Pháp luật về quản lý bán đấu giá tài sản từ thực tiễn tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN CAO TRÍ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ
TÀ I SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀ NH CHÍ NH

ĐĂK LĂK - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN CAO TRÍ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ
TÀ I SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI

2.1. Khái quát chung về tin̉ h Gia Lai và hoạt động bán đấu giá tài ......................48
2.2. Thực tra ̣ng pháp luâ ̣t bán đấ u giá tài sản và quản lý bán đấ u giá ..................49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ ......................................................................................88
3.1. Phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về quản lý bán đấ u giá ........................88
3.2. Giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về quản lý bán đấ u giá ................................90
3. 3. Kiến nghị hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về quản lý bán đấ u giá ...............................98
KẾT LUẬN .............................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................103

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nề n kinh tế thị trường phát triển, hàng hóa trở nên đa dạng và phong
phú, phần lớn sản phẩm của lao động là hàng hóa, là tài sản. Tài sản vừa có giá trị
sử dụng vừa có giá trị kinh tế, trong điều kiện kinh tế thị trường nó trở thành yếu tố
quan trọng trong giao lưu dân sự. Hoạt động mua bán và tiêu thụ hàng hóa nói
chung và bán đấ u giá tài sản nói riêng cũng trở nên đa dạng và sôi động. Nhiều hình
thức bán đấ u giá tài sản ra đời và phát triển. Đấu giá tài sản với tư cách là hoạt động
dich
̣ vu ̣ đặc thù ra đời, đã giải quyết được nhu cầu lợi ích kinh tế từ các bên tham
gia. Thông qua đấu giá tài sản, các bên tham gia đều thể hiện, hướng đến lợi nhuận
mong muốn đạt được kế t quả giá bán tài sản cao nhấ t.
Đấu giá tài sản là một hoa ̣t đô ̣ng dich
̣ vu ̣ trong nền kinh tế thị trường hiện
nay. Đấu giá tài sản có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc đa
dạng hóa các hình thức trao đổi, mua bán lưu thông hàng hóa. Mặt khác, thông qua
bán đấu giá tài sản, hoạt động mua bán nói chung và bán đấ u giá tài sản nói riêng

hành lang pháp lý cần thiết thúc đẩy hoạt động bán đấu giá tài sản phát triển. Các
quy định pháp luật này đang rất cần sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện. Việc tiếp tục
nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận và thực tiễn về bán đấu giá tài
sản, sự thể hiện chúng trong các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời đánh
giá việc áp dụng những quy định của pháp luật trong thực tiễn để đưa ra đề xuấ t,
kiến nghi ̣ trong quá trình lập pháp, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm pháp
luâ ̣t về lĩnh vực này trong giai đoạn hiện nay, không những có ý nghĩa lý luận - thực
tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luâ ̣t về quản lý
bán đấ u giá tài sản từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm Luận văn Thạc si ̃ Luật học,
chuyên ngành Luâ ̣t Hiế n pháp và Luâ ̣t Hành chin
́ h.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều Hô ̣i nghi,̣ Hội thảo, phát
hành tài liệu về pháp luật bán đấu giá tài sản. Học viện Tư pháp (Bộ Tư pháp) đã
biên soạn Tập bài giảng về pháp luật đấu giá. Nhiều học giả thực hiện đề tài có nội
dung về bán đấu giá ở dạng công trình Luận văn. Nhiều nhà nghiên cứu viết bài ở
góc độ đăng bài tạp chí hoặc trao đổi trên các diễn đàn khoa học pháp lý. Nhiều học
viên Cao học đã thực hiện đề tài có nội dung tương tự hoặc có liên quan để làm đề

5


tài Luận văn thạc si.̃ Tác giả xin liệt kê một số công trình đã nghiên cứu, tham khảo
có nội dung liên quan đến đề tài này như:
Bộ Tư pháp (2010), Đặc san tuyên truyền pháp luật. Chủ đề đấu giá tài sản
và pháp luật về đấu giá tài sản.
Bộ Tư pháp (2010), Tài liệu Hội nghị tập huấn triển khai thi hành Nghị định
số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài
sản.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, nghiên cứu đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Trình bày và làm sáng rõ những cơ sở lý luận về bán đấu giá; pháp luật về
quản lý bán đấ u giá tài sản.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý bán đấ u giá tài sản trên
địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá; đề xuất
biện pháp quản lý bán đấ u giá tài sản trên điạ bàn tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về hoạt động
bán đấu giá tài sản bao gồm các văn bản sau: Các quy định về đấu giá tài sản trong
Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Thi hành án dân sự năm
2008, Luâ ̣t Xử lý vi pha ̣m hành chin
́ h năm 2012, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP
ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản…, các văn bản quy
định về đấu giá hàng hóa đặc thù như đấu giá hàng dự trữ quốc gia, đấu giá hàng
hóa lưu giữ bằng đường biển . . .
Thực tiễn hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định pháp luật tại các tổ
chức bán đấu giá chuyên nghiê ̣p tại tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luâ ̣t về quản lý
bán đấ u giá tài sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến 31.12.2015
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử.

