Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THANH TÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018
1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THANH TÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:
834 04 02


đã nêu cụ thể: “Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên
suốt trong mọi chương trình phát triển KT-XH của cả nước; bảo đảm hài hoà
giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị. Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc
làm cho nông dân, nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất….
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn…. Hình thành CTMT quốc gia về
đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hằng năm đào tạo khoảng 1

3


triệu LĐNT; phấn đấu đến năm 2020 lao động NN còn khoảng 30% lao động
xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”[3, tr.2-3].
Để cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính
sách về đào tạo nghề, trong đó có chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại
Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27-11-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956);
Đề án đã nêu rõ: “Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước,
của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để
phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công
bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT; khuyến khích, huy động
và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT” [43, tr.3].
Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện chính sách, bên cạnh
những kết quả, thành công đạt được thì cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, có
chính sách chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn, việc dạy nghề chủ yếu còn
tập trung ở các đô thị, vùng đồng bằng, vùng trung du; trong khi khu vực
nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa được quan tâm đúng mức, đào
tạo chưa đáp ứng được so với nhu cầu của LLLĐ ở nông thôn; chất lượng
đào tạo nhìn chung còn thấp, quy mô, số lượng đào tạo còn khiêm tốn so với

Giai đoạn 2013- 2017 cùng với những thành tựu đạt được trên lĩnh vực
KT-XH, thì công tác đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có đào tạo nghề cho
LĐNT tỉnh Quảng Nam cũng đạt nhiều kết quả; sau gần 5 năm thực hiện Đề
án kể từ 2013 đến 2017: Tỷ lệ qua đào tạo nghề của tỉnh từ 30% năm 2013 đã
đạt khoảng 55% vào năm 2017, trong đó đào tạo sơ cấp nghề (có cấp chứng
chỉ) từ 3 tháng trở lên đạt 22,5% [38].
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được thì công tác đào tạo nghề cho
LĐNT tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua cũng còn nhiều tồn tại, hạn
chế đó là: Với sự phát triển KT-XH của tỉnh thì nhu cầu nguồn nhân lực, lao
5


động, nhất là lao động qua đào tạo nghề rất lớn và ngày càng tăng; tuy nhiên
với quy mô đào tạo hiện nay thì các cơ sở dạy nghề chưa đáp ứng được, quy
mô đào tạo hàng năm còn nhỏ, mạng lưới cơ sở dạy nghề còn nhiều bất cập,
cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề còn thiếu, nhiều nghề đào tạo chưa đảm bảo
thiết bị tối thiểu theo quy định; đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề còn
thiếu cả về số lượng và chất lượng; công tác kết nối giữa các doanh nghiệp và
cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh để giải quyết việc làm cho người lao động
sau đào tạo thực hiện chưa tốt; trong đào tạo còn tập trung về mặt số lượng,
chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng đào tạo, người học ra trường tay
nghề nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được so với nhu cầu thị trường lao
động (cả về tay nghề và ngành nghề đào tạo). Công tác tuyên truyền, tư vấn
học nghề chưa được thực hiện tốt, dẫn đến một bộ phận người dân, nông dân
chưa nhận thức đúng, đầy đủ về công tác đào tạo nghề; đội ngũ cán bộ chuyên
trách làm công tác dạy nghề ở các địa phương (huyện, xã) chưa được bố trí đầy
đủ và không ổn định, thường xuyên thay đổi nên công tác tham mưu thực hiện
còn gặp nhiều khó khăn; một số chính sách mức hỗ trợ cho LĐNT học nghề
còn thấp, chưa phù hợp với thực tế, điều kiện cụ thể của các địa phương...
Trong thời gian tới để công tác đào tạo nghề cho LĐNT của tỉnh Quảng

trong thời kỳ CNH-HĐH” của tác giả Nguyễn Văn Đại; “Đào tạo nghề cho
LĐNT ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Việt Quân; “Một số giải pháp
đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu
Hoà; “Đào tạo nghề phải gắn với doanh nghiệp”, của Thứ trưởng Bộ Lao
động-TB&XH Lê Quân (Báo Lao động ngày 28/7/2018); “Có nghề nông dân
mới thoát nghèo bền vững”, của Bộ trưởng Bộ Lao động-TB&XH Đào Ngọc
Dung (Báo Dân trí ngày 12/4/2018); “Đào tạo nghề cho nông dân thời kỳ hội
nhập quốc tế”, của Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng
cục Dạy nghề, Bộ Lao động -TB&XH... Những bài báo, công trình nghiên
cứu trên đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác đào tạo
nghề cho LĐNT, thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm, cũng như thực
7


