VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU TRANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Trang
BCĐ:
CN-TTCN:
CNH, HĐH:
CNKT:
CSDNKV
CSVC:
ĐH, CĐ:
GD-ĐT:
QLGD:
GQVL:
GVDN:
KHCN:
KT-XH:
KTNN:
LĐ-TB & XH:
LĐ:
LĐNT:
MTQG:
NN&PTNT:
NNNT:
TCDN:
THCN:
TW:
UBND:
XĐGN:
XHH:
Ban chỉ đạo
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Tên Bảng
2.
Bảng 2.2:
3.
Biểu đồ 2.1:
4.
Biểu đồ 2.2:
5.
Biểu đồ 2.3:
6.
Biểu đồ 2.4:
7.
Sơ đồ 2.1:
8.
Sơ đồ 2.2:
28
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, bối cảnh kinh tế, xã hội thế giới đã có nhiều thay
đổi, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, sự ra đời của
khái niệm “thế giới phẳng” trong kinh tế, sự xuất hiện và ngày càng biểu hiện rõ
hơn những điểm rất đặc trưng của nền kinh tế tri thức. Những chuyển biến đó đã
ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế trong nước, đến quá trình công nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH). Cụ thể hơn là những đòi hỏi tất yếu về sự thay đổi, phát
triển của lực lượng sản xuất: nguồn nhân lực cần phải được đào tạo trình độ
chuyên môn và những kỹ năng ở mức cao hơn bởi có sự cạnh tranh trong môi
trường quốc tế, không chỉ ở lĩnh vực công nghiệp mà cả với nông, lâm và ngư
nghiệp. Từ đó cho thấy chính sách đào tạo nghề là vô cùng cần thiết và cấp bách
hiện nay để đảm bảo nguồn lao động có chất lượng cao nhằm gia tăng hiệu quả
sản xuất và năng lực cạnh tranh trong môi trường quốc tế.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới có tác động rất lớn, nhiều mặt tới tất cả
các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội; vừa tạo ra thời cơ to lớn, vừa đặt ra
những thách thức lớn lao đối với sự phát triển toàn diện của đất nước, trong đó có
nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Quá trình đô thị hóa gia tăng sẽ đẩy một bộ
phận nông dân ra khỏi vùng đất mà họ thường sinh sống (quá trình bần cùng hóa
những người lao động) làm cho đất canh tác bình quân đầu người đã thấp (0,17
ha/người/lao động năm 2010) nay lại còn thấp hơn [21, tr. 5]. Việc chuyển đổi
mục đích sử dụng đất nông nghiệp khiến ngày càng nhiều hộ nông nghiệp bị thu
hẹp diện tích đất sản xuất, nguồn nhân lực trở nên dư thừa và phải chuyển đổi
lao động sang hướng phi nông nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động
này rất thấp, kiến thức nghề ngoài nông nghiệp gần như không có…đã làm cho
về việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện đề án “Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đến năm 2020”
2
Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Hội Nông dân
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó, Hội Nông dân Việt
Nam với vai trò là một tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp nông dân do Đảng
Cộng sản Việt Nam đã tích cực tham gia công tác dạy nghề cho lao động nông
thôn và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ
năng, trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho lao động nông thôn, giúp họ tự tạo việc
làm để phát triển bền vững.
Tuy nhiên, đến nay chưa có cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nào có đề tài
nghên cứu, công trình, báo cáo nào về việc đánh giá chi tiết và kỹ lưỡng về kết
quả của quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ
thực tiễn Hội Nông dân Việt Nam. Qua đánh giá những mặt đạt được và chưa
được trong bối cảnh, tình hình mới để từ đó phân tích và đề ra giải pháp hiệu
quả cho lao động nông thôn của Hội Nông dân Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên
cứu “Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn Hội
Nông dân Việt Nam” là một việc làm cần thiết, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài
liệu tham khảo mang tính khoa học lý luận và thực tiễn, giúp cho các ban, đơn vị
của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trong quá trình xây dựng kế hoạch
hoạt động trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một
trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, trong những năm qua, vấn đề đào tạo
nghề và giải quyết việc làm luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, cụ
thể hóa bằng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và hệ thống pháp luật
PGS.TS Lê Xuân Bá chủ nhiệm.