8

tiếp điều chỉnh các hoạt động đấu giá tài sản, đặc điểm, bản chất của bán đấu giá
trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài góp phần hệ thống hóa các quy đinh
̣ của pháp

9


luâ ̣t về quản lý bán đấ u giá tài sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích, đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý bán đấ u
giá tài sản ở tỉnh Gia Lai qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
bán đấ u giá tài sản theo quy định pháp luật ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người
hoạt động trong lĩnh vực bán đấu giá và quản lý bán đấ u giá tài sản .
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về quản lý bán đấu giá.
- Chương 2: Thực tra ̣ng pháp luật và tổ chức thực hiê ̣n pháp luâ ̣t quản lý bán
đấu giá tài sản ở tỉnh Gia Lai.
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý bán
đấu giá.

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ
BÁN ĐẤU GIÁ TÀ I SẢN
1. 1. Cơ sở lý luận về bán đấu giá tài sản

“Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó, người bán hàng tự
mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để
chọn người mua trả giá cao nhất”[28, tr.48].
Ở Việt Nam, pháp luâ ̣t quy định về hoạt động bán đấu giá ở nhiều văn bản
pháp luật khác nhau tùy thuộc vào đối tượng của hoạt động này. Tuy vậy, về bản
chất, bán đấu giá là hình thức mua bán công khai, có nhiều người cùng tham gia trả
giá, theo trình tự thủ tục nhất định, đối tượng đưa ra đấu giá được bán cho người
chấp nhận mua ở mức giá cao nhất.
- Tài sản (asset) theo định nghĩa của Từ điển kinh tế, tài chính ngân hàng
của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Tề (NXB Thanh niên-1999) là một vật thuộc
quyền sở hữu cá nhân biểu hiện dưới hình thức giá trị hoặc theo David W.Pearce
thì: “Tài sản là một thực thể có giá trị thị trường hoặc giá trị trao đổi và là bộ phận
cấu thành của cải hay tài sản của chủ sở hữu”. Theo quy định của Bô ̣ Luật dân sự
Việt Nam thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Pháp luật Việt
Nam chia tài sản thành hai loại bất động sản và động sàn. “Bất động sản bao gồm
đất đai, nhà, các tài sản khác gắn liền với đất đai và những loại tài sản theo quy định
của pháp luật. Động sản không phải là bất động sản”[25, tr.66-67]. Nghị định
17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản
cũng xác định các loại tài sản bán đấu giá chỉ bao gồm:
Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà
nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
Tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định
phải xử lý bằng bán đấu giá;
Tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật
về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

12


hình thức đấu giá cho các đối tượng cụ thể khác như đấu giá quyền sử dụng đất,

13


đấu giá hàng hóa dự trữ quốc gia, đấu giá quyền khai thác khoáng sản, . . . thì đấu
giá nhằm lựa chọn người mua hàng hóa, dịch vụ trả giá cao nhất và khả thi nhất.
Đấu giá là một hành vi pháp lý, có thể là một hành vi dân sự hoặc một hoạt
động thương mại độc lập của thương nhân. Đối tượng của bán đấu giá là tài sản
hoặc hàng hóa thương mại được phép lưu thông, quan hệ đấu giá được xác lập dưới
những hình thức nhất định. Là một trong các hình thức mua bán, bán đấu giá mang
những đặc điểm chung của hoạt động mua bán. Tuy nhiên, đấu giá cũng có những
đặc điểm riêng khác biệt so với các hoạt động mua bán thông thường khác, cụ thể:
Thứ nhất, đấu giá là hình thức mua bán công khai nhất. Đặc điểm nổi bật
này của đấu giá cũng là một trong những nguyên tắc của hoạt động mua bán thông
qua đấu giá. Tại Điều 188 Luật Thương mại năm 2005 quy định “Việc đấu giá
hàng hoá trong thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung
thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”[28, tr.48]. Khoản 1
Điều 3 Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về
bán đấu giá tài sản cũng quy định đặc điểm công khai của hoạt động mua bán tài
sản bằng việc quy định nguyên tắc sau: “Việc bán đấu giá tài sản được thực hiện
theo nguyên tắc công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”[11, tr.2].
Như vậy, tính công khai của hình thức bán đấu giá được quy định trong Luật
Thương mại năm 2005, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm
2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các văn bản quy định đấu giá các đối
tượng cụ thể khác, thể hiện ở việc công khai các thông tin liên quan đến tài sản,
người đăng ký tham gia đấu giá có thể trực tiếp xem tài sản đưa ra đấu giá; công
khai thông báo và niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản với đầy đủ các thông tin
cần công khai như về thời gian, địa điểm đấu giá; tên, địa chỉ của người tổ chức đấu

