VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH VIỆT THANH
TỔNG HỢP HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. CAO THỊ OANH
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là đúng công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các kết quả đã nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học đồng thời thanh
toán tất cả các nghĩa vụ về tài chính theo qui định của Học viện khoa học xã hội
thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tôi được bảo
vệ Luận Văn.
Tôi xin trân thành cảm ơn./.
NGƯỜI CAM ĐOAN
xuất hiện cũng không ít những khó khăn, thách thức và cả những nguy cơ đan
xen. Để góp phầngiữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội toàn diện, Nhà nước ta đã đề ra nhiều chương
trình hành động sát với thực tiễn. Ngày 28 tháng 11 năm 2013 Hiến pháp được
Quốc Hội thông qua qui định nhiều điểm mới trong lĩnh vực tư pháp.
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 qui định“Tòa án nhân dân là cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp”. Bộ luật hình sự năm 1999quy định hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của
người phạm tội, hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án
quyết định. Nhà nước giao cho Tòa án nhân dân, nhân danh Nhà nước tuyên bố
một người có tội, quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Quyết định hình
phạt đúng sẽ đạt được mục đích của hình phạt là trừng trị và giáo dục người
phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Ngược lại, mục đích của hình phạt không
đạt được, nếu người phạm tội không có ý thức tuân theo pháp luật, không tự giác
chấp hành hình phạt và không đáp ứng được nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Về nguyên tắc “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý
nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”. Trong thực tiễn có nhiều trường
hợp một người thực hiện nhiều tội phạm, nhưng không bị phát hiện và đưa ra xét
xử cùng một lúc. Để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của
tất cả các tội mà người phạm tội đã thực hiện, Tòa án phải tổng hợp hình phạt
của các tội thành hình phạt chung buộc họ phải chấp hành. Tổng hợp hình phạt
là trường hợp Tòa án không chỉ quyết định hình phạt cho một tội mà phải quyết
1
định hình phạt chung cho nhiều tội cho nhiều bản án, đây là chế định đặc biệt
quan trọng được qui định trong luật hình sự Việt Nam. Bộ luật hình sự hiện
hành đã quy định rõ về chế định này, nhưng xét về nội dung và kỹ thuật lập pháp
pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, xem đó là cơ sở phương pháp luận
giải quyết những vấn đề nội dung của luận văn.
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu các vấn đề và hoàn thiện luận văn, học viên đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống khác nhau như phương pháp hệ
thống, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích quy nạp, phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê tổng hợp. Ngoài ra các phương pháp lôgic,
khảo sát thực tiễn cũng đã được học viên sử dụng để hoàn thành luận văn thạc sĩ
luật học của mình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu trong luận văn vừa có ý nghĩa về mặt lý luận và ý
nghĩa về mặt thực tiễn. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận
về các khái niệm liên quan, về lịch sử phát triển của pháp luật thực định, chế
định tổng hợp hình phạt. Thông qua việc đánh giá thực tiễn của hoạt động xét xử
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, học viên đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng việc tổng hợp hình phạt, góp phần hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam
theo tinh thần cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả nghiên cứu
của luận văn học viên cũng mong muốn có thể làm tài liệu tham khảo trong công
tác tập huấn nghiệp vụ cho các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân của Tòa án
nhân dân hai cấp tại tỉnh Ninh Bình.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổng hợp hình phạt.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tổng hợp hình phạt
và thực tiễn thi hành tại tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm tổng hợp hình phạt.
quy định tội phạm và hình phạt và chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật
hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặc dù cho đến nay cũng
còn có các ý kiến khác nhau về nguồn của Luật hình sự. Có ý kiến cho rằng để
6
phù hợp với thực tiễn Việt Nam, để không phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự
khi cuộc sống có những đòi hỏi, khi cần sự điều chỉnh một quan hệ xã hội nào
đó bằng pháp luật hình sự thì có thể quy định tội phạm và hình phạt trong các
luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, cho đến nay “chỉ người nào phạm một tội và
được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2 Bộ
luật hình sự). Chúng tôi cho rằng quy định này mới bảo đảm quyền con người,
vừa nghiêm khắc, vừa nhân đạo, vừa mang tính nhân văn.
