MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KHÁI QUÁT
6
ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA)
1.1.
Khái niệm vốn vay của ngân sách nhà nước và vốn ODA
6
1.1.1. Vốn vay của ngân sách nhà nước
6
1.1.2. Vốn ODA
29
PHÁP LUẬT VỀ TẠO LẬP, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
ODA VÀ THỰC TIỄN TẠI THANH TRA CHÍNH PHỦ
2.1.
Pháp luật về tạo lập, quản lý và sử dụng vốn ODA
29
2.1.1. Các chủ thể tham gia quá trình tạo lập nguồn vốn ODA
29
2.1.2. Căn cứ, khoản vay, điều kiện và nội dung thỏa thuận vay vốn ODA
31
4
2.1.3. Lãi suất
34
2.1.4. Hoàn trả vốn vay ODA
35
63
2.2.4. Đánh giá các chương trình, dự án ODA tại Thanh tra Chính phủ
68
2.3.
76
Tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong quản lý, sử dụng
nguồn vốn ODA
2.3.1. Trung Quốc
76
2.3.2. Malaysia
78
2.3.3. Thái Lan
79
2.3.4. Ba Lan
79
Chương 3: ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý và
sử dụng vốn ODA
91
5
98
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
100
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Cơ cấu sử dụng vốn ODA thời kỳ 2001-2005
59
2.3
Mô hình quản lý tài chính chương trình, dự án ODA tại
Thanh tra Chính phủ
62
7
MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong thời gian qua đạt được nhiều thành tựu quan trọng là nhờ có chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam, sự nỗ lực của toàn xã hội, cũng như sự đồng tình và hỗ trợ của bạn
bè quốc tế. Trong các hình thức hỗ trợ của quốc tế cho Việt Nam, ODA đã
góp phần không nhỏ vào việc đạt được những thành tựu kinh tế của đất nước.
Nguồn vốn ODA bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước, góp
phần cân đối tài chính quốc gia, hỗ trợ phát triển nhiều ngành và lĩnh vực cơ
sở hạ tầng kinh tế và xã hội, hỗ trợ phát triển hệ thống chính sách, luật pháp,
xây dựng thể chế phục vụ công cuộc đổi mới và cải cách của Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh
quốc gia.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, các quy định về quản lý và sử dụng ODA đã
được ban hành mới và có những thay đổi căn bản. Có thể kể đến việc ban
hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Luật
tiến độ giải ngân chậm, khó khăn trong việc hài hòa hóa thủ tục, xung đột
pháp luật, quy định về quản lý tài chính còn chồng chéo… Nguyên nhân của
những hạn chế nêu trên là do những vướng mắc, bất cập trong cơ chế, chính
sách cũng như hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, nhiều quy định còn chồng
chéo; thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện chương trình, dự án
ODA và việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính chưa nhất quán ở các cấp,
các ngành ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn ODA, tác động
đến tính bền vững của nguồn lực cho đầu tư phát triển… Cùng với những
chuyển biến và những phát sinh trong thực tế thực hiện dẫn đến việc phải tiếp
tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này.
Để góp phần nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các
giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng vốn ODA, tôi đã
9
lựa chọn đề tài: "Pháp luật về quản lý và sử dụng vốn ODA và thực tiễn tại
Thanh tra Chính phủ" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết chuyên khảo trên
các báo, tạp chí chuyên ngành quản lý nhà nước, kinh tế, tài chính, luật đề cập
đến thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn ODA tại một số bộ, ngành,
địa phương; một số cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội … và đề xuất một số
phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn
ODA. Hầu hết các bài viết tiếp đều cận về nguồn vốn ODA dưới góc độ kinh
tế, tài chính mà chưa phân tích sâu về mặt pháp luật. Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, xu hướng vận động vốn ODA có nhiều thay đổi,
những quy định hiện hành của pháp luật bộc lộ những bất cập, vướng mắc,
điều đó dẫn đến việc phải hoàn chỉnh pháp luật về lĩnh vực này.
