VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC
TIỄN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành:
Mã số:
Chính sách công
60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Phản biện 1: ........................................:..................................
...........................................................................
Phản biện 2: ...........................................................................
...........................................................................
đây nền kinh tế của tỉnh đã có nhiều khởi sắc, tạo nên những dấu ấn
đáng ghi nhận. Nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, trong những năm qua UBND tỉnh Ninh
Bình đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương phối hợp với
các cơ quan chức năng trên địa bàn tạo môi trường thông thoáng cho
1
các nhà đầu tư, thực hiện các chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thuế thu
nhập doanh nghiệp, lãi suất vay vốn, sử dụng các tiện ích cộng đồng.
Nhờ môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi, Ninh Bình đã thu hút
được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
Hiện nay Ninh Bình là tỉnh đang trong quá trình CNH-HĐH và
xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Ninh
Bình rất chú trọng công tác dạy nghề cho lao động. Trong đó, đặc
biệt quan tâm đến chất lượng dạy nghề cho LĐNT nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển KT-XH của tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ LĐNT được tạo nghề
còn thấp, mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển không đồng, quy mô
nhỏ, chất lượng dạy nghề chưa cao
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu Đề tài “Thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh
Ninh Bình”, nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại,
vướng mắc trong việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT.
Từ đó, đưa ra giải pháp tiếp tục thực hiện và hoàn thiện chính sách
đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Ninh Bình là hết sức cần thiết để đáp
ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao
động, thúc đẩy quá trình phát triển CNH- HĐH trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng
Theo đó tác giả đã đưa ra những giải pháp và công cụ chính sách
nhằm cơ cấu lại và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát
triển nền kinh tế nước ta theo hướng mục tiêu xây dựng xã hội dân
giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại Ninh Bình, từ đó đề xuất một
số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn ở tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với phạm vi, mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết
những nhiệm vụ chính như sau:
3
1) Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đào
tạo nghề và thực hiện chính sách đào tạo nghề cho người lao động ở
nông thôn.
2) Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
3) Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình, nhằm
đáp ứng yêu cầu mới của phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Bình.
cầu, lý thuyết về chu trình chính sách … để tìm hiểu về thực trạng
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay, nhu cầu đào
tạo nghề của họ và tình hình đào tạo nghề cho LĐNT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm làm sáng tỏ thực trạng thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh
Ninh Bình, những nhu cầu về đào tạo nghề và tình hình đào tạo nghề
cho LĐNT và các giải pháp đào tạo nghề cho LĐNT nhằm thực hiện
các mục tiêu phát triển KT-XH trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
5
lao động nông thôn ở tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết đánh giá nhu cầu đào
tạo
- Khái niệm về nghề và đào tạo nghề
Ở Việt Nam, định nghĩa về “nghề” rất đa dạng song chưa được
thống nhất, tập hợp lại. Có tác giả cho rằng nghề là một lĩnh vực hoạt
động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được
xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là
quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của
người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định.
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: học đi đôi với hành;
lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác
phong công nghiệp cho người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện,
nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả
năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
- Khái niệm về lao động và lao động nông thôn
Ở nước ta theo Bộ luật lao động, độ tuổi lao động được quy
định đối với nam từ 15 đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 đến 55 tuổi. Xét
về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc
làm và thất nghiệp
Như vậy lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người
7
để tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động
là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất
tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình.
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác
động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi
ích của con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã
hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động
và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới
tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15
Chính phủ, trong đó có mục tiêu: tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở
nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một
bước cho người nông dân.
Hiện nay, LĐNT là một lực lượng lớn có quỹ thời gian nông
nhàn khá nhiều, điều này khiến cho cuộc sống nghèo khó vẫn đang
theo đuổi họ. Một nguyên nhân khác khiến tình trạng thiếu việc làm
ngày càng trầm trọng là do tác động của quá trình CNH- HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Quá trình này, một mặt tạo thêm việc làm mới
trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhưng mặt khác, do yêu cầu chất
lượng nguồn nhân lực khắt khe, nên lao động phổ thông nhất là
LĐNT không qua đào tạo khó có thể tìm kiếm được cơ hội việc làm.