Thứ ba, hình phạt là biện pháp cưỡng chế chỉ do Tòa án nhân danh Nhà
nước áp dụng. Điều này có nghĩa là việc quyết định một loại và mức hình phạt
cụ thể là thẩm quyền đặc biệt của Tòa án, chứ không phải do cơ quan, tổ chức
nào khác hay của người có thẩm quyền nào đó. Tòa án tuyên bố có tội và quyết
định hình phạt bằng việc xét xử của Tòa án do một Hội đồng thực hiện, có đại
diện của nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Thẩm quyền
đặc biệt đó còn thể hiện ở chỗ, ngoài ân xá và đặc xá, không một cơ quan, tổ
chức hay người có chức vụ, quyền hạn nào có thể miễn hoặc giảm hình phạt do
Tòa án đã tuyên, mà việc miễn, giảm đó hoàn toàn thuộc thẩm quyền đặc biệt
của Tòa án và khi tiến hành phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Điều đó
thể hiện tính chất công quyền của hình phạt, bởi vì hình phạt chỉ có thể do Tòa
án nhân danh Nhà nước tuyên mà thôi, không một cơ quan nhà nước nào khác
có quyền áp dụng hình phạt.
Thứ tư, hình phạt làm cho người bị kết án có án tích. Án tích là hậu quả tất
yếu của hình phạt, đó là đặc điểm rất đặc trưng của hình phạt. Án tích có thể làm
cho người bị kết án chịu một số hạn chế nhất định. Như hạn chế trong việc chọn
với người phạm tội. Thuyết phục trong hình phạt nhằm làm cho người phạm tội
nhận thức được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với hành vi do họ thực hiện,
làm cho họ biết được những gì không nên làm và những gì bị lên án. Nếu hình
phạt không có nội dung giáo dục, cải tạo mà chỉ có nội dung trừng trị, thì lúc đó
hình phạt chẳng qua chỉ là sự trả thù đơn thuần không hơn không kém. Do vậy,
giáo dục và cải tạo là một trong những nội dung rất quan trọng của hình phạt
trong luật hình sự xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, mục đích của hình phạt mang tính chất phòng ngừa đối với người
bị kết án, ngăn ngừa, ngăn chặn họ phạm tội mới. Như vậy, nếu như mục đích
cải tạo là mục đích giáo dục riêng, thì mục đích ngăn ngừa là mục đích phòng
8
ngừa riêng, tức là giáo dục và phòng ngừa bản thân người phạm tội, người bị kết
án đó. Phòng ngừa người đó phạm tội mới có ý nghĩa ngăn ngừa người phạm tội
có thể trở thành người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất nguy
hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Đồng thời, mục đích này cũng có ý
nghĩa đối với những trường hợp phạm tội vô ý mà nguyên nhân là sự coi thường
kỷ luật, kém hiểu biết pháp luật.
Thứ ba, mục đích của hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nội dung của mục đích này
không nhằm vào người phạm tội mà nhằm vào cộng đồng xã hội, có tính chất
răn đe phòng ngừa. Mọi người nhìn vào việc tuyên bố phạm tội và quyết định
hình phạt của Tòa án để có những xử sự đúng đắn, tôn trọng pháp luật. Nhà
nước đặt ra hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội, đồng thời nhắc nhở
mọi người trong cộng đồng xã hội chớ có phạm tội, nếu có ý định phạm tội thì
phải dừng lại, nếu không ắt phải chịu hậu quả. Mục đích này vừa có tính chất
răn đe, vừa có tính chất giáo dục và phòng ngừa chung.
1.1.3. Hệ thống các hình phạt
Hệ thống các hình phạt là danh mục các loại hình phạt do Nhà nước quy
cách là hình phạt bổ sung. Là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm
trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm trật
tự quản lý hành chính và các tội phạm khác. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ
sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác. Bộ
luật hình sự không quy định mức tối đa chung cho tất cả các tội có quy định phạt
tiền mà chỉ quy định mức tối thiểu là một triệu đồng và quy định mức phạt tiền
bằng hai phương pháp. Thứ nhất, quy định mức phạt tiền cụ thể với việc chỉ ra giới
hạn tối thiểu và giới hạn tối đa (ví dụ: Điều 143, 154 Bộ luật hình sự). Thứ hai, quy
định mức phạt tiền bằng một số lần tiền phạm tội hoặc tiền thu lợi bất chính (ví dụ:
Điều 161, Điều 163 Bộ luật hình sự). Đồng thời khi quyết định mức phạt tiền, Tòa
án phải căn cứ vào: Tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã thực hiện,
tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động giá cả. Đó là những căn cứ
cần và đủ mà Tòa án phải dựa vào khi quyết định mức hình phạt tiền đối với bị cáo.