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu về thực trạng pháp luật đồng thời đề
nguồn vốn ODA; thực tiễn sử dụng vốn ODA tại Thanh tra Chính phủ (vốn
ODA không hoàn lại).
- Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống pháp luật về quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, với việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… Các phương
pháp này được sử dụng kết hợp hoặc riêng rẽ trong quá trình nghiên cứu.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các kết quả, thực tiễn triển khai chương
trình, dự án ODA tại Thanh tra Chính phủ để làm rõ hơn các kết luận rút ra từ
quá trình nghiên cứu.
11
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ
quan liên quan, những người hoạch định chính sách, những người đã và đang
công tác trong các Ban quản lý dự án ODA, những người mong muốn tìm
hiểu về vốn ODA có nhìn nhận chung nhất về thực trạng pháp luật về quản lý
và sử dụng vốn ODA và có thể rút ra kinh nghiệm trong quá trình công tác.
7. Những nội dung mới của luận văn
1. Trên cơ sở rà soát các văn bản pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng vốn ODA, luận văn đi vào phân tích, thực trạng pháp luật
về quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam; làm rõ thực trạng đó tác động,
ảnh hưởng như thế nào đến công tác quản lý và sử dụng vốn ODA.
2. Nêu ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
quản lý và sử dụng vốn ODA.
8. Kết cấu của luận văn
động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhằm tập trung một bộ phận của
cải xã hội dưới hình thức giá trị theo những hình thức và biện pháp phù hợp để
hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước, phản ánh quan hệ phân phối của cải xã
hội được biểu hiện dưới hình thức giá trị. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các
khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản
thu khác theo quy định của pháp luật. Theo nghĩa đó, thu ngân sách nhà nước chỉ
bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng
buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Nói cách khác, các
khoản có tính chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại không tính vào
13
thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong nội dung chi ngân sách nhà nước có
bao gồm khoản chi trả nợ của Nhà nước, điều đó đặt ra việc cân bằng thu, chi
của ngân sách nhà nước thực hiện như thế nào? Pháp luật đã quy định, ngân
sách nhà nước được quản lý, cân đối theo các nguyên tắc nhất định và tiến tới
cân bằng thu, chi, trong trường hợp có bội chi thì bội chi ngân sách nhà nước
được bù đắp bằng nguồn vốn vay. Như vậy, vốn vay của ngân sách nhà nước
nhằm bù đắp khoản bội chi ngân sách nhà nước và chỉ dùng cho chi đầu tư
phát triển. Các cơ quan thu, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổ chức
xây dựng dự toán ngân sách nhà nước. Dự toán ngân sách nhà nước phải được
lập hàng năm và căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh. Vốn vay sử dụng trong ngân sách nhà nước cũng thực
hiện theo các quy định của Luật ngân sách nhà nước từ khâu dự toán ngân
sách, chấp hành ngân sách và kế toán, kiểm toán, quyết toán.
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Quản lý nợ công năm 2009
"Vay là quá trình tạo ra nghĩa vụ trả nợ thông qua việc ký kết và thực hiện
hiệp định, hợp đồng, thỏa thuận vay hoặc phát hành công cụ nợ" [23]. Trong
"tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận vay" [23].
Chủ thể được giao thực hiện vay không theo điều kiện ODA là Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó Bộ Tài chính "chủ trì đàm
phán, ký kết thỏa thuận vay theo quyết định của Chính phủ" [23] và tổ chức
thực hiện thỏa thuận vay (trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước được Chính
phủ phân công đàm phán, ký kết thỏa thuận vay).