Một số quan điểm và định hướng về giải pháp tạo việc làm và sử dụng lao
động nông thôn trong điều kiện kinh tế hiện nay của T.S Chu Tiến Quang- Viện
NCQLKTTW.
4
Vai trò của Nhà nước trong việc đào tạo nghề - nhìn từ góc độ kinh tế học
của TS. Đỗ Thị Thu Hằng và Đỗ Thị Kim Thoa.
TS. Nguyễn Tiến Dũng, “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kỳ hội
nhập quốc tế”.
Bùi Thị Thúy, 2005 “Việc làm và chính sách tạo việc làm ở Hải Dương hiện
nay”. Luận văn của Thạc sĩ kinh tế (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động, việc làm. Quan niệm
về việc làm và những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.
Việc làm cho nông dân trong quá trình công nghiệp hóa (CNH)- hiện đại
hóa (HĐH) vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 do tác giả Trần Thị Minh
Ngọc làm chủ biên. Trên cơ sở phân tích đánh giá những thuận lợi, khó khăn
trong giải quyết việc làm cho nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong quá
trình CNH- HĐH, trên cơ sở đó tác giả đề ra phương hướng và một số giải pháp
cụ thể thực hiện có hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân: điều chỉnh
cơ cấu đầu tư, phát triển các ngành kinh tế… nhằm giải quyết việc làm đồng thời
kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về
việc làm cho người lao động.
Nguồn tư liệu và các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý
giá để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài của mình. Tuy nhiên, vẫn chưa có
công trình nào nghiên cứu trực tiếp thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn từ thực tiễn của Hội Nông dân Việt Nam. Trên góc độ chính trị xã hội, tác giả mong muốn tiếp tục làm rõ những thực trạng, hiệu quả đã đạt
được, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng thực
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn Hội Nông dân Việt Nam từ năm 2010
trở lại đây.
6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương
pháp nghiên cứu chính sách công được thực hiện một số phương pháp nghiên
cứu chính sách công cụ thể bao gồm: phương pháp tổng hợp, phương pháp
thống kê, phân tích hệ thống, so sánh dựa trên kết quả thực tế từ đó dự báo xu
hướng phát triển đề ra chính sách trong thời gian tới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng để thu thập, phân tích và
khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu bao
gồm: Các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ
ngành ở Trung ương…tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ
chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vần đề thực hiện chính sách
đào tạo nghề, giáo dục và lao động nông thôn.
- Phương pháp thực tế: Khảo sát, tập hợp dữ liệu, thống kê, phân tích và
tổng hợp dữ liệu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
chính sách đào tạo nghề nói chung, đặc biệt là chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn nói riêng. Đồng thời nghiên cứu cũng góp phần tìm hiểu về mối
quan hệ giữa các quá trình hoạch định và thực hiện chính sách đào tạo nghề và
việc làm trong thực tiễn.
* Khái niệm nghề và đào tạo nghề
- Nghề nghiệp: “Nghề là một hình thức phân công lao động đòi hỏi kiến
thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc
nhất định như nghề lái xe, nghề xây dựng, nghề nông”[4, tr. 105]
- Theo Điều 5 Luật dạy nghề thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu như
sau: “Hoạt động dạy và học nghề trong các cơ sở dạy nghề, lớp dạy nghề nhằm
truyền đạt, trang bị kiến thức về lý thuyết, kỹ năng thực hành và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ
xảo và đạt được những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề đáp
ứng yêu cầu việc làm của thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn
thành khóa học” [22, tr. 3]. Quá trình đào tạo nghề bao gồm hai giai đoạn có
quan hệ mật thiết với nhau:
- Giai đoạn dạy nghề: là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về
lý thuyết và thực hành để các học viên có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo và sự
thành thục nhất định về nghề nghiệp.
- Giai đoạn học nghề: là quá trình học viên tiếp thu những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định.
