VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 22 tháng 02 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
1.5. Chu trình thực hiện chính sách đào tạo nghề
23
1.6. Các hình thức thực hiện chính sách đào tạo nghề
25
1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào nghề cho lao
động nông thôn.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH NINH BÌNH
2.1. Mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình
2.2. Các nội dung trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn ở tỉnh Ninh Bình
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình
28
33
33
33
54
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH
63
NINH BÌNH.
HTX
Hợp tác xã
KTXH
Kinh tế xã hội
KHCN
Khoa học công nghệ
KCN
Khu công nghiệp
LĐNT
Lao động nông thôn
LĐ-TB & XH
Lao động Thương binh và xã hội
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NS
Số hiệu
bảng
1
Bảng 2.1
2
Bảng 2.2
Dân số trung bình phân theo huyện, thành phố
35
3
Bảng 2.3
Lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế
36
4
Bảng 2.4
5
56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế theo hướng CNH-HĐH đất nước. Chính vì vậy, nguồn nhân lực
đóng vai trò hết sức quan trọng vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực
phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con
người với tổng hòa các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực (những phẩm
chất đạo đức, tinh thần) tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã,
đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến
bộ xã hội [5].
Ngày nay, quan điểm phát triển nguồn nhân lực ngày càng chú trọng tới
nhu cầu của người lao động, khơi dậy tiềm năng của con người, gắn tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bên cạnh đó việc đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực cũng cần phải gắn với nhu cầu lao động của doanh
nghiệp và các cơ quan tổ chức. Như vậy, một trong những điểm quan trọng
trong chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đó là cần
coi trọng chính sách đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay để có được nguồn nhân
lực đạt tiêu chuẩn cả về số lượng và chất lượng trong chiến lược phát triển
nông thôn mới.
Hiện nay cả nước ta có khoảng hơn 16 triệu hộ nông thôn với 38 triệu lao
động chiếm 69% số lao động cả nước. Đây là lực lượng lao động có vai trò
quan trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH đất nước và sự ổn
định chính trị đất nước. Như Đảng ta đã khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH- HĐH, xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT- XH bền vững,
giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy
2
Công văn số 4626/ BNN-KTHT ngày 12/06/2015 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường chỉ đạo triển khai đào tạo nghề
nông nghiệp cho lao động nông thôn
Có thể nói các chủ trương, chính sách về đào tạo nghề cho LĐNT có
tính xã hội và nhân văn sâu sắc, tạo được sự đồng thuận của đông đảo các
tầng lớp nhân dân, đáp ứng được yêu cầu học nghề, tạo việc là ổn định, nâng
cao nguồn lực LĐNT. Các chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời của
Chính phủ, các Bộ/ Ngành đẩy mạnh các tiêu chí đào tạo nghề cho các địa
phương đang xây dựng đề án nông thôn mới.
Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam của Miền Bắc Việt Nam, nằm trên
tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, cách thủ đô Hà Nội hơn 90km. Với
diện tích 1.384km2, dân số gần 950 triệu người, Ninh Bình, thực hiện đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh đã có
nhiều khởi sắc, tạo nên những dấu ấn đáng ghi nhận. Nhằm đẩy mạnh thu hút
đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trong những năm qua
UBND tỉnh Ninh Bình đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương phối
hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tạo môi trường thông thoáng cho
các nhà đầu tư, thực hiện các chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thuế thu nhập
doanh nghiệp, lãi suất vay vốn, sử dụng các tiện ích cộng đồng. Nhờ môi
trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi, Ninh Bình đã thu hút được nhiều nhà đầu
tư trong và ngoài nước, tăng giá trị sản xuất công nghiệp, hàng năm đạt trên 15
ngàn tỷ đồng [28]. Ninh Bình có nhiều khu công nghiệp như KCN Gián Khẩu,
KCN Tam Điệp, KCN Khánh Phú, KCN Khánh Cư, KCN Phúc Sơn với hàng
trăm dự án đầu tư, thu hút một lượng lớn lao động trong và ngoài tỉnh. Ngoài
công nghiệp, Ninh Bình cũng phát triển mạnh về du lịch và nông nghiệp,
chuyển dịch sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo hướng sản xuất hàng
dân không có tay nghề vững vàng. Chính vì lẽ trên, ngay sau khi Nghị quyết
Trung ương VII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, công tác đào tạo
nghề cho LĐNT đã được triển khai ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Ở Việt
4
Nam, về thực trạng đào tạo nghề cho lao động hiện nay có các công trình
nghiên cứu, các bài viết như:
- Năm 2004, PGS.TS Đỗ Minh Cương và TS Mạc Văn Tiến đã xuất bản
cuốn “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”. Cuốn
sách đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và phát triển lao động kỹ
thuật gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động phục vụ CNH, HĐH đất nước. Đây
là cuốn sách có nhiều bổ ích tham khảo cho nghiên cứu về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn Việt Nam nói chung.