- Phương thức sử dụng vốn vay của Chính phủ được thực hiện qua 03
cách, một là cấp phát từ nguồn vốn vay trong nước và vay ưu đãi của nước
ngoài cho chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và chương
trình, dự án thuộc các lĩnh vực khác không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước; hai là cho vay lại toàn bộ hoặc
một phần từ nguồn vốn vay nước ngoài cho chương trình, dự án đầu tư có khả
năng thu hồi một phần hoặc toàn bộ vốn vay, bao gồm cả dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã
15
được cấp có thẩm quyền phê duyệt; ba là cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ
theo kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ, đề án cơ cấu lại nợ
đã được phê duyệt.
1.1.2. Vốn ODA
1.1.2.1. Khái niệm
Thuật ngữ "ODA" (Official Development Assistance) xuất hiện từ sau
chiến tranh Thế giới II ở Hoa Kỳ. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước
bị tàn phá nặng nề về kinh tế, nhất là các nước châu Âu, trong lúc đó, Mỹ
không những không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh mà còn trở nên thịnh vượng
nhờ sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Với sức mạnh vượt trội đó, Mỹ đã đưa
ra kế hoạch Marshall hỗ trợ cho các nước Tây Âu sau chiến tranh. Kế hoạch
này vừa là để trợ giúp các nước Tây Âu khôi phục kinh tế nhưng cũng nhằm
trợ) nhằm giúp cho các nước này tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
1.1.2.2. Đặc điểm
Đặc điểm của nguồn vốn ODA thể hiện qua những điểm chính sau:
- Chủ thể cấp tín dụng
ODA là hình thức hợp tác phát triển của các nước phát triển, các tổ
chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Nguồn hình
thành ODA là từ ngân sách của nhà tài trợ và nguồn vốn đối ứng từ ngân sách
nước nhận tài trợ. Nguồn tài chính này được các tổ chức chính thức hoặc đại
diện của các tổ chức này cung cấp. Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước
mà đại diện là Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và
các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Như vậy,
ODA sẽ bao gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản vay với điều kiện ưu
đãi của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế. Gắn với chủ thể cấp tín dụng,
vốn ODA hình thành dưới hai dạng ODA song phương và ODA đa phương.
- Mục đích sử dụng ODA
Từ khi mới ra đời, viện trợ nước ngoài đã có hai mục tiêu tồn tại song
song nhưng thực chất lại mâu thuẫn với nhau. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy
17
tăng trưởng và giảm đói nghèo ở những nước đang phát triển. Mục tiêu thứ
hai là tăng cường lợi ích chiến lược và chính trị ngắn hạn của các nước tài trợ.
Tuy nhiên mục tiêu cuối cùng của viện trợ vẫn là thúc đẩy tăng trưởng và
giảm đói nghèo ở những nước đang phát triển. Các nước thành viên của Liên
hợp quốc đã khẳng định mục tiêu cụ thể của việc sử dụng ODA là: Giảm một
nửa tỷ lệ những người đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực tới năm
2015; Phổ cập giáo dục tiểu học trên tất cả các nước tới năm 2015; Đạt được
nhiều tiến bộ cho sự bình đẳng về giới và tăng quyền lực của người phụ nữ
bằng cách xóa bỏ sự phân biệt giới tính trong giáo dục tiểu học và trung học
1.1.3.1. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Vốn ODA có ba loại:
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn
trả lại cho nhà tài trợ.
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với
các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm
"yếu tố không hoàn lại" (còn gọi là "thành tố hỗ trợ") đạt ít nhất 35% đối với
các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các
khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương
mại, nhưng tính chung lại có "yếu tố không hoàn lại" đạt ít nhất 35% đối với
các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
1.1.3.2. Căn cứ vào nguồn cung cấp
Vốn ODA có hai loại:
- ODA song phương: Chủ yếu do các nước là thành viên của OECDDAC cung cấp.
