VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIỆT ANH
THẨM QUYỀN THU NGÂN SÁCH THEO LUẬT
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2015 TỪ THỰC TIỄN
TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Đức Minh
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản
thân tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Đức Minh.
Các trích dẫn, số liệu trung thực, chính xác, từ các nguồn thông tin hợp
pháp, đảm bảo tính khách quan, khoa học./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Anh
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NSTW
: Ngân sách Trung ương
NSĐP
: Ngân sách địa phương
HĐND
: Hội đồng nhân dân
NSNN
: Ngân sách nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân
Bảng 2.6:
Các khoản thu ngân sách Ninh Bình theo từng sắc thuế được
hưởng theo tỷ lệ % giai đoạn 2013-2016.................................... 42
Bảng 2.7:
Chi tiết các khoản thu từ Thuế thực tế được phân chia tỷ lệ % giữa
ng ngân sách Ninh Bình được hưởng giai đoạn 2013-2016 ........... 44
Bảng 2.8:
Các khoản thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách
tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013-2016 .......................................... 46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời là công cụ tài
chính để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với hoạt động kinh
tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Nhằm quản lý, củng
cố kỷ luật tài chính, sử dụng hiệu quả ngân sách, Nhà nước đã nghiên cứu xây
dựng và ban hành Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội khóa XI, thông
qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm 2004. Sau hơn 10 năm tổ
chức thực hiện, ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã
thông qua Luật ngân sách nhà nước (thay thế Luật ngân sách nhà nước năm
2002). Chủ tịch nước ký Lệnh số 13/2015/L-CTN ngày 09/7/2015 công bố
Luật ngân sách nước. Luật có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017.
Trung ương, việc thực hiện phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương
còn chưa hợp lý, phân cấp cho ngân sách cấp dưới phụ thuộc hoàn toàn vào
quyết định của chính quyền cấp tỉnh. Thực trạng cơ chế phân cấp nguồn thu
chưa tạo thế chủ động, chưa đảm bảo tính độc lập của ngân sách các cấp,
chưa mở rộng quyền tự chủ để mỗi cấp chính quyền, cấp ngân sách chủ động
trong việc khai thác các nguồn thu tại chỗ và chủ động bố trí chi tiêu hợp lý.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Thẩm quyền thu ngân sách theo Luật ngân sách nhà nước 2015 từ thực
tiễn tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để xây dựng được một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh về thẩm quyền thu
ngân sách, điều cần thiết là phải chỉ ra được những vướng mắc, những điểm
không phù hợp với thực tế và bổ sung những quy định mới hợp lý. Cùng với
việc đang thực hiện Luật ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày
2
16/12/2002, và thời gian tới thực hiện theo Luật ngân sách Nhà nước 2015,
các quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực này cũng đã được xây dựng và
bổ sung kịp thời đáp ứng nhu cầu của hoạt động thực tiễn phát sinh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở pháp luật quy định Luật ngân sách nhà nước 2002, đồng
thời nghiên cứu Luật ngân sách 2015 phân tích, đánh giá các quy định về
thẩm quyền thu ngân sách; thực tiễn việc thực hiện pháp luật về thẩm quyền
thu ngân sách tại tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua. Từ đó xây dựng phương
hướng, đề xuất những quan điểm, mục tiêu và giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện thẩm quyền thu ngân sách khi thực hiện Luật ngân sách 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, về mặt lý luận: phân tích, hệ thống hoá cơ sở lí luận liên quan
- Về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng pháp luật quản lý thẩm quyền
thu ngân sách địa phương giai đoạn 2013- 2016 và đề ra giải pháp, phương
hướng khi thực hiện Luật ngân sách 2015 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin , quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương
pháp thống kê, phân tích số liệu, tổng hợp, đối chiếu, so sánh thực tiễn với lý
luận và dự báo để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khi thực hiện Luật
ngân sách 2015.