- Bài viết của PGS.TS. Đỗ Phú Hải (2014) “ Chính sách việc làm: Thực
trạng và giải pháp” Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam. Bài viết tập trung trình bày những kết quả nghiên cứu về
vấn đề lao động việc làm và các trở ngại chính sách trên cơ sở mục tiêu của
Đại hội Đảng lần thứ XI. Theo đó tác giả đã đưa ra những giải pháp và công
cụ chính sách nhằm cơ cấu lại và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để
phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu
nước mạnh dân chủ công bằng văn minh.
- Nguyễn Hoài Nam, (2015) với “Chính sách việc làm cho lao động nông
thôn trong bối cảnh di dân - Nghiên cứu tại một số tỉnh Bắc Trung bộ”. Luận
án tiến sĩ kinh tế- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án quán triệt đặc
điểm việc làm của LĐNT trong bối cảnh di dân phần lớn là lao động già và trẻ
em, thời gian lao động tăng lên, việc làm đa dạng hơn và phân tích nội dung chính
sách việc làm với năm bộ phận là: chính sách hỗ trợ học nghề; chính sách hỗ trợ
chuyển đổi nghề nghiệp; chính sách hỗ trợ đất đai sản xuất; chính sách hỗ trợ ứng
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho LĐNT tại Ninh Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy
mạnh việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với phạm vi, mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết những
nhiệm vụ chính như sau:
1) Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề và
6
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn.
2) Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
3) Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình, nhằm đáp ứng yêu cầu
mới của phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Về phạm vi thời gian: Giai đoạn 2011- 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội
và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Lý thuyết chính sách công được
áp dụng qua thực tiễn giúp cho hình thành lý luận về chính sách chuyên
ngành đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
trong thời gian tới. Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng
làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu về
các vấn đề liên quan.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn ở tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình.
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết đánh giá nhu cầu đào tạo
-
Khái niệm về nghề và đào tạo nghề:
Cho đến nay có rất nhiều thuật ngữ „nghề” được hiểu và định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau:
Các nhà khoa học ở Nga đưa ra khái niệm: Nghề là một loại hoạt động
lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh
tồn. Ở Anh, khái niệm nghề được quan niệm là công việc chuyên môn đòi hỏi
một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật. Còn ở Đức, khái niệm nghề là hoạt
động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được
nghề được hiểu là “hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến
thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn
thành khóa học hành được một nghề trong xã hội”
Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề
nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống
những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu
cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu
cầu bản thân của người học nghề
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: dạy
nghề là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực
hành để học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành
thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức
10
về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề
nghiệp nhất định.
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: học đi đôi với hành; lấy thực
hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho
người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện, nhằm tạo điều kiện cho người
học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc
học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước.
- Khái niệm về lao động và lao động nông thôn
Theo C. Mác: “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con
những khả năng sáng tạo của con người. Vai trò của người lao động đối với
phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất
quan trọng.
Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt
động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ
chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động
sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể
chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của luật lao động và
những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất trong các
ngành, lĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các
ngành phi nông nghiệp khác, với những công việc phù hợp và trong một thời
gian nhất định họ hoàn thành công việc của mình với kết quả đạt được một
cách tốt nhất.