Do vậy cần phải cân nhắc một cách tổng thể khi phạt tiền. Nhưng trong mọi trường
hợp, mức phạt tiền không vượt quá mức tối đa và thấp hơn mức tổi thiểu được quy
định đối với tội đã phạm.
10
- Cải tạo không giam giữ: Điều 31 Bộ luật hình sự được áp dụng đối với
người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng với thời hạn từ 6
tháng đến 3 năm. Người chịu hình phạt cải tạo không giam giữ không phải cách
ly khỏi xã hội mà được cải tạo ngay tại nơi thường trú hoặc tại cơ quan nhà nước
hoặc tổ chức nơi người đó làm việc. Do đó, hình phạt này chỉ áp dụng nếu người
phạm tội đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng. Nhưng
phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng là một điều kiện cần chứ chưa đủ để
quyết định hình phạt này, vì ngoài điều kiện trên, Tòa án chỉ có thể quyết định
áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với người phạm tội khi có những tình
tiết cho phép nhận định người phạm tội có thể giáo dục, cải tạo trở thành người
tốt mà không cần cách ly khỏi đời sống xã hội. Hình phạt này là một biểu hiện
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và của nhân thân người phạm tội
rất lớn, tập trung nhiều tình tiết tăng nặng nên trong Điều 48 Bộ luật hình sự, hậu
quả gây ra rất nghiêm trọng… Quy định này nói lên tính chất đặc biệt nghiêm khắc
của hình phạt tù chung thân và sự thận trọng khi áp dụng hình phạt này. Trên thực
tế, trong trường hợp xét ân giảm án tử hình, tù chung thân được gọi là “hình phạt
đệm” để thay thế hình phạt tử hình, hạn chế việc áp dụng hình phạt đặc biệt này.
Tù chung thân không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Quy
định này biểu hiện nguyên tắc nhân đạo và là bước phát triển mới của pháp luật
hình sự nước ta. Người đang chấp hành hình phạt tù chung thân có thể được giảm
thời hạn chấp hành hình phạt khi có những điều kiện nhất định.
- Tử hình: Điều 35 Bộ luật hình sự, là hình phạt nghiêm khắc nhất tước bỏ
quyền sống của người phạm tội nên nó chỉ được áp dụng đối với người phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng và cũng chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên
không phải bất cứ người nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị phạt tử hình
mà chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với những người gây tội ác rất lớn, gây
phương hại đến an ninh quốc gia, những kẻ thoái hóa, biến chất. Đồng thời xuất
phát từ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, mà Nhà nước ta quy định không áp
dụng và thi hành hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ
nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này thì hình phạt
tử hình được chuyển thành tù chung thân. Do là hình phạt đặc biệt này khi Tòa án
áp dụng cũng như việc thi hành hình phạt cũng theo những thủ tục đặc biệt.
12
1.1.3.1.Các hình phạt bổ sung
Khoản 2 Điều 28 Bộ luật hình sự, quy định hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú;
Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp
dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Quản chế Điều 38 Bộ luật hình sự: Quản chế thể hiện ở việc buộc người
bị kết án phạt tù trong một thời gian nhất định phải cư trú, làm ăn sinh sống và
cải tạo ở một địa phương nhất định, dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền
và nhân dân địa phương và phải chịu một số hạn chế khác về quyền lợi và thực
hiện một số nghĩa vụ. Quản chế là hình phạt bổ sung kết hợp giáo dục với bắt
buộc lao động để sinh sống. Quản chế có tác dụng củng cố kết quả làm việc
chấp hành án phạt tù, góp phần phòng ngừa tội phạm mới. Hình phạt này được
quy định đối với người phạm tội xâm hại an ninh quốc gia, tái phạm nguy hiểm
hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật hình sự quy định. Trong bản án,
Tòa án phải chỉ rõ thời hạn bị quản chế và thời hạn này được xác định căn cứ
vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện; các đặc
điểm nhân thân của bị cáo và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có trong hồ sơ
vụ án mà quyết định thời hạn quản chế từ một năm đến năm năm.
