Thẩm quyền thu ngân sách theo Luật ngân sách nhà nước 2015 từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT ANH

THẨM QUYỀN THU NGÂN SÁCH THEO LUẬT
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2015 TỪ THỰC TIỄN
TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã sô

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Đức Minh

HÀ NỘI: 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản
thân tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Đức Minh.
Các trích dẫn, số liệu trung thực, chính xác, từ các nguồn thông tin hợp
pháp, đảm bảo tính khách quan, khoa học./.
Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Anh


sách theo Luật ngân sách nhà nước năm 2015................................................63
KẾT LUẬN.....................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

NSTW

: Ngân sách Trung ương

NSĐP

: Ngân sách địa phương

HĐND

: Hội đồng nhân dân

NSNN

: Ngân sách nhà nước

UBND

: Ủy ban nhân dân


Thống kê khoản thu ngân sách Ninh Bình được hưởng theo

tỷ lệ
% giai đoạn 2013-2016...............................................................41
Bảng 2.6:

Các khoản thu ngân sách Ninh Bình theo từng sắc thuế được
hưởng theo tỷ lệ % giai đoạn 2013-2016....................................42

Bảng 2.7:

Chi tiết các khoản thu từ Thuế thực tế được phân chia tỷ lệ % giữa
ng ngân sách Ninh Bình được hưởng giai đoạn 2013-2016...........44

Bảng 2.8:

Các khoản thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách
tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013-2016...........................................46


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời là công cụ tài
chính để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với hoạt động kinh
tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Nhằm quản lý, củng
cố kỷ luật tài chính, sử dụng hiệu quả ngân sách, Nhà nước đã nghiên cứu xây
dựng và ban hành Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội khóa XI, thông
qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm 2004. Sau hơn 10 năm tổ

hạn chế, đang bộc lộ một số vấn đề cần được xem xét và đổi mới phù hợp với
tình hình thực tế cũng như các quy định theo Luật ngân sách 2015. Mặc dù
địa phương được trao quyền quản lý ngân sách nhiều hơn, song hầu hết các
địa phương vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào các quyết định từ Trung ương,
việc thực hiện phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương còn chưa hợp
lý, phân cấp cho ngân sách cấp dưới phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của
chính quyền cấp tỉnh. Thực trạng cơ chế phân cấp nguồn thu chưa tạo thế chủ
động, chưa đảm bảo tính độc lập của ngân sách các cấp, chưa mở rộng quyền
tự chủ để mỗi cấp chính quyền, cấp ngân sách chủ động trong việc khai thác
các nguồn thu tại chỗ và chủ động bố trí chi tiêu hợp lý.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Thẩm quyền thu ngân sách theo Luật ngân sách nhà nước 2015 từ thực
tiễn tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để xây dựng được một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh về thẩm quyền thu
ngân sách, điều cần thiết là phải chỉ ra được những vướng mắc, những điểm
không phù hợp với thực tế và bổ sung những quy định mới hợp lý. Cùng với
việc đang thực hiện Luật ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày


16/12/2002, và thời gian tới thực hiện theo Luật ngân sách Nhà nước 2015,
các quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực này cũng đã được xây dựng và
bổ sung kịp thời đáp ứng nhu cầu của hoạt động thực tiễn phát sinh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở pháp luật quy định Luật ngân sách nhà nước 2002, đồng
thời nghiên cứu Luật ngân sách 2015 phân tích, đánh giá các quy định về
thẩm quyền thu ngân sách; thực tiễn việc thực hiện pháp luật về thẩm quyền
thu ngân sách tại tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua. Từ đó xây dựng phương
hướng, đề xuất những quan điểm, mục tiêu và giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn

quản lý các nguồn thu; phân chia nguồn thu (thực tiễn thực hiện tỉnh Ninh
Bình).
- Về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng pháp luật quản lý thẩm quyền thu
ngân sách địa phương giai đoạn 2013- 2016 và đề ra giải pháp, phương hướng
khi thực hiện Luật ngân sách 2015 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin , quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp
thống kê, phân tích số liệu, tổng hợp, đối chiếu, so sánh thực tiễn với lý luận
và dự báo để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khi thực hiện Luật ngân
sách 2015.