Hiện nay Ủy ban này có 22 quốc gia, hàng năm viện trợ một
lượng ODA chiếm tỷ trọng khoảng 85% của toàn thế giới. Năm
2011, các thành viên DAC thuộc OECD đã chi 133,5 tỉ USD cho
19
ODA, chiếm 0,31% tổng thu nhập quốc dân của các nước này. Dự
kiến trong ngắn hạn và trung hạn, lượng ODA do các quốc gia là
thành viên của OECD-DAC cung cấp tiếp tục có những tăng trưởng
cho dù những biến động của khủng hoảng tài chính Châu Âu [29].
- ODA đa phương: Do các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc,
Liên minh châu Âu, các Tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB, Ngân
hàng phát triển châu Phi, Quỹ viện trợ của OPEC, Quỹ Cô-oét và các Tổ chức
phi chính phủ cung cấp.
trở lực trong tăng trưởng và hội nhập. Tranh thủ dòng vốn ODA là sự kết hợp
giữa nỗ lực của người dân, Chính phủ với sự hỗ trợ từ bên ngoài để thiết lập
và thực hiện chính sách phát triển theo hướng hiệu quả, kế thừa kỹ năng và
công nghệ tiên tiến của thế giới.
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp
các nước đang phát triển thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
mình. Vai trò của ODA thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu như sau:
- ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi
đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước; là nguồn bổ sung
ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát
triển. Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 đến
40 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm, nên với điều kiện cho
vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung
đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, công trình
thủy điện, thủy lợi, hệ thống nước sạch và các hạ tầng xã hội khác trong lĩnh
vực giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được xây dựng mới
hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng nền kinh tế của các nước nghèo. "Theo tính toán của các chuyên gia
của WB, đối với các nước đang phát triển có thể chế và chính sách tốt, khi
ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5%" [17] Hầu hết
các nước đang phát triển, trong một giai đoạn nhất định, đều dễ rơi vào tình
trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế
của các quốc gia này. Nguồn vốn ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF
21
có chức năng làm lành mạnh hóa cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ
đó góp phần ổn định đồng bản tệ.
- ODA giúp các nước đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo
liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi
trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng
chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực
của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế…
1.2.2. Vai trò của vốn ODA đối với phát triển kinh tế xã hội
Việt Nam
1.2.2.1. Đánh giá nhu cầu vốn ODA cho đầu tư phát triển tại Việt Nam
Trong thời gian từ 1993 đến nay, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã
được mở rộng rất nhiều và hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hơn 70
nhà tài trợ song phương và đa phương cùng 350 tổ chức Chính phủ với hơn
2.500 chương trình dự án. Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức OECDDAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri,
Cộng hòa Séc...
Nguồn vốn ODA là một trong những dòng vốn bên ngoài có khả năng
bù đắp khoảng cách giữa đầu tư và tiết kiệm.
Khác với các nguồn vốn khác như FDI, vay thương mại từ
dòng vốn quốc tế, kiều hối, tài nguyên xuất khẩu,... ODA là nguồn
vốn bổ sung cho nguồn lực công để chính phủ gia tăng đầu tư (một
bộ phận của vốn đầu tư xã hội), cải cách chính sách và thể chế trong
dài hạn, tạo động lực cho sự phát triển [18].
Để bảo đảm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 đã dự kiến:
Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội trong thời kỳ này theo
giá thực tế khoảng 5.745 - 6.140 nghìn tỷ đồng, tương đương gần
250 - 266 tỷ USD, trong đó nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 75
- 80%, nguồn vốn ngoài nước chiếm khoảng 20 - 25%. Nguồn vốn
23
ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ giai đoạn 2011 - 2015
tổ chức quốc tế đã hiểu và tích cực ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng và
Nhà nước trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội đất nước, phù hợp với
mong muốn của các tầng lớp nhân dân.
- Bổ sung một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển:
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Trong giai đoạn từ 2001 - 2005, nguồn vốn ODA đã bổ sung
một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển,
chiếm khoảng từ 22% đến 25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước (bao gồm cả phần vốn ODA cho vay lại từ ngân sách nhà
nước). Trong Kế hoạch 5 năm 2001-2005, ODA đã bổ sung khoảng
11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 17% trong tổng vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước. Trong thời kỳ 2006 - 2010 tổng vốn ODA
giải ngân đạt 13,86 tỷ USD, bằng 67,25% vốn ký kết và cao hơn
11% so với chỉ tiêu đề ra trong Đề án ODA 2006 - 2010 [10].