Tước một số quyền công dân Điều 38 Bộ luật hình sự: Tước một số quyền
công dân là hình phạt thể hiện ở việc tước của người bị kết án một số quyền
chính trị quan trọng trong một thời hạn nhất định do pháp luật quy định. Hình
phạt này chỉ được áp dụng đối với những người là công dân Việt Nam khi họ
thực hiện các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do Bộ luật hình
sự quy định. Hình phạt này đương nhiên không áp dụng đối với người nước
ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Khi quyết định hình phạt này Tòa án
phải ghi rõ trong bản án những quyền công dân cụ thể bị tước. Trong mọi trường
hợp Tòa án chỉ có quyền tước những quyền công dân do pháp luật quy định. Đó
là quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền
làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang
nhân dân.
- Tịch thu tài sản Điều 40 Bộ luật hình sự:Nội dung và điều kiện áp dụng
hình phạt, đây là loại hình phạt bổ sung thuộc loại hình phạt về kinh tế và chỉ
được áp dụng đối với người thực hiện những tội phạm nghiêm trọng, tội rất
14
chấp hành hình phạt chung trong các trường hợp trên đây phải tuân theo những
15
nguyên tắc nhất định, vừa bảo đảm có lý, có tình, có tính khả thi. Việc quyết
định này gọi là “Tổng hợp”, tức là từ các yếu tố riêng rẽ nào đó làm thành một
chỉnh thể, (từ các hình phạt riêng rẽ làm thành một hình phạt chung). Như vậy,
“tổng hợp” khác với “tổng cộng”. Nếu như “tổng cộng” là cái chung, thì “tổng
hợp” là cái riêng. “Tổng hợp” có lúc, có nơi, có trường hợp cụ thể là “tổng
cộng”. Ví dụ: Bản án thứ nhất xử phạt 2 năm tù, bản án thứ hai xử phạt 3 năm
tù. “Tổng hợp” trong trường hợp này là “tổng cộng” (2 năm tù + 3 năm tù = 8
năm tù). Trong trường hợp khác “tổng hợp” không thể là “tổng cộng”. Ví dụ:
Bản án thứ nhất xử phạt 18 năm tù; bản án thứ hai xử phạt 20 năm tù. “Tổng
hợp” trong trường hợp này là 30 năm tù, còn “tổng cộng” sẽ là 38 năm tù (18
năm tù + 20 năm tù = 38 năm tù).
Việc tổng hợp hình phạt do Tòa án có thẩm quyền thực hiện, mà cụ thể là
do Hội đồng xét xử, nếu tại phiên tòa hoặc do Chánh án Tòa án, nếu tổng hợp
hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật. Việc tổng hợp hình phạt
phải tuân thủ những quy định của Bộ luật hình sự và tổng hợp hình phạt cùng
loại, tổng hợp hình phạt khác loại và những trường hợp không được tổng hợp
hình phạt.
Từ sự phân tích trên đây, học viên đưa ra quyết định khái niệm tổng hợp
hình phạt như sau:
Tổng hợp hình phạt là việc Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy
định của pháp luật hình sự, trên cơ sở loại và mức hình phạt mà Tòa án đã
quyết định đối với từng tội hoặc trên cơ sở loại và mức hình phạt đã quyết định
trong nhiều bản án để quyết định hình phạt chung đối với người phạm tội.
Cũng từ phân tích trên, chúng ta có thể thấy chế định tổng hợp hình phạt
có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo tính khả thi của các bản án; sự nghiêm
minh, công bằng và nhân đạo của pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
bằng thì phải dùng “tổng cộng” toàn bộ các hình phạt. Nếu vậy thì có những
trường hợp không phải là 30 năm tù mà lớn hơn nhiều, thậm chí hàng trăm năm
tù. Tuy nhiên, trong những trường hợp khi tổng cộng các hình phạt tù trên 30
năm, thì Bộ luật hình sự quy định mức tối đa cũng chỉ 30 năm tù.
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án. Trong thực tiễn có
không ít trường hợp một người phải chấp hành nhiều hình phạt (có thể cùng loại,
có thể khác loại) của nhiều bản án, nhưng vì nhiều lý do khác nhau chưa được
17
tổng hợp. Những trường hợp này đã gây khó khăn cho Tòa án trong việc ra
quyết định thi hành án. Nếu Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành tất cả các
bản án thì cũng không thể thi hành đồng thời các bản án này. Có trường hợp
trùng lắp đồng thời cùng chấp hành các bản án, có trường hợp không thể thi
hành được, ví dụ: Tử hình và chung thân, khi hình phạt trong cùng một bản án
hoặc trong các bản án khác nhau đã được tổng hợp thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc ra quyết định thi hành án, cũng như thực hiện việc thi hành án.