- Ngoài ra luận văn có kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của các chuyên
gia và luận án, luận văn đi trước.


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến nội
hàm các khái niệm xung quanh đề tài như: ngân sách nhà nước; thẩm quyền
thu ngân sách.
Luận văn đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế trong pháp luật về thẩm quyền thu ngân sách của tỉnh
Ninh Bình;
Luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm pháp huy tính tích cực
và hạn chế, tồn tại bất cập phân chia nguồn thu ngân sách tỉnh Ninh Bình, đáp

lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ
ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước”.
- Về phương diện tài chính: “Thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản
tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà
nước”.
Khi nhà nước ra đời để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà
nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng
góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thu ngân sách Nhà nước bao
gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu
cầu chi tiêu của nhà nước.
Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ
kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động
các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu ngân sách nhà nước chỉ
bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị
ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.


* Khái niệm thẩm quyền thu ngân sách nhà nước: là tổng hợp các qui
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều
chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tạo lập quỹ
ngân sách nhà nước.
Thẩm quyền quyết định ngân sách Nhà nước, ở hầu hết các nước là
thuộc về các cơ quan đại diện (Nghị viện). Ở Việt Nam, Quốc Hội cũng là cơ
quan có thẩm quyền thông qua và phê chuẩn ngân sách. Quốc Hội thảo luận
và quyết định về tổng mức, cơ cấu và phân bổ ngân sách trung ương. Mọi
hoạt động thu ngân sách đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước
ban hành. Thẩm quyền tổ chức thu ngân sách là cơ quan tài chính, cơ quan
thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giao hoặc ủy quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà

thống thu ngân sách nhà nước.
1.1.3. Các nguồn thu ngân sách nhà nước
- Thu Thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy
định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
nhà nước. Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,
thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thể
nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân
phối tài chính
- Phí và lệ phí: là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá,
nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà
nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính
pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một
phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình.


Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ
hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. Thẩm quyền quy định về
phí và lệ phí là thẩm quyền quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng tiền phí và lệ phí. Phân cấp thẩm quyền quy định phí và lệ phí được dựa
vào tính chất và phạm vi ảnh hưởng của từng loại phí, lệ phí. Chính phủ quy
định đối với một số phí quan trọng, có số thu lớn, liên quan đến nhiều chính
sách kinh tế- xã hội của nhà nước. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương quy định đối với một số loại phí gắn liền với quản lý đất
đai, tài nguyên thiên nhiên, thuộc chức năng quản lý hành chính nhà nước của
chính quyền địa phương.
- Thu từ các khoản đầu tư vào hoạt động kinh doanh của nhà nước bao gồm:
Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc sở
hữu nhà nước; Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước; Thu hồi tiền cho
vay của nhà nước.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt

thống thu ngân sách phải dựa trên các nguyên tắc định hướng nhất định.
Trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thu ngân sách nhà nước ở
nước ta cần tôn trọng và chấp hành các nguyên tắc:
- Các nguyên tắc định hướng
+ Nguyên tắc thu thuế theo lợi ích: là cách thu thuế có phân biệt theo
mức độ sử dụng hàng hóa công cộng nhiều hay ít. Người sử dụng hàng hóa
công cộng nhiều hơn thì phải đóng thuế nhiều hơn. Thông thường, các sắc
thuế địa phương áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích.