Thứ hai, đấu giá là hình thức mua bán thông qua trung gian. Đây không
phải là đặc tính tuyệt đối của bán đấu giá, nhưng việc bán đấu giá thường được
thực hiện thông qua một bên trung gian.
Tính trung gian trong hoạt động bán đấu giá được hình thành từ rất lâu đời.
Có thể nói đặc tính này gắn với sự ra đời của hoạt động bán đấu giá. Từ thế kỷ
XVIII, tại Anh đã có hai nhà đấu giá chuyên nghiệp ra đời và duy trì hoạt động cho
tới ngày nay là Sotherby năm 1744 và Christie năm 1766. Tại Pháp từ thế kỷ XV

15


hoạt động đấu giá đã phát triển thông qua các tổ chức chuyên đóng vai trò làm
trung gian tổ chức các cuộc bán đấu giá. Tại Trung Quốc, doanh nghiệp bán đấu giá
chuyên nghiệp China Guardian Auction mới thành lập năm 1993 nhưng đã thể hiện
được vị thế với vai trò làm trung gian trong hoạt động đấu giá, đủ sức cạnh tranh
với các tổ chức đấu giá có lịch sử vài trăm năm như ở các nước đã phát triển. Các
tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đấu giá đều thực hiện vai trò chính là làm trung
gian cho các giao dịch mua bán thông qua đấu giá.
Tại Việt Nam, theo pháp luật hiện hành thì vai trò trung gian này được xác
định thông qua các tổ chức thực hiện việc bán đấu giá có tên gọi là Trung tâm dịch
vụ bán đấu giá tài sản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc các doanh
nghiệp có chức năng thực hiện nghiệp vụ bán đấu giá hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp. Ở các tổ chức bán đấu giá này phải có đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu
giá. Các tổ chức trung gian này thường được thành lập, tồn tại dưới các hình thức
sau:
+ Các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
thành lập theo quy định của Chiń h phủ.
+ Doanh nghiệp chuyên thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ bán đấu giá
tài sản. Đây là tổ chức được thành lập với chức năng duy nhất đó là kinh doanh
dịch vụ đấu giá, mà không có chức năng kinh doanh nào khác. Có nghĩa là doanh

thì người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ là
người có quyền mua tài sản.
Khoản 3 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của
Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định: “Người mua được tài sản bán đấu giá là
người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm; trong trường hợp không có người trả
giá cao hơn giá khởi điểm thì tài sản được bán bằng giá khởi điểm””[11, tr.2].
Đây cũng là một đặc điểm khác biệt hoàn toàn với hình thức mua bán thông
thường hoặc với cả hình thức đấu thầu. Trong hình thức mua bán thông thường,
bên bán và bên mua có thể thỏa thuận về giá cả thông qua trao đổi trực tiếp, cả hai
bên đều có quyền thay đổi mức giá trong quá trình thương lượng, đến khi hai bên
thống nhất mức giá cuối cùng thì việc mua bán hoàn thành. Trong hình thức đấu
thầu thì ngược lại hoàn toàn, bên mua lại không phải là người quyết định về giá

17


trúng thầu, giá trúng thầu sẽ do nhà cung cấp là người bán xác định, khi người bán
đưa ra một mức giá phù hợp nhất thì bên mua sẽ chấp nhận.
Thứ tư, hoạt động bán đấu giá được thực hiện theo một trình tự thủ tục
chặt chẽ. Trình tự thủ tục này do luật hoặc các văn bản dưới luật hướng dẫn quy
định. Khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc đấu giá phải tuân thủ, như về cách
thức xác định giá khởi điểm, về thông báo bán đấu giá, về số tiền đặt trước, về
nguyên tắc, về không gian, thời gian, cách trả giá, nội quy phiên đấu giá,. . . Đặc
điểm này rất khác so với cách mua bán thông thường, việc mua bán thông thường
đôi khi chỉ cần hai bên thỏa thuận miệng với nhau một lần, thỏa thuận qua thư, qua
điện thoại, ở bất kỳ không gian thời gian nào cũng được, các bên không bị bắt buộc
phải theo một trình tự thủ tục nhất định nào. Khi các bên thống nhất cụ thể với
nhau về đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán và các nội dung thỏa thuận khác
của việc mua bán thông thường là giao dịch hoàn tất.
Thứ năm, kết quả của việc mua bán thông qua đấu giá được pháp luật