- Ngoài ra luận văn có kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của các
chuyên gia và luận án, luận văn đi trước.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến nội
hàm các khái niệm xung quanh đề tài như: ngân sách nhà nước; thẩm quyền
thu ngân sách.
Luận văn đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế trong pháp luật về thẩm quyền thu ngân sách của tỉnh
Ninh Bình;
Luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm pháp huy tính tích cực
và hạn chế, tồn tại bất cập phân chia nguồn thu ngân sách tỉnh Ninh Bình, đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước”.
- Về phương diện tài chính: “Thu ngân sách nhà nước bao gồm những
khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu
của nhà nước”.
Khi nhà nước ra đời để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà
nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng
góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thu ngân sách Nhà nước bao
gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu
cầu chi tiêu của nhà nước.
Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ
kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động
các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu ngân sách nhà nước chỉ
bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị
ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.
6
* Khái niệm thẩm quyền thu ngân sách nhà nước: là tổng hợp các qui
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều
chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tạo lập quỹ
ngân sách nhà nước.
Thẩm quyền quyết định ngân sách Nhà nước, ở hầu hết các nước là
thuộc về các cơ quan đại diện (Nghị viện). Ở Việt Nam, Quốc Hội cũng là cơ
quan có thẩm quyền thông qua và phê chuẩn ngân sách. Quốc Hội thảo luận
và quyết định về tổng mức, cơ cấu và phân bổ ngân sách trung ương. Mọi
hoạt động thu ngân sách đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước
ban hành. Thẩm quyền tổ chức thu ngân sách là cơ quan tài chính, cơ quan
thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác được cơ quan nhà nước có thẩm
- Ngân sách nhà nước luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và các
phạm trù chính trị. Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức,
phạm vi, mức độ hoạt động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất
hiện hệ thống thu ngân sách nhà nước.
1.1.3. Các nguồn thu ngân sách nhà nước
- Thu Thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật
quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của nhà nước. Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã
hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và
thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện
phân phối tài chính
- Phí và lệ phí: là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối
giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà
nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính
pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một
phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình.
8
Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ
hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. Thẩm quyền quy định về
phí và lệ phí là thẩm quyền quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng tiền phí và lệ phí. Phân cấp thẩm quyền quy định phí và lệ phí được dựa
vào tính chất và phạm vi ảnh hưởng của từng loại phí, lệ phí. Chính phủ quy
định đối với một số phí quan trọng, có số thu lớn, liên quan đến nhiều chính
sách kinh tế- xã hội của nhà nước. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương quy định đối với một số loại phí gắn liền với quản lý đất
đai, tài nguyên thiên nhiên, thuộc chức năng quản lý hành chính nhà nước của
chính quyền địa phương.
- Thu từ các khoản đầu tư vào hoạt động kinh doanh của nhà nước bao
+ Vay trong nước: Phát hành các công cụ nợ của Chính phủ
+ Vay ngoài nước: Thông qua các khoản viện trợ có hoàn lại.
* Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước:
Thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước không chỉ nhằm mục đích
duy nhất là để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà nó còn phải
chứa đựng các mục tiêu kinh tế - xã hội khác. Do đó việc thiết lập một hệ
thống thu ngân sách phải dựa trên các nguyên tắc định hướng nhất định.
Trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thu ngân sách nhà nước ở
nước ta cần tôn trọng và chấp hành các nguyên tắc:
- Các nguyên tắc định hướng
+ Nguyên tắc thu thuế theo lợi ích: là cách thu thuế có phân biệt theo
mức độ sử dụng hàng hóa công cộng nhiều hay ít. Người sử dụng hàng hóa
công cộng nhiều hơn thì phải đóng thuế nhiều hơn. Thông thường, các sắc
thuế địa phương áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích.
10
+ Nguyên tắc thu theo khả năng: là cách thu có phân biệt theo khả năng
đối tượng nộp vào ngân sách (thuế). Người có thu nhập nhiều hơn sẽ phải
đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.