Hơn nữa việc thay thế dần các thiết bị lạc hậu bằng kỹ thuật công
nghệ cao làm cho nhu cầu lao động trong khu vực này ngày càng
giảm, khiến cho việc dư thừa lao động trên địa bàn nông thôn tăng,
song đội ngũ lao động có tay nghề, trình độ lại thiếu trầm trọng.
Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay
không chỉ giúp người nông dân có việc làm, tăng thu nhập từ nông
9
nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh cơ cấu lại sản
xuất nông nghiệp, cơ cấu lại nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Mấy năm gần đây, do tác động của quá trình đô thị hóa diễn
ra với tốc độ nhanh trên một số vùng của đất nước dẫn đến tình trạng
mất cân đối về cung, cầu lao động giữa nông thôn và thành thị.
Trường hợp xảy ra có tính chất phổ biến: các doanh nghiệp nhất là
mới ra đời không tuyển đủ số lao động cần thiết (chủ yếu lao động có
tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ) trong khi đó lao động phổ thông
không có việc làm lại dư thừa khá nhiều. Mỗi năm có hàng trăm
10
Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là một chính sách có tính
nhân văn sâu sắc, tính xã hội hóa cao, liên quan đến các cấp, các
ngành, các tổ chức chính trị-xã hội cùng tham gia thực hiện. Chính
sách đào tạo nghề đã giúp cho LĐNT, đặc biệt lao động là người dân
tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội học nghề, được tiếp cận
với khoa học kỹ thuật, tạo việc làm, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống, xóa đói giảm nghèo bền vững. Chính vì vậy, chu trình
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT có vị trí đặc biệt quan
trọng, là bước thực hiện hóa chính sách vào đời sống xã hội.
Để hoạt động đào tạo nghề đi vào đời sống thực tiễn, mang lại
hiệu quả thiết thực cho người dân thì: phải có sự “vào cuộc” mạnh
mẽ của cả hệ thống chính trị ở địa phương; công tác đào tạo nghề cho
LĐNT phải sát với tình hình phát triển KT-XH của đất nước và từng
địa phương, chú trọng phát triển các ngành nghề phù hợp với điều
kiện địa phương và kinh tế vùng.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là một khâu cấu
thành chu trình chính sách đào tạo nghề, là toàn bộ quá trình chuyển
hóa ý chí của Nhà nước- là chủ thể ban hành chính sách tới các đối
tượng (trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề,
trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ,
ngành, tổ chức chính trị- xã hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở
tư thục; trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng
hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng
đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm
trường, doanh nghiêp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh
dịch vụ… có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn) nhằm
đạt được mục tiêu của nhà nước đặt ra.
Đội ngũ giáo viên
-
Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề
-
Nhận thức của người lao động và xã hội về đào tạo nghề
-
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
-
Nhu cầu của xã hội về lao động qua đào tạo nghề
-
Nguồn tài chính đầu tư cho chính sách đào tạo nghề.
12
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH NINH BÌNH
2.1. Mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh
Bình
thiếu. Lực lượng cán bộ, công chức quản lý hành chính nhà nước
từng bước được củng cố và cải thiện về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ. Nhân lực khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo đã được coi
trọng và củng cố nhưng cơ cấu còn bất cập, chất lượng chưa cao. Lực
lượng doanh nhân và chuyên gia quản trị phát triển nhanh nhưng
nhìn chung năng lực chuyên môn còn yếu, thiếu kiến thức và kinh
nghiệm kinh doanh trên thị trường quốc tế. Người lao động còn
mang nặng thói quen và tập quán của người nông dân sản xuất nhỏ,
chưa đáp ứng được với những yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH và
hội nhập quốc tế; khả năng làm việc theo nhóm, sự hợp tác trong
công việc còn yếu; ý thức chấp hành kỷ luật lao động của phần lớn
lao động chưa cao; Thể lực, thể hình nhìn chung còn thấp bé, chưa
thật sự đáp ứng được yêu cầu về cường độ lao động và tổ chức công
việc của môi trường công nghiệp theo hướng hiện đại và chuẩn quốc
tế.