+ Nguyên tắc thu theo khả năng: là cách thu có phân biệt theo khả năng
đối tượng nộp vào ngân sách (thuế). Người có thu nhập nhiều hơn sẽ phải
đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.
- Các nguyên tắc thực hiện thực tế
+ Nguyên tắc ổn định và lâu dài: trong điều kiện hoạt động kinh tế bình
thường thì cần phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế không gây xáo trộn
trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải
được thích hợp đảm bảo khích thích nền kinh tế thị trường, nuôi dưỡng và
phát triển nguồn thu.
+ Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: Thiết lập hệ thống thu ngân sách
(các khoản thuế) phải có quan điểm công bằng đối với mọi người, không phân
biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.
+ Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn;
+ Nguyên tắc đơn giản;
+ Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, thu nhập GDP bình quân đầu người: GDP bình quân đầu
người là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến thu ngân sách của một quốc gia.
GDP (Gross Domestic Product) tức tổng sản phẩm quốc nội là giá
trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong

(dầu mỏ và khoáng sản) là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân
sách nhà nước. Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to
lớn cho ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng
xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì
tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng một điều
kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng
sản lớn thì tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước cũng lớn hơn.


Thứ tư, mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Nhân tố tiếp
theo ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước là mức độ trang trải các khoản
chi phí của nhà nước. Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu
quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà nhà nước
đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của nhà
nước. Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của nhà nước không
có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất
thu của ngân sách cũng tăng lên. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình
trạng nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá khả năng thu, nên các
Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi. Nợ công có phạm vi rộng
hơn nợ nước ngoài. Nó bao gồm nợ của chính phủ và toàn bộ nợ của doanh
nghiệp quốc doanh, gồm cả nợ nước ngoài lẫn nợ trong nước, cũng
như nợ của doanh nghiệp tư nhân mà nhà nước bảo lãnh. Việc bao gồm
nợ của doanh nghiệp quốc doanh vào nợ công là dựa trên tiêu chuẩn quốc
tế đã được chấp nhận rộng rãi với lý do là nhà nước không thể hay khó lòng
về mặt chính trị xóa trách nhiệm đối với nợ của các doanh nghiệp do chính
chính phủ dựng lên.
Thứ năm, tổ chức bộ máy thu - nộp: Nhân tố tiếp theo có tác động trực
tiếp đến thu ngân sách nhà nước là tổ chức bộ máy thu nộp. Tổ chức bộ máy

* Các chủ thể tham gia thu ngân sách nhà nước:


- Hải quan: Là cơ quan có trách nhiệm thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế VAT
đối với hàng nhập khẩu, thế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu và các
khoản thu khác thuộc phạm vi qui định của pháp luật.
- Cơ quan thuế: Có trách nhiệm thu thuế, phí, lệ phí, và các khoản thu khác
theo quy định của pháp luật trừ các khoản thuế mà hải quan đã thu.
- Cơ quan tài chính và các cơ quan khác: sẽ tiến hành thu các khoản thu còn lại
cho ngân sách nhà nước theo sự cho phép của Chính phủ hay được Bộ tài
chính ủy quyền ( Tòa án thu án phí, Bệnh viện thu viện phí, Phòng chông
chứng thu phí công chứng).
1.2.1. Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương
Tại Điều 4 của Luật ngân sách Nhà nước 2015 nêu cụ thể ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương. Theo đó:
“ Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp
cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm
vụ chi của cấp trung ương ”
“Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp
cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân
sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của
cấp địa phương”
1.2.2. Lý do của việc phân cấp thẩm quyền thu ngân sách giữa trung ương và địa
phương
Hệ thống chính quyền nước ta được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi cấp
đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định. Để thực hiện những nhiệm vụ
đó, mỗi cấp được phân giao những quyền hạn cụ thể về kinh tế, ngân sách.
Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước nhiều cấp thì việc phân cấp