- Tổng hợp hình phạt còn có ý nghĩa cho việc xác định thời hiệu thi hành
bản án, xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Cụ thể trong trường hợp này
được quy định tại tiểu mục 1.3 mục 1 Nghị quyết 01/2007/NQ – HĐTP ngày
02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn:
“Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì căn cứ mức
hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung của hình
phạt chính nặng nhất”.
1.2.2. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt
Nguyên tắc tổng hợp hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng trong
việc tổng hợp hình phạt qui định trong Luật hình sự.Trường hợp phạm nhiều tội,
trước khi tổng hợp và quyết định hình phạt chung cho các tội thì Tòa án phải
quyết định hình phạt riêng cho từng tội. Hình phạt chung không được vượt quá
giới hạn luật quy định đối với từng loại hình phạt. Hình phạt chung là sự đánh
khác, nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi các hình phạt đó cùng loại hoặc có
thể quy về cùng loại.
Luật hình sự Việt Nam coi nguyên tắc cộng toàn bộ là nguyên tắc ưu tiên
bắt buộc. Chỉ khi không áp dụng được nguyên tắc này mới áp dụng các nguyên
tắc khác, điều này thể hiện rõ trong các quy định cụ thể của Bộ luật hình sự.
Nguyên tắc thu hút hình phạt: Theo nguyên tắc thu hút, hình phạt chung
là hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên. Nguyên tắc này được áp
dụng trong trường hợp không thể cộng hết các hình phạt lại với nhau do có một
trong các hình phạt đã tuyên là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt hay
do các hình phạt không thể cùng chấp hành. Ví dụ: Bị cáo Phạm Văn Cương
phạm tội giết người và tội hiếp dâm. Toà án tuyên tử hình đối với tội giết người
và 10 năm tù với tội hiếp dâm. Hình phạt chung trong trường hợp này là tử hình.
19
Như vậy Nguyên tắc thu hút hình phạt được áp dụng khi hình phạt nặng
nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình hoặc tù chung thân. Như vậy, nếu
hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt
chung là tử hình. Nếu hình phạt nặng nhất trong các hình phạt đã tuyên là chung
thân thì hình phạt chung là chung thân.
Nguyên tắc cùng tồn tại: Nguyên tắc cùng tồn tại được áp dụng khi
không áp dụng được hai nguyên tắc trên. Tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc
này sẽ không có hình phạt chung cho tất cả các tội mà chỉ có việc phải chấp
hành đồng thời các hình phạt. Vớ dụ: Bị cáo Vũ Văn Biên phạm tội đánh bạc và
tội chống người thi hành công vụ. Toà án tuyên phạt 15 triệu đồng về tội “đánh
bạc” và phạt 2 năm tù về “tội chống người thi hành công vụ”. Trường hợp này
bị cáo phải chấp hành đồng thời cả hai hình phạt.
Theo nguyên tắc của Luật hình sự thì một người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xó hội và được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì phải chịu hình
năm 2014 quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp
luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, cá nhân hữu quan
phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định: “Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ
quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành
nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án và phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc chấp hành đó. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ
quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn, tổ chức và công dân phải phối
hợp với cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án
trong việc thi hành án. Các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn
có trách nhiệm tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức có nhiệm
vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án”. Để đảm bảo
thi hành đúng các quy định trên đây thì Tòa án phải tổng hợp đầy đủ các hình
phạt, không được bỏ sót.
Thứ hai, là việc tổng hợp các hình phạt đối vơi nhiều tội hoặc trong nhiều
bản án phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải tuân thủ
đúng các quy định của Bộ luật hình sự và các hướng dẫn thi hành của cơ quan
có thẩm quyền. Cụ thể là trong trường hợp tổng hợp hình phạt do phạm nhiều tội
21
thì phải tuân thủ quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự. Trường hợp tổng hợp
hình phạt của nhiều bản án thì phải tuân thủ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình
sự. Trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên thì phải tuân thủ quy
định tại Điều 75 và các quy định khác trong Chương X của Bộ luật hình sự.
Ngoài việc tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự thì còn phải tuân thủ
hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/12/1991 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (các mục 5, mục