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, vốn ODA đã góp
phần đáng kể phát triển hệ thống thủy lợi, lưới điện nông thôn, trường học,
trạm y tế, giao thông nông thôn, cấp nước sinh hoạt, tín dụng nông thôn quy
mô nhỏ, phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm nghèo.
Nhờ có vốn ODA, ngành năng lượng điện đã tăng đáng kể công suất
nguồn; phát triển và mở rộng mạng lưới phân phối điện, kể cả lưới điện nông
thôn, một số cơ sở sản xuất công nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn ODA
đã góp phần tạo công ăn việc làm ở một số địa phương.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải và bưu chính viễn thông, vốn ODA
đã góp phần nâng cấp và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và cải thiện chất
lượng dịch vụ. Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, cảng biển,
đường hàng không, cơ sở hạ tầng bưu chính, viễn thông đã có những bước
phát triển rõ rệt.
25
26
triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản của nhiều địa phương, nhất
là các tỉnh nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Nguồn vốn ODA (trong đó có ODA cho vay lại) là một trong những
nguồn vốn quan trọng của Nhà nước, được sử dụng để thực hiện các mục tiêu
ưu tiên của quốc gia trong từng thời kỳ nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Gần
30 năm qua (1993 - 2011), Việt Nam đã có được những thành công đáng kể
trong lĩnh vực thu hút, vận động và sử dụng vốn ODA với tổng vốn cam kết
lên tới 55,516 tỷ USD. Đầu tư bằng vốn ODA chiếm khoảng 12% tổng vốn đầu
tư xã hội, 28% vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, 50% vốn tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ năm 2011 tại Hà
Nội, mức cam kết viện trợ dành cho Việt Nam năm 2010 đạt hơn 8 tỷ USD, là
mức cao nhất từ trước đến nay, trong đó mức cam kết của các nhà tài trợ đa
phương là hơn 4,51 tỷ USD, của các nhà tài trợ song phương đạt hơn 3,29 tỷ
USD, các tổ chức phi chính phủ cam kết tài trợ cho Việt Nam 250 triệu USD.
Theo báo cáo "Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế và giảm nghèo" của Chính
phủ đưa ra tại Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) diễn
ra ngày 06 tháng 12 năm 2011, tổng vốn ODA dự kiến kí kết năm 2011 đạt
trên 7,58 tỉ USD, trong đó vốn vay ước đạt trên 7,28 tỉ USD (5,74 tỉ USD vốn
vay ODA và 1,54 tỉ USD vốn vay ưu đãi), viện trợ không hoàn lại đạt 294
triệu USD. Tính đến hết tháng 11 năm 2011, tổng mức ODA kí kết đạt trên
6,2 tỉ USD, trong đó vốn vay đạt khoảng 6,03 tỉ USD, viện trợ không hoàn lại
đạt 166 triệu USD. Trong 11 tháng năm 2011, vốn ODA kí kết tập trung
nhiều vào lĩnh vực giao thông vận tải và năng lượng. Các chương trình, dự án
ODA kí kết trong các lĩnh vực còn lại (nông nghiệp và phát triển nông thôn
kết hợp với xóa đói giảm nghèo, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, y tế,
giáo dục…) chiếm tỉ trọng khiêm tốn. Dự kiến mức giải ngân vốn ODA cả
đạt xấp xỉ về giá trị tuyệt đối so với chỉ tiêu dự kiến, riêng các lĩnh vực nông
nghiệp và phát triển nông thôn, y tế, giáo dục,… đạt thấp hơn dự kiến từ 3 5%, chi tiết trong bảng dưới đây:
28