thông báo.
1.1.1.4. Hình thức bán đấu giá
Theo Điề u 33 Nghi ̣ đinh
̣ 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của
Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy đinh
̣ hình thức đấ u giá: “Tổ chức bán đấu giá
tài sản có thể lựa chọn một trong các hình thức đấu giá sau đây để tiến hành cuộc
bán đấu giá tài sản: Đấu giá trực tiếp bằng lời nói; Đấu giá bằng bỏ phiếu. Các hình
thức khác do người có tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thỏa
thuận”[11, tr.12].
Đấu giá trực tiếp bằng lời nói: Bắt đầu phiên đấu giá, Đấ u giá viên điều
hành phiên đấu giá dùng lời nói của mình để đưa ra giá khởi điểm, bước giá. Những
người tham gia đấ u giá sẽ đặt giá cũng bằng lời nói để người điều hành đấu giá biết.
Đố i với hiǹ h thức đấ u giá trực tiế p bằ ng lời nói có ưu điểm là sự trả giá của mọi
người mua đều công khai, người trả giá cao nhất được xác định ngay mà không phải
mất nhiều thời giờ để so sánh, vì thế mà cuộc đấu giá nhanh chóng kết thúc.
Đấu giá bằng bỏ phiếu: Đấ u giá viên điều hành đấ u giá sẽ công bố “…số
vòng bỏ phiếu, cách thức tiến hành bỏ phiếu phải được tổ chức bán đấu giá tài sản
hoặc đấu giá viên thỏa thuận với người có tài sản bán đấu giá. Trong trường hợp
thực hiện cách thức bỏ phiếu nhiều vòng thì mỗi người tham gia đấu giá được phát
một tờ phiếu trả giá, ghi giá muốn trả vào phiếu của mình và bỏ phiếu vào hòm
phiếu. Sau khi thu hết các phiếu đã phát, đấu giá viên công bố mức giá trả cao nhất
của vòng bỏ phiếu mà không công bố tên của người đã trả giá cao nhất, tiếp tục phát
phiếu cho những người tham gia đấu giá để bắt đầu trả giá cho vòng tiếp theo. Cuộc

20


bán đấu giá kết thúc khi không còn ai yêu cầu trả giá tiếp”[6, tr.7-8]. Với hin
̀ h thức

21


Đối với bên có tài sản:
Bên có tài sản luôn đạt được giá trị bán tài sản với giá cao nhất: Thông qua
bán đấu giá, bên có tài sản sẽ chọn được bên mua trả giá cao nhất cho tài sản của
mình. Khi thực hiện việc bán đấu giá, bên có tài sản hoặc tổ chức bán đấu giá thông
báo, niêm yế t công khai thông báo bán đấ u giá, đồ ng thời đăng thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng theo quy đinh
̣ để người có nhu cầ u mua tài sản biế t,
đăng ký tham gia đấu giá. Chính vì vậy, tài sản khi bán thông qua hình thức bán đấu
giá có nhiều người tranh nhau trả giá cao để mua đươ ̣c tài sản và từ đó tài sản sẽ
được bán với giá cao nhất. Bên có tài sản sẽ bán được tài sản với giá cao nhất, mang
lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với mua bán tài sản thông thường.
Bên có tài sản có thể thu hồi tiền bán tài sản nhanh chóng: Thông qua hoạt
động bán đấu giá, với nội quy, quy chế cụ thể từng phiên đấu giá, chủ sở hữu tài sản
(bên có tài sản) ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên
nghiê ̣p, tổ chức này chịu trách nhiệm thu tiền bán tài sản khi cuô ̣c bán đấu giá
thành. Người mua tài sản bán đấu giá phải thanh toán toàn bộ số tiền mua tài sản
trong một thời hạn nhất định đã quy đinh
̣ trong quy chế bán đấ u giá hoă ̣c hơ ̣p đồ ng
mua bán tài sản mà không đươ ̣c dây dưa kéo dài. Người tham gia đấu giá phải nộp
một khoản tiền đặt trước nhằ m bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình, nếu
người mua trúng đấu giá tài sản không nô ̣p tiề n mua tài sản đúng hạn, vi pha ̣m quy
chế bán đấ u giá thì sẽ bị mất toàn bộ số tiền đặt trước.
Bên có tài sản tiết kiệm được các chi phí liên quan đến việc bán tài sản: Các
tổ chức bán đấu giá chuyên nghiê ̣p luôn có chức năng, có chuyên môn và trình độ
nhất định trong lĩnh vực tổ chức bán đấu giá. Bên có tài sản thông qua hình thức
bán đấu giá sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí do không phải thực hiện các hoạt động
không chuyên nghiệp. Hoạt động bán đấu giá tài sản được thực hiê ̣n chuyên nghiệp