trạng về thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho LĐNT hiện nay.
Các bài báo, công trình này hầu hết đã chỉ ra được các tồn tại, hạn chế
trong công tác đào tạo nghề cho LĐNT như: Công tác đào tạo nghề cho
LĐNT ở nước ta vừa qua chưa được quan tâm đúng mức; nhiều cơ quan, bộ
ngành, nhiều địa phương và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về công tác đào tạo
nghề, trong đo có đào tạo nghề cho LĐNT; xem công tác này chỉ là nhiệm vụ
nhất thời, giai đoạn, chưa phải là công việc thường xuyên, được tổ chức một
cách liên tục và có hệ thống; việc thực hiện còn cầm chừng, chưa có sự vào
cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các địa phương. Ngoài ra, bản thân
người dân và người nông dân nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của
công tác đào tạo nghề dẫn đến thái độ không mặn mà, thậm chí còn thờ ở với
công tác này. Công tác tuyên truyền của các cấp, các ngành, các cơ quan thực
hiện chưa tốt; công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu về đào tạo còn
gặp nhiều khó khăn đã làm cho công tác đào tạo nghề, trong đó có đào tạo
nghề LĐNT thời gian qua chưa thực sự hiệu quả.
Bên cạnh đó, các công trình, bài viết cũng đã nêu lên được thực trạng

thiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác này tại tỉnh Quảng Nam trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Nam. Việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
được xem xét từ góc nhìn công tác xã hội nhằm đánh giá và đề xuất được các
giải pháp để thực hiện hiệu quả các chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, nhóm
đối tượng đang gặp nhiều khó khăn hiện nay tại tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Chủ yếu giai đoạn 2013-2017; tuy nhiên trong quá trình
nghiên cứu có đề cập một số tình hình, kết quả thực hiện giai đoạn 20109


2015, giai đoạn 2016-2020 theo nhiệm kỳ Đại hội Đảng các cấp và chiến lược
phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Nam cũng như của Việt Nam.
Về không gian: Nghiên cứu tập trung trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được viết dựa trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa MácLêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, trong đó có
đào tạo nghề cho LĐNT; trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, công
trình khoa học có liên quan đến nội dung của luận văn này.
Ngoài ra, luận văn còn được viết dựa trên cơ sở các Nghị quyết, chủ
trương, quyết định, các báo cáo tổng kết, điều tra, thống kê, các chính sách...
về đào tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề cho LĐNT của tỉnh Quảng Nam
giai đoạn 2010-2015, giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2030.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau;
phương pháp thu thập thông tin được sử dụng để thu thập, phân tích và khai

số định hướng và giải pháp khả thi nhằm giải quyết việc làm cho LĐNT ở
Quảng Nam trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về chính sách và thể chế chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tại tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Quảng Nam.

11


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỂ CHẾ
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Cơ sở lý luận của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Theo Điều 5, Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 năm 2006 thì “Đào tạo
nghề” được hiểu: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc
làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [34, tr.1].
Như vậy, đào tạo nghề có những đặc trưng cơ bản sau:
- Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là
dạy nghề và học nghề.
+ Dạy nghề: “Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự

khóa X về “nông nghiệp, nông thôn, nông dân” đã nêu rõ quan điểm, định
hướng, mục tiêu của Đảng ta trong chiến lược phát triển đất nước đó là:
“…CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của quá trình CNH-HĐH hoá đất nước. Một trong những giải pháp và nhiệm
vụ quan trọng của Nghị quyết là việc thực hiện đào tạo nghề, giải quyết việc
làm cho LĐNT; với mục tiêu Nghị quyết phấn đấu đến năm 2020 lao động
NN còn khoảng 30% trên tổng lao động xã hội, tỉ lệ LĐNT qua đào tạo đạt
trên 50%, bảo đảm phát triển hài hòa, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các
vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn” [3, tr.2].
Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành
Chương trình hành động tại Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008;
trong đó việc xây dựng CTMT quốc gia về đào tạo nguồn nhân ở nông thôn là
một trong những Chương trình quan trọng của Nghị quyết, với mục tiêu: “Tập
13


trung đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chuyển một bộ phận lao động NN và
dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của LĐNT tăng lên 2,5 lần so
với hiện nay; tập trung xây dựng kế hoạch, đề ra các giải pháp để đào tạo con
em nông dân có đủ trình độ, năng lực để vào làm việc trong các cơ sở sản
xuất công nghiệp, cơ sở dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp; đối với bộ phận nông
dân còn tiếp tục sản xuất NN thì tiến hành đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng
cho họ, để nâng cao trình độ, nắm bắt được kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới;
bên cạnh đó tập trung đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý, các
bộ cơ sở” [14, tr.3].
Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ quan điểm “Đào tạo
nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các ngành, các cấp
và của toàn xã hội nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động nông
thôn, phục vụ cho yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn”; thể hiện các
chính sách về đào tạo nghề LĐNT của Nhà nước, là cơ sở để huy động các

BCH Trung ương Đảng, Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/12/2009 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020,
Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/6/2010 phê
duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 -2020”; đây là chương trình tổng thể về xây dựng nông thôn mới với các
nhiệm vụ, mục tiêu trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh
quốc phòng...; trong đó có việc tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng nông thôn... [44].
Do đó, vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT và chính sách đào tạo nghề cho
LĐNT thực hiện những năm vừa qua cũng như trong thời gian đến là hết sức
cần thiết, nhằm cụ thể hóa những chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà
nước đã ban hành về nội dung này; bên cạnh đó, xuất phát từ thực trạng
LĐNT hiện nay như:
- Số lượng nguồn LĐNT chiếm tỷ trọng lớn, nhưng tỷ lệ qua đào tạo
còn thấp; chất lượng qua đào tạo chưa cao; thu nhập trong sản xuất NN làm ra
15


của lao động ở nông thôn không đủ bù chi phí bỏ ra; thu nhập bình quân đầu
ở nông thôn còn thấp, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn, mức chênh lệch
giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn còn cao…
- Tình trạng thiếu việc làm ở bộ phận LĐNT, nhất là số thanh niên
trong độ tuổi lao động còn phổ biến; hoặc có việc làm nhưng không ổn định;
một số hộ nằm trong diện có ruộng, đất bị nhà nước thu hồi được hưởng số
tiền đền bù theo chính sách quy định; khi đất sản xuất không còn, cơ hội tìm
kiếm việc làm khó khăn, sẽ nảy sinh ra các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu
chè, nghiện hút, chích... dẫn đến các hệ lụy, tình trạng tiêu cực xã hội ở nông
thôn; nên thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm, sẽ góp
phần giải quyết được tình trạng này.
Theo xu thế phát triển, nông thôn sẽ từng bước được đô thị hóa, các

việc làm qua đạo tạo đạt trên 80%...” [43, tr.2]; đến nay việc thực hiện đề án
đã thu được một số kết quả quan trọng.
1.1.6. Nội dung cơ bản của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
1.1.6.1. Xác định nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề và nhu
cầu học nghề của người lao động
Để xác định được nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo và nhu cầu học
nghề của người lao động cần phải triển khai các hoạt động điều tra, khảo sát
nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo trong các ngành kinh tế, vùng
kinh tế và ở từng địa phương một cách khoa học, đầy đủ; đồng thời với việc
nắm thông tin nhu cầu về sử dụng lao động, cần phải khảo sát nhu học nghề
của đối tượng, hơn nữa cũng cần khảo sát đặc điểm và thói quen canh tác, sản
xuất của người nông dân ở các vùng miền khác nhau để có thể có các hình
thức đào tạo phù hợp.
1.1.6.2. Xác định ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn
Dựa trên kết quả điều tra nhu cầu sử dụng LĐNT qua đào tạo nghề và
nhu cầu của các đối tượng LĐNT học nghề, trên cơ sở phân tích các yếu tố về
KT-XH, đặc điểm của LĐNT theo từng vùng miền và từng thời điểm khác
17


nhau để xác định ngành nghề đào tạo cho phù hợp. Xuất phát từ đặc điểm của
người nông dân và lao động ở nông thôn nước ta như tính cần cù, chịu khó,
sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới, giúp ích cho hoạt động của mình..., bên cạnh
đó đặc điểm của LĐNT còn có tính manh mún, tập quán làm việc theo cảm
tính, ý thức tổ chức kỷ luật không cao, trình độ văn hoá thấp...; để phù hợp
với những điều kiện, đặc điểm trên của LĐNT và để công tác tổ chức đào tạo
có hiệu qủa thì một số ngành nghề được xác định trong đào tạo LĐNT bao
gồm: May công nghiệp; Cơ điện nông thôn; Quản lý điện nông thôn; Lắp đặt
điện dân dụng; Kỹ thuật gò, hàn nông thôn; Sửa chữa điện thoại di động; Sửa
chữa xe gắn máy; Kỹ thuật trồng trọt; Kỹ thuật chăn nuôi; Sửa chữa và bảo trì

sách; gắn với các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chính sách (đào tạo
và giải quyết việc làm sau đào tạo).
Do đào tạo nghề cho LĐNT là một đề án, chương trình quốc gia lớn,
cho nên các cấp ủy Đảng, chính quyền từ TW đến địa phương đều tham gia,
với nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo, điều hành, quản lý, thực hiện công tác kiểm
tra, giám