2.2.2. Phát triển hệ thống đào tạo nghề cho LĐNT.
- Thực trạng hệ thống đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh Ninh Bình
Công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển
biến tích cực, phát triển nhanh về đầu mối cơ sở, loại hình và ngành
nghề đào tạo; 8/8 huyện, thành phố, thị xã có trường và TTDN công
lập; nhiều CSDN được quan tâm đầu tư trang thiết bị dạy nghề hiện
đại.
14
Tính đến Tháng 10/2016, Ninh Bình hiện có 30 CSDN (trong
đó, 04 trường CĐN của trung ương đóng trên địa bàn, 4 trường TCN
(01 trường của quân đội, 01 trường của tỉnh quản lý, 01 trường của
Tổng liên đoàn lao động quản lý và 01 trường dân lập), 14 TTDN (07
TTDN cấp huyện) và 08 CSDN khác; tăng 01 trường CĐN, 01
2.2.4. Hoàn thiện chương trình, giáo trình trong các CSDN.
a) Xây dựng phát triển chương trình, giáo trình đào tạo nghề:
- Chương trình giảng dạy trình độ cao đẳng và TCN được các
CSDN tổ chức xây dựng và ban hành trên cơ sở chương trình khung
của Bộ LĐ-TB&XH, có sự điều chỉnh, cập nhật cho phù hợp với tình
hình thực tiễn của nhà trường, của địa phương và yêu cầu sản xuất
của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, phần nào đáp ứng yêu cầu
phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật và yêu cầu giảng dạy của nhà
trường.
- Chương trình giảng dạy trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề
dưới 3 tháng, Sở LĐ-TB&XH hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị dạy
nghề biên soạn chương trình dạy nghề với thời gian đào tạo theo
đúng hướng dẫn tại Thông tư số 31/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2010
của Bộ LĐ-TB&XH, trên cơ sở đó các đơn vị dạy nghề xây dựng và
ban hành các chương trình giảng dạy trình độ sơ cấp nghề của đơn vị.
- Các nghề đào tạo thường xuyên được rà soát, cập nhật điều
chỉnh để tổ chức xây dựng chương trình, giáo trình, tài liệu dạy nghề cho
LĐNT.
b) Xây dựng, phê duyệt danh mục nghề đào tạo, định mức chi phí đào
tạo nghề.
Hằng năm Sở LĐ-TB&XH tiến hành rà soát và bổ sung định
mức chi phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn sát với tình hình
thực tế tại địa phương, lấy ý kiến của các ngành trình UBND tỉnh phê
16
duyệt. Năm 2014, 2016 tham mưu UBND tỉnh phê duyệt chi phí đào
tạo nghề và mức hỗ trợ đào tạo cho LĐNT là 60 nghề, trong đó 26
nghề nông nghiệp (sơ cấp nghề 01 nghề, đào tạo nghề dưới 3 tháng
25 nghề); 34 nghề phi nông nghiệp (sơ cấp nghề 24 nghề, đào tạo
qua đó xác định được những hình thức đào tạo phù hợp với người
dân lao động trên địa bàn tỉnh.
Chƣơng 3
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI
TỈNH NINH BÌNH
3.1. Phƣơng hƣớng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh
Ninh Bình
- Thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề về
quy mô, cơ cấu, cấp trình độ, ngành nghề phù hợp với chiến lược
phát triển KT-XH của tỉnh
- Tăng cường thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở
giáo dục nghề nghiệp để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề
và công tác xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp.