trong một số khoản thu nhằm đảm bảo tính hợp lý và hài hòa, tránh việc ngân
sách cấp dưới phụ thuộc ngân sách cấp trên, ngân sách địa phương phụ thuộc
vào ngân sách trung ương. Đứng trên góc độ hệ thống ngân sách, ngân sách
trung ương đóng vai trò chủ đạo và quan trọng do tập trung nhiều nguồn thu,
ngân sách trung ương đảm trách vai trò điều phối nguồn lực tài chính giữa các
cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách và cân đối ngân sách nhà nước. Việc
cân đối ngân sách địa phương luôn gắn liền với việc bảo đảm thực hiện các
nhiệm vụ quản lý kinh tế xã hội của các cấp chính quyền địa phương và việc
cân đối ngân sách mỗi cấp địa phương sẽ tạo ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động kinh tế xã hội của mỗi địa phương đó. Từ đó, có thể nhận thấy, cân đối
ngân sách giữa trung ương và ngân sách địa phương có sự tương tác lẫn nhau
trong quá trình thu, tạo lập nguồn thu ngân sách. Sự tương tác này hình thành
trên cơ sở thống nhất về chính trị và các nguyên tắc tổ chức chính quyền.
Trong bối cảnh nước ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường, việc phân
cấp thể hiện vai trò rất quan trọng, trung ương thực hiện phân cấp ngày càng
nhiều cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước, cụ thể
là mặt tài chính nhằm mục đích: khuyến khích mỗi địa phương chủ động triển
khai thực hiện các quyết định của trung ương; tạo điều kiện cho chính quyền
địa phương chủ động, quyết định những vấn đề có liên quan đến các khoản
thu ngân sách, chế độ trực tiếp đến đời sống tại mỗi địa phương; giảm bớt
những gánh nặng cho trung ương... Bên cạnh đó việc phát triển đất nước theo
kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế - xã hội luôn đa dạng và phức tạp, do
vậy chính quyền trung ương không thể quản lý mọi mặt hoạt động một cách
tập trung theo khuân mẫu, cũng như giải quyết triệt để mọi vấn đề phát sinh
tại mỗi địa phương.
Xu hướng chung hiện nay các nước trên thế giới đều áp dụng đó là việc
phân cấp nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong quản lý hành chính,


đặc biết là trong lĩnh vực tài chính, ngân sách. Kinh nghiệm về phân cấp

công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, với vị trí chủ đạo
trong hệ thống ngân sách Nhà nước, ngân sách Nhà nước Trung ương cần
phải tập trung được những nguồn ngân sách Nhà nước cơ bản nhất bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những
địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách. Thẩm quyền thu ngân sách
trung ương tại Luật ngân sách nhà nước năm 2015 gồm 19 khoản thu được
hưởng 100% và 5 khoản thu được hưởng theo tỷ lệ điều tiết.
1.3.2. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương
Trên cơ sở đặc điểm tính chất từng nguồn thu và khả năng thu của từng
địa phương, từng cấp ngân sách mà quy định cụ thể các nguồn thu mỗi địa
phương, mỗi cấp ngân sách được hưởng để đủ cân đối theo yêu cầu nhiệm vụ
chi, hạn chế việc phải cấp bổ sung ngân sách từ cấp trên cho ngân sách cấp
dưới để đảm bảo cân đối ngân sách (trường hợp các địa phương nguồn thu ít,
không thể tự cân đối được mới phải bổ sung từ ngân sách cấp trên để cân đối
ngân sách). Chính vì thế mà Luật ngân sách quy định cần phải xác định tỷ lệ
điều tiết ngân sách cho từng địa phương, từng cấp ngân sách. Trên thực tế, khi
phân cấp nguồn thu cho các cấp ngân sách ở địa phương thường xảy ra tình
trạng phân cấp nguồn thu không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chi đã phân
cấp. Hai tình trạng thường hay xảy ra khi phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
cho cấp dưới là giao việc nhưng không giao tiền hoặc là nhiệm vụ chi của cấp
trên lại giao cấp dưới thực hiện nhưng không giao tiền cho cấp dưới theo quy
định của Luật ngân sách. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương tại Luật ngân
sách nhà nước năm 2015 gồm 21 khoản thu được hưởng 100%.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status