và khoản phí phần trăm (%) trên tổng giá trị tài sản bán đấu giá thành. Bên mua khi
tham gia đấu giá phải nộp một khoản tiền đặt trước để bảo đảm cho việc tham gia
phiên đấu giá, bảo đảm cho việc đấu giá thành sẽ mua tài sản. Vì bất kỳ lý do gì bên
mua không tham gia đấu giá hoặc từ chối mua tài sản trúng đấu giá thì số tiền đặt
trước thuộc về tổ chức bán đấu giá.
Bán đấu giá là hình thức bán hàng thường được thực hiện thông qua trung
gian, do các tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá thực hiện. Khi hoạt động mua

23


bán thông qua đấu giá phát triển, tạo điều kiện thu hút nhiều nhân lực cho ngành
này, giải quyết nhiều việc làm hơn cho xã hội. Hoạt động bán đấu giá phát triển sẽ
đem lại nguồn thu tài chính nhiều hơn cho chính các tổ chức kinh doanh dịch vụ
bán đấu giá, làm giàu cho cho các tổ chức này. Thông qua đó, việc thu ngân sách từ
các loại thuế mà tổ chức bán đấu giá phải nộp cũng tăng lên, tăng thu cho ngân
sách, tăng nguồn bảo đảm cho các khoản chi an sinh xã hội của Nhà nước.
1.1.2. Lịch sử ra đời, phát triển và một số hình thức đấu giá tiêu biểu trên
thế giới
1.1.2.1. Lịch sử ra đời
Mua bán là hoạt động chỉ có do con người thực hiện, nhưng hoạt động mua
bán không ra đời cùng sự xuất hiện của loài người. Thời kỳ Công xã nguyên thủy,
cuộc sống loài người còn mông muội, các nhu cầu tồn tại sự sống dựa vào săn bắn,
hái lượm là chính. Công cụ sản xuất do con người tạo ra kết hợp với các yếu tố tự
nhiên làm cho của cải trong xã hội ngày càng dư thừa so với nhu cầu tiêu dùng. Từ
đó xuất hiện hoạt động trao đổi, mua bán, các bên đều tự do thỏa thuận xác lập giao
dịch nhằm đạt mục đích của mình. Sau thời gian hoạt động mua bán xuất hiện, đấu
giá với vai trò là một hình thức của hoạt động mua bán cũng ra đời. Từ những năm
500 trước Công nguyên, hình thức đấu giá đã được hình thành. Giai đoạn đầu mới
hình thành, các bên tham gia tự nguyện tuân theo nguyên tắc bất thành văn là hàng

+ Đấu giá theo kiểu Anh: Đây là hình thức được nhiều người biết đến nhất,
tiêu biểu cho phương thức trả giá lên. Mọi người tham gia trả giá công khai với
nhau, giá đưa ra sau bao giờ cũng cao hơn giá đưa ra trước đó. Cuộc đấu giá kết
thúc khi người ra giá cao nhất so với giá khởi điểm sẽ được mua đươ ̣c tài sản với
giá mà mình đã trả.
+ Đấu giá theo kiểu Hà Lan: Đây là hình thức đấu giá tiêu biểu cho phương
thức đặt giá xuống, trong một sàn đấu giá kiểu Hà Lan truyền thống, giá khởi điểm
để mọi người tham gia trả được coi là giá cao nhất. Nếu người tham gia phiên đấu
giá không chấp nhận mua ngay mức giá khởi điểm, thì mức giá được hạ thấp dần
cho tới khi có người mua chấp nhận mức giá đó hoặc chạm đến mức giá sàn dự
định bán ra mà vẫn không có người mua thì thôi không bán nữa.
- Căn cứ vào cách thức biểu đạt lời nói được dùng trong phiên đấu giá,
có thể chia làm các hình thức:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status