- Chuyển mạnh đào tạo nghề cho LĐNT từ đào tạo theo năng
lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của
LĐNT và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với quy
hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của từng ngành, từng địa phương.
- Đào tạo nghề cho LĐNT theo hướng nâng cao chất lượng,
hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn
tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và
nhu cầu học nghề.
18
- Tiếp tục củng cố và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
của đội ngũ giáo viên, người dạy nghề trong đó có nhiều giáo viên có
trình độ cao, giỏi về kỹ năng sư phạm có thể đáp ứng tốt yêu cầu đổi
mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo nghề trong giai đoạn
hiện nay.
dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề công lập cấp huyện. Đặc biệt là
01 Trung tâm dạy nghề của huyện Gia Viễn triển khai chậm tiến độ,
chưa hoàn thiện các hạng mục công trình theo dự án đã được phê
duyệt.
Chủ động rà soát số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên, người dạy nghề đối với các TTDN cấp huyện. Tăng cường công
tác đào tạo, đào tạo lại nhằm bổ sung, tuyển dụng đảm bảo đủ số
lượng, chất lượng, cơ cấu cán bộ và giáo viên dạy nghề cho các
TTDN cấp huyện theo quy định.
3.2.4. Nâng cao chất lượng các chương trình dạy nghề
Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều
phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng
ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật
công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
3.2.5. Nâng cao công tác quản lý dạy nghề
Đôn đốc các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố,
thị xã, các CSDN và các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ trong
công tác khảo sát, quản lý, tổ chức dạy nghề cho người lao động,
nhất là lao động trẻ, lao động nữ nhằm thực hiện có hiệu quả kế
hoạch dạy nghề hằng năm.
3.2.6. Gắn đào tạo nghề với nhu cầu thị trường lao động và doanh
nghiệp
Việc kết nối giữa người học và cơ sở đào tạo là giải pháp có
20
tính then chốt và mang tính tiền đề trong sự phối hợp giữa đào tạo
nghề và sử dụng lao động qua đào tạo
3.2.7. Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các CSDN, các lớp
phương hướng và mục tiêu cơ bản. Ninh Bình cần đẩy mạng tuyên
22
truyền về đào tạo nghề cho mọi đối tượng có liên quan; triển khai rà
soát quy hoạch làm cơ sở trọng tâm cho từng huyện, từng xã. Phát
triển mạng lưới đào tạo nghề và đa dạng hóa các hoạt động dạy nghề.
Đổi mới chương trình đào tạo nghề cho phù hợp với các đối tượng
được đào tạo; đổi mới hoàn thiện các chính sách về đào tạo nghề cho
LĐNT và kết hợp giữa đào tạo và sử dụng lao động sau đào tạo
nghề…là những giải pháp cần thiết và cấp bách.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng còn
không ít vấn đề Ninh Bình cần phải tiếp tục hoàn thiện. Đó là chất
lượng đào tạo nghề LĐNT chưa cao, chưa gắn với nhu cầu của thị
trường lao động. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khả năng
cạnh tranh của LĐNT Ninh Bình còn nhiều hạn chế…
Việc thực hiện những các giải pháp để phát huy những ưu
điểm, khắc phục các nhược điểm trong hoạt động đào tạo nghề cho
LĐNT ở Ninh Bình hiện nay là hết sức cần thiết.Tuy nhiên, chính
sách đào tạo nghề là nội dung rộng và phức tạp, có liên quan đến
nhiều chương trình phát triển KT-XH nên luận văn mới đưa ra những
giải pháp cơ bản. Song nếu các giải pháp được triển khai thực hiện
đồng bộ, trong thời gian tới Ninh Bình sẽ thực hiện tốt hơn nữa công
tác này, góp phần quan trọng vào thực hiện các mục tiêu phát triển
KT-XH của Tỉnh.
23