- Như vậy, đào tạo nghề cho người lao động chính là giáo dục kỹ thuật sản
xuất cho họ để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Hoạt động này bao gồm
03 nội dung: đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung và đào tạo lại nghề và 03
hình thức đào tạo là kèm cặp trong sản xuất, mở lớp cạnh doanh nghiệp, xưởng
sản xuất và đào tạo tại các trường chính quy.
9
* Đào tạo nghề cho lao động nông thôn:
- Lao động nông thôn là một bộ phận trong nguồn lao động xã hội. Lao
động nông thôn bao gồm toàn bộ những người lao động đang làm việc trong nền
kinh tế quốc dân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia
xen lẫn nhau. Cùng một loại cây trồng, vật nuôi ở những điều kiện địa lý, khí
hậu khác nhau sẽ có những quá trình sinh trưởng, phát triển khác nhau. Đặc tính
thời vụ chỉ có thể làm giảm chứ khó có thể xóa bỏ được.
*Ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là một chiến lược quan
trọng đối với phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vốn
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động quốc gia. Qua những khóa đào tạo nghề,
nguồn LĐNT sẽ được trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề cho những
người đã có nghề hoặc một số nghề mới. Từ đó họ có thể gia tăng hiệu quả công
việc, nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh với lao động quốc
tế. Ngoài ra, việc đào tạo nghề cũng mở ra cho LĐNT những cơ hội để biết mình
thực sự phù hợp với nghề nào, từ đó xác định hướng đi đúng đắn cho bản thân.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo thêm việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo và thực
hiện công bằng xã hội. Từ việc được đào tạo nghề, những cơ hội tìm việc làm
cho nguồn LĐNT sẽ ngày càng nhiều hơn. Thực hiện chính sách đào tạo nghề
cho LĐNT chính là nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững, tránh thiếu hụt
nguồn nhân lực có chất lượng khi đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH.
1.1.2. Nội dung cơ bản của Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách công: Bản chất chính sách công nhằm duy trì tình trạng của xã
hội hoặc giải quyết “các vấn đề xã hội”, đáp ứng nhu cầu của người dân, trong
đó “là các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội” theo mục tiêu tổng thể đã
vạch ra từ trước. Do vậy “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính
trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp
11
và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định
tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở
nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản
vay để học nghề;
Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính
sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng
150% thu nhập của hộ nghèo các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề
được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;
Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về
việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách
của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác
của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án
này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do
nguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếp
tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này
nhưng tối đa không quá 03 lần.
1.1.2.2. Chính sách đối với giáo viên, giảng viên
Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản,
phum, sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề
với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2
so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xóa mù
chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc;
Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải
quyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non đến các
cấp học phổ thông;
13
phổ biến và 3 - 4 nghề đặc thù của địa phương; Mức đầu tư tối đa 9 tỷ
đồng/trung tâm.
116 huyện đồng bằng mới thành lập trung tâm dạy nghề năm 2009 được hỗ
trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề với mức 5 tỷ đồng/trung tâm.
09 trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở 09 tỉnh tập trung nhiều làng
nghề truyền thống được hỗ trợ đầu tư xây dựng và thiết bị dạy nghề với mức đầu
tư 25 tỷ đồng/trường;
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề công
lập huyện được đầu tư giai đoạn 2006 – 2009 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu
đảm bảo chất lượng dạy nghề. Mức hỗ trợ 3 tỷ đồng/trung tâm;
Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho 100 trung tâm giáo dục
thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham gia dạy nghề
cho lao động nông thôn. Mức hỗ trợ 1 tỷ đồng/trung tâm;
Các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trường đại
học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã
hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở tư thục; trung tâm giáo dục thường xuyên,
trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung tâm học tập
cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm trường,
doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ … có đủ điều
kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy nghề cho lao động nông
thôn bằng nguồn kinh phí quy định trong Đề án này và được cung cấp chương
trình, giáo trình, học liệu và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề.
Các chính sách quy định trong Đề án này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
sự biến động của giá cả và biến động kinh tế - xã hội hàng năm và từng thời kỳ.