- Lý thuyết đánh giá nhu cầu đào tạo
Nhu cầu đào tạo là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm
mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc
sống của họ. Nhu cầu đào tạo xuất phát chủ yếu từ nguyện vọng cá nhân
12
nhưng đôi khi cơ quan, tổ chức phải giúp họ nhìn ra nhu cầu này. Đánh giá
nhu cầu đào tạo là quá trình hiểu biết về người học cũng như năng lực của họ
trước khi đào tạo. Đánh giá nhu cầu đào tạo giúp xác định chênh lệch giữa
kiến thức và kỹ năng, thái độ người học đang có với cái họ phải có [2].
Đánh giá nhu cầu đào tạo có ý nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức đào tạo.
Kết quả đánh giá là đầu vào để tổ chức chương trình đào tạo đạt hiệu quả cao.
Trước hết, việc đánh giá nhu cầu đào tạo giúp trả lời câu hỏi có cần đào tạo
không? Đồng thời, cung cấp thông tin để xây dựng chiến lược đào tạo đáp
ứng nhu cầu đào tạo, nhu cầu học của học viên, kích thích sự hứng thú và
người lao động cần có. David Chauldron (1996) sử dụng “phân tích khoảng
cách đào tạo” trong bối cảnh đào tạo do tái cơ cấu doanh nghiệp. Đầu tiên,
doanh nghiệp sẽ để cho nhân viên biết tổ chức đang quan tâm đến vấn đề đào
tạo và phát triển. Doanh nghiệp cũng cần đánh giá nhu cầu mang tính thông
tin của tổ chức. Cụ thể, mỗi vị trí công việc hoạt động như thế nào và cần loại
thông tin gì để vận hành được chức năng của nó. Sự đánh giá trước khi tổ
chức đào tạo để giới thiệu cho người lao động những hiểu biết tốt hơn về vị trí
việc làm của họ. Cuối cùng, doanh nghiệp cũng biết những bộ kỹ năng và
kiến thức nào mà mỗi cá nhân cần để phải xuất sắc ở vị trí của họ. Chương
trình đào tạo sẽ tập trung vào sự thiếu hụt ở lĩnh vực đó (Chauldron, 1996,
dẫn theo Jonathan, 2008)
Khoảng cách
Tương
lai
Hiện tại
Tìm ra khoảng cách để biết được những khoảng nào cần đáp ứng bằng
đào tạo. Dựa trên lý thuyết khoảng cách, tiến trình này có thể chia làm 4
bước:
14
Bước 1) Xác định những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực
hiện tốt công việc hiện tại hoặc công việc sẽ làm trong tương lai,
Bước 2) Xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết mà học
viên đã có,
Bước 3) Xác định nhu cầu đào tạo chung bằng cách xác định sự khác biệt
giữa những kết quả bước (1) và bước (2);
vững đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, giải quyết việc làm
cho người lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực, góp phần vào hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo an
sinh xã hội. Lực lượng LĐNT được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề
nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm của người lao
động đều thông qua công việc và sự truyền dạy của các thế hệ trước. Do vậy,
việc đào tạo, bồi dưỡng nghề cho LĐNT là rất cần thiết.
Đào tạo nguồn nhân lực là chiến lược phát triển quan trọng. Trong những
năm qua, việc đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta đạt được những thành tựu
đáng khích lệ. Nhu cầu đào tạo nghề của người lao động ngày càng cao do
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ và sự
xuất hiện của những ngành, nghề mới. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động là 17,9%; tuy nhiên
có mức chênh lệch giữa thành thị và nông thôn tương ứng là 33,7% và 11,2%
và chênh lệch theo giới tính là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ. Tỷ lệ
nhân lực được đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động
được đào tạo tăng ngày càng tăng (năm 2010 là 5,7%, năm 2012 là 6,4%, sơ
bộ năm 2013 là 6,9%). Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, cơ cấu ngành nghề,
lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương chưa đồng nhất, chưa thực
sự phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động thực tế, gây lãng phí nguồn lực của
Nhà nước và xã hội [8].