- Các nguyên tắc thực hiện thực tế
+ Nguyên tắc ổn định và lâu dài: trong điều kiện hoạt động kinh tế bình
thường thì cần phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế không gây xáo trộn
trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải
được thích hợp đảm bảo khích thích nền kinh tế thị trường, nuôi dưỡng và
phát triển nguồn thu.
+ Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: Thiết lập hệ thống thu ngân sách
(các khoản thuế) phải có quan điểm công bằng đối với mọi người, không phân
biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.
ngân sách càng lớn hơn chi ngân sách) làm cho ngồn tài chính càng lớn, nâng
cao tỷ suất thu cho ngân sách nhà nước và ngược lại, khi kinh tế chậm phát
triển, tỷ suất doanh lợi thấp làm giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và
khoáng sản). Đây là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến thu ngân
sách nhà nước. Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
(dầu mỏ và khoáng sản) là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân
sách nhà nước. Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to
lớn cho ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng
xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì
tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng một điều
kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng
sản lớn thì tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước cũng lớn hơn.
12
Thứ tư, mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Nhân tố tiếp
theo ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước là mức độ trang trải các khoản
chi phí của nhà nước. Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu
quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà nhà nước
đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của nhà
nước. Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của nhà nước không
có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất
thu của ngân sách cũng tăng lên. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình
trạng nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá khả năng thu, nên các
Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi. Nợ công có phạm vi rộng
hơn nợ nước ngoài. Nó bao gồm nợ của chính phủ và toàn bộ nợ của doanh
Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Tổ chức quản lý và thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu
khác nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trường hợp được phép thu qua ủy
nhiệm thu thì phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy
định của Bộ Tài chính;
- Cơ quan thu có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức,
đơn vị, cá nhân nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu phải nộp vào ngân sách
nhà nước;
- Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách; kiểm tra, thanh tra
việc chấp hành kê khai, thu, nộp ngân sách và xử lý hành vi vi phạm theo quy
định của pháp luật.
* Các chủ thể tham gia thu ngân sách nhà nước:
14
- Hải quan: Là cơ quan có trách nhiệm thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu,
thuế VAT đối với hàng nhập khẩu, thế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập
khẩu và các khoản thu khác thuộc phạm vi qui định của pháp luật.
- Cơ quan thuế: Có trách nhiệm thu thuế, phí, lệ phí, và các khoản thu
khác theo quy định của pháp luật trừ các khoản thuế mà hải quan đã thu.
- Cơ quan tài chính và các cơ quan khác: sẽ tiến hành thu các khoản thu
còn lại cho ngân sách nhà nước theo sự cho phép của Chính phủ hay được Bộ
tài chính ủy quyền ( Tòa án thu án phí, Bệnh viện thu viện phí, Phòng chông
chứng thu phí công chứng).