15
1.2. Các giai đoạn của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh
nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ … và các đối
tượng nằm trong nhóm được học nghề bao gồm những đặc điểm sau:
Về mục đích chính sách: Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn trong hoạt động của các trung tâm đào tạo, trường nghề…và các tổ
chức, doanh nghiệp có chức năng đào tạo nghề.
Về chế độ quản lý: Nhà nước là chủ thể quản lý, giám sát việc thực hiện
chính sách, Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị có chức năng đào tạo nghề
và tổ chức đào tạo nghề theo đúng quy định.
1.2.3. Vai trò thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một chính sách có tính
nhân văn sâu sắc, tính xã hội hóa cao, liên quan đến các cấp, các ngành, các tổ
chức chính trị - xã hội cùng tham gia thực hiện. Qua chính sách đã giúp cho
nhiều lao động nông thôn, đặc biệt là lao động là người dân tộc thiểu số có hoàn
cảnh khó khăn có cơ hội học nghề, được tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tạo việc làm, góp phân nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo bền
vững. Chính vì vậy việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước hiện thực hóa chính sách vào đời
sống xã hội.
Thứ nhất: Nếu chính sách đào tạo nghề không được đưa vào thực hiện
rộng rãi trên kháp các vùng, miền nó sẽ trở thành vô nghĩa.
Bất cứ một chính sách nào khi ban hành nếu không được thực hiện sẽ trở
thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa mà còn ảnh hưởng đến
uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước).
Thứ hai: Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn không tiến hành tốt dễ dẫn dến lãng phí ngân sách Nhà nước, nguồn lực xã
hội, nhân lực đào tạo…sự thiếu tin tưởng của nhân dân đối với các chính sách
của Đảng, Nhà nước…
tạo nghề cho lao động nông thôn. Xác định đúng nhu cầu sử dụng lao động sẽ
18
giúp tránh được tình trạng mất cân bằng về nguồn cung giữa các ngành nghề,
tránh được tình trạng nơi thừa, nơi thiếu và việc đào tạo sẽ đảm bảo được việc
làm cho học viên sau khi kết thúc khóa học.
1.2.4.2. Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn
Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn chính là những đòi hỏi và mong
muốn của người lao động nông thôn cần được học nghề. Các nghề đào tạo cho
lao động nông thôn được chia thành hai lĩnh vực chính: lĩnh vực nông nghiệp và
lĩnh vực phi nông nghiệp.
Để đảm bảo thông tin chính xác về hai loại nhu cầu trên nhất thiết cần triển
khai các hoạt động điều tra, khảo sát dưới nhiều hình thức và lĩnh vực trong các
ngành kinh tế, vùng kinh tế và từng địa phương. Ngoài ra cũng cần hết sức lưu ý
khảo sát về đặc điểm và thói quen canh tác của người nông dân ở các vùng miền
khác nhau để xây dựng, lựa chọn các chương trình và phương thức đào tạo phù hợp.
Việc xác định đúng nhu cầu đào tạo nghề của lao động nông thôn giúp các
cơ sở đào tạo có sự chuẩn bị tốt hơn về quy mô, nhân lực, cơ sở vật chất, trang
thiết bị…từ đó nâng cao chất lượng đào tạo, giảm thiểu sự lãng phí về thời gian,
tiền bạc.
1.2.4.2. Xác định ngành nghề đào tạo
Đây là quá trình lựa chọn ngành nghề đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu
về nghề, nhu cầu về đào tạo nghề của lao động nông thôn trong từng vùng, miền.
Để quá trình này có thể thực hiện tốt cần dựa trên kết quả điều tra về nhu cầu sử
dụng LĐNT qua ĐTN và nhu cầu của các đối tượng LĐNT học nghề, trên cơ sở
phân tích các yếu tố về KT – XH, đặc điểm của LĐNT theo từng vùng miền và
từng thời điểm khác nhau để xác định ngành nghề đào tạo của LĐNT, nhằm tạo
cơ hội tìm được việc làm bao gồm cả việc làm tự tạo và việc làm nhận lương,
quá trình sản xuất của doanh nghiệp từ khi còn học và sau khi học nghề xong là
có thể làm việc được ngay với nghề nghiệp của mình.
20