Theo số liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, tính đến
hết năm 2015, số lao động đã được đào tạo là 126.248 người, số lao động có
16
việc làm sau đào tạo 124.586 người, chiếm 85,21%. Số lao động được doanh
nghiệp, đơn vị tuyển dụng 5.697 người, lao động được doanh nghiệp bao tiêu
sản phẩm 18.675 người, lao động tự tạo việc làm 102.964, số người thành lập
tổ nhóm sản xuất, HTX, doanh nghiệp 7.172 người.
69,4% số hộ với gần 38 triệu lao động, chiếm 69% số lao động của cả nước,
trong đó lao động làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm
57,9% số lao động cả nước. Mục tiêu của chúng ta là đến năm 2020 giảm
xuống còn 30% số lao động làm nông nghiệp còn lại phải chuyển sang ngành
nghề khác phi nông nghiệp. Gần một phần tư thế kỷ (1986 – 2010) thực hiện
công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta chỉ giảm được 21% (từ 79% năm 1985
còn 51,9% hiện nay). [29]
Vì vậy, Chính phủ đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Cần phải coi đây là công việc thường
xuyên, lâu dài về việc đào tạo chuyển nghề cho LĐNT gắn đào tạo chuyển
nghề với doanh nghiệp. Đào tạo nghề cho LĐNT vừa đáp ứng yêu cầu của
quá trình phân công lao động, của sự phát triển các ngành nghề và đô thị mới,
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển vốn con người, nguồn nhân lực,
tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm
nghèo, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, góp phần phát triển KT-XH bền
vững. Đào tạo nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát
triển KT-XH, nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ lao
động kỹ thuật trực tiếp, phục vụ CNH-HĐH, góp phần bảo đảm an ninh xã
hội đồng thời đáp ứng được quy luật tất yếu đòi hỏi yêu cầu phát triển LĐNT
mới hiện nay.
1.3. Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho LĐNT với các đối tượng đa dạng và có những đặc
điểm đặc thù. Do vậy, đây là hoạt động rất phong phú và phức tạp. Tùy theo
các tiêu chí phân loại có thể phân thành các hình thức đào tạo nghề như sau:
- Đào tạo nghề theo đối tượng:
18
+ Đào tạo nghề cho lao động quản lý: Giám đốc, Đốc công, tổ trưởng
+ Đào tạo nghề cho lao động trực tiếp: Nông dân, thợ thủ công và lao
cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận
bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn.
- Đào tạo nghề xét theo thời gian và kết quả người học đạt được: Có cao
đẳng nghề, trung cấp nghề và bồi dưỡng nghề. Tương ứng với các cấp độ của
dạy nghề đó có bằng cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ nghề.
1.4. Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nội dung đào tạo nghề cho LĐNT được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp.
- Theo nghĩa rộng, nội dung đào tạo nghề gồm đào tạo tay nghề và
những kiến thức tổng hợp, nó bao hàm cả đào tạo văn hóa, đào tạo nghề
nghiệp, đào tạo kiến thức về kinh tế, thị trường, pháp luật, tổ chức cuộc
sống…
- Theo nghĩa hẹp là đào tạo nghề theo chuyên môn của người lao động,
trong đó đào tạo nghề tập trung, đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp
của người lao động
Tuy nhiên theo nghĩa rộng hay hẹp đào tạo nghề cho LĐNT cũng bao
gồm những nội dung chủ yếu như sau:
- Xác định nhu cầu đào tạo nghề trong từng vùng, từng cơ sở đào tạo
nghề: Nhu cầu đào tạo nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề
chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo,
chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tương
ứng. Ngược lại, nhu cầu đào tạo cũng có thể được tính toán từ việc xem xét
các điều kiện vật chất và con người có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu
cầu từ sự phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, xem xét nhu cầu đào tạo nghề phải chú ý tới đối tượng của
hoạt động dạy nghề trong đó kinh phí học nghề là một vấn đề cần quan tâm
khi đối tượng học nghề là các LĐNT có điều kiện sống khó khăn. Nông dân là
những người có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dưới dạng