưởng và thời hạn được
hưởng trợ cấp BHXH.

Quản lý BHXH

Quản lý BHXH chung nhất, được hiểu là sự tác động của chủ thể quản
lý vào đối tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm
đạt được mục tiêu đề ra với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù
hợp với hệ thống quản lý chung của nền kinh tế. Quản lý BHXH cho thấy
phương thức quản lý BHXH và các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý

10
BHXH (bao gồm quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý hoạt động sự nghiệp
BHXH). Do điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau
nên hệ thống BHXH của các nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không
có mô hình tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước. Tuy nhiên, dù có tổ
chức thế nào thì vẫn có hai nội dung quan trọng, đó là quản lý Nhà nước về
BHXH và quản lý các hoạt động sự nghiệp BHXH.
Quản lý Nhà nước về BHXH
BHXH là một chính sách xã hội của mỗi nước vì vậy phải có sự quản
lý các hoạt động BHXH. Quản lý Nhà nước về BHXH là một trong các hoạt
động quản lý đó. Quản lý Nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng xã hội
của Nhà nước. Quản lý Nhà nước về BHXH được thể hiện thông qua một số
nội dung cơ bản sau: Quản lý thống nhất các hoạt động BHXH trên phạm vi
toàn quốc gia: Dù hệ thống tổ chức và cách thức quản lý của các quốc gia có
khác nhau, nhưng việc các quốc gia đều có sự quản lý thống nhất các hoạt
động BHXH. Việc quản lý thống nhất thể hiện qua việc chỉ có Nhà nước mới
ban hành chính sách vĩ mô định hướng hoạt động của cả hệ thống BHXH.
Nhà nước định ra các chế độ BHXH, các nội dung cơ bản của BHXH; các
chính sách BHXH đối với các nhóm đối tượng cụ thể, phù hợp với điều kiện
kinh tế- xã hội của đất nước trong từng gia đoạn phát triển.
Tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH
Dù mô hình có thể được tổ chức khác nhau, nhưng hoạt động sự nghiệp

thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban
hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của
họ. Mác đã từng nói: ngoài hành vi của tôi ra, tôi không tồn tại đối với pháp
luật, không phải là đối tượng của nó. Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế
của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi

12
phạm pháp luật. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động
(ví dụ: đi xe máy vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông) hoặc bằng không hành
động (ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế).
Thứ hai, VPPL phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các
yêu cầu của pháp luật. Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức sau:
Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm. Ví dụ: đi xe máy
vào đường ngược chiều…
Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải
thực hiện. Ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ…
Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ: trưởng
thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định…
Thứ ba, VPPL phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý, vì hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có
năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Năng lực
trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ
thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Theo quy định của pháp luật,
chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí
tuệ phát triển bình thường. Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực
đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi
đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chủ thể
là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận.
Thứ tư, VPPL phải là hành vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực hiện
hành vi trái pháp luật, chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình và hậu

quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết
quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác.
Thời gian VPPL là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật. Địa điểm

14
VPPL là nơi xảy ra vi phạm pháp luật. Phương tiện VPPL là công cụ mà chủ
thể sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật của mình.
Khi xem xét mặt khách quan của VPPL thì hành vi trái pháp luật luôn
luôn là yếu tố bắt buộc phải xác định trong cấu thành của mọi vi phạm pháp
luật, còn các yếu tố khác có bắt buộc phải xác định hay không là tuỳ từng
trường hợp vi phạm. Có trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là yếu
tố bắt buộc phải xác định, có trường hợp địa điểm vi phạm cũng là yếu tố bắt
buộc phải xác định.
Mặt chủ quan của VPPL là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi
thực hiện hành vi trái pháp luật. Nó bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục
đích vi phạm pháp luật. Lỗi là trạng thái tâm lý hay thái độ của chủ thể đối với
hành vi của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội được
thể hiện dưới hai hình thức: cố ý hoặc vô ý. Lỗi gồm 2 loại: cố ý và vô ý. Lỗi
cố ý lại gồm 2 loại: cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
Cố ý trực tiếp là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật
nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của
hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Cố ý gián tiếp là lỗi của một chủ thể khi thực hiện một hành vi trái
pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu
quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu
quả đó xảy ra.
Lỗi vô ý cũng gồm 2 loại: vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin.
Vô ý vì cẩu thả là lỗi của một chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra

danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công

16
dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.
Vi phạm hành chính
Theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam thì vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính
trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã
hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định
của pháp luật phải bị xử lý hành chính.
Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng
lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân
thân phi tài sản.
Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy
tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng
kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ
quan, tổ chức đó.
1.2.4. Khái niệm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng, hưởng Bảo
hiểm xã hội
VPPL trong lĩnh vực đóng, hưởng BHXH là hành vi trái pháp luật và
có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến
quan hệ xã hội về đóng, hưởng BHXH được pháp luật bảo vệ.
Như vậy, VPPL trong lĩnh vực đóng, hưởng BHXH là một loại VPPL
và nằm trong VPPL về BHXH nhưng chỉ trong giới hạn về đóng BHXH và
hưởng BHXH. VPPL về BHXH bao gồm các vi phạm như: VPPL về thủ tục
thực hiện bảo hiểm xã hội; VPPL về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã
hội; VPPL về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội,
1.2.5. Phân loại vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đóng, hưởng Bảo


dung chính là hành vi trái pháp luật, hậu quả của hành vi đó, mối quan hệ
nhân quả của hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra.
Hành vi trái pháp luật: Là những xử sự của con người không phù hợp
với các quy định của pháp luật về đóng và hưởng BHXH. Pháp luật nói
chung, pháp luật về đóng, hưởng BHXH đã quy định trong từng trường hợp,
hoàn cảnh con người được làm hoặc không được làm những gì, nhưng chủ thể
thực hiện hành vi lại không tuân thủ theo những yêu cầu đó, vậy nên hành vi
của họ là hành vi trái pháp luật. Có thể kể đến một số hành vi như: không
đóng, đóng không đúng thời gian quy định; đóng không đúng mức quy định;
đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH;
Hậu quả của vi phạm pháp luật: Đó là sự thiệt hại về vật chất hoặc tinh
thần do hành vi trái pháp luật nêu trên gây ra. Hậu quả xảy ra có thể là: người
lao động không được đóng BHXH từ đó không được hưởng các chế độ do
BHXH mang lại; người lao động không được hưởng đúng mức BHXH mà
thực tế họ được hưởng do người sử dụng lao động đóng không đúng mức quy
định, xác nhận không đúng thời gian làm việc và mức đóng BHXH; cơ quan
BHXH xách nhiễu gây khó khăn cho người được hưởng BHXH như không
cấp sổ hoặc chốt sổ BHXH đúng hạn, chi trả không đúng mức hoặc chi trả
không đúng thời hạn chế độ BHXH; Các hậu quả trên chủ yếu gây thiệt hại
cho người lao động, đây là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong quan hệ
lao động cũng như quan hệ BHXH.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra:
Đây là mối liên kết chặt chẽ và quan trọng của hành vi trái pháp luật và hậu
quả, tức là hậu quả xảy ra phải xuất phát từ hành vi trái pháp luật và hành vi
trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả đó. Ví dụ như: hành vi
không đóng BHXH cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH,
đóng BHXH không đủ số người tham gia BHXH dẫn đến hậu quả là người

19
không được đóng BHXH thì không được hưởng các phúc lợi từ BHXH mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status