1.2.1. Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương
Tại Điều 4 của Luật ngân sách Nhà nước 2015 nêu cụ thể ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương. Theo đó:
“ Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp
cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm
trong việc quản lý ngân sách. Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về
nguồn lực thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các địa phương. Đồng thời,
quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa các cấp chính quyền từ trung
ương đến địa phương trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.Phân
cấp quản lý giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương là việc phân
định phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp chính quyền nhà nước từ
trung ương tới các địa phương trong quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng ngân
sách nhà nước phục vụ cho việc thực thi các chức năng nhiệm vụ của nhà
nước. Phân cấp ngân sách không những tạo ra nguồn lực tài chính mang tính
độc lập tương đối cho mỗi cấp chính quyền trong việc chủ động thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của mình, mà đó còn là động lực khuyến khích mỗi cấp
chính quyền địa phương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát
triển địa phương, trao quyền tự chủ cho ngân sách chính quyền địa phương
16
trong một số khoản thu nhằm đảm bảo tính hợp lý và hài hòa, tránh việc ngân
sách cấp dưới phụ thuộc ngân sách cấp trên, ngân sách địa phương phụ thuộc
vào ngân sách trung ương. Đứng trên góc độ hệ thống ngân sách, ngân sách
trung ương đóng vai trò chủ đạo và quan trọng do tập trung nhiều nguồn thu,
ngân sách trung ương đảm trách vai trò điều phối nguồn lực tài chính giữa các
cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách và cân đối ngân sách nhà nước. Việc
cân đối ngân sách địa phương luôn gắn liền với việc bảo đảm thực hiện các
nhiệm vụ quản lý kinh tế xã hội của các cấp chính quyền địa phương và việc
cân đối ngân sách mỗi cấp địa phương sẽ tạo ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động kinh tế xã hội của mỗi địa phương đó. Từ đó, có thể nhận thấy, cân đối
ngân sách giữa trung ương và ngân sách địa phương có sự tương tác lẫn nhau
trong quá trình thu, tạo lập nguồn thu ngân sách. Sự tương tác này hình thành
trên cơ sở thống nhất về chính trị và các nguyên tắc tổ chức chính quyền.
Trong bối cảnh nước ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường, việc phân
Trong thời gian tới, khi Việt Nam từng bước thực hiện các cam kết trong
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đặc biệt là Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN (AFTA)...Theo đó, chúng ta sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế
quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các
nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước. Như vậy sẽ ảnh
hướng trực tiếp tới nguồn thu ngân sách của cả ngân sách trung và ngân sách
địa phương. Từ những vấn đề thực tiễn và bất cập nêu trên, cần thiết phải có
các quy định cụ thể và rõ ràng về việc phân cấp quản lý ngân sách, phân định,
phân cấp các nguồn thu giữa các cấp chính quyền chủ động trong quản lý
ngân sách nhà nước.
1.3. Nội dung thu ngân sách nhà nước
1.3.1. Thẩm quyền thu ngân sách trung ương
18
Ở nước ta, nền tài chính quốc gia và ngân sách nhà nước được quản lý
thống nhất theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân
công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, với vị trí chủ đạo
trong hệ thống ngân sách Nhà nước, ngân sách Nhà nước Trung ương cần
phải tập trung được những nguồn ngân sách Nhà nước cơ bản nhất bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những
địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách. Thẩm quyền thu ngân sách
trung ương tại Luật ngân sách nhà nước năm 2015 gồm 19 khoản thu được
hưởng 100% và 5 khoản thu được hưởng theo tỷ lệ điều tiết.
1.3.2. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương
Trên cơ sở đặc điểm tính chất từng nguồn thu và khả năng thu của từng
địa phương, từng cấp ngân sách mà quy định cụ thể các nguồn thu mỗi địa
phương, mỗi cấp ngân sách được hưởng để đủ cân đối theo yêu cầu nhiệm vụ
chi, hạn chế việc phải cấp bổ sung ngân sách từ cấp trên cho ngân sách cấp
quá trình thu ngân sách. Sự tương tác này hình thành trên cơ sở có sự thống
nhất về thể chế chính trị, thống nhất về cơ sở kinh tế và sự ràng buộc bởi các
nguyên tắc tổ chức của hệ thống chính quyền.
Phân cấp thẩm quyền thu ngân sách góp phần tạo ra sự cân đối ngân
sách tài chính giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp ngân sách với
nhau; phân định thẩm quyền thu ngân sách sẽ trao quyền tự chủ nhiều hơn
cho ngân sách địa phương trong một số khoản thu, tránh sự phụ thuộc quá lớn
vào việc cấp ngân sách từ trung ương cho địa phương. Việc quy định cụ thể
nguồn thu và ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu ngân sách đã
tạo điều kiện cho các địa phương chủ động hơn trong việc xác định và phân
bổ, sử dụng các nguồn lực, hạn chế một phần tư tưởng “xin- cho”, trông chờ
hay phụ thuộc vào ngân sách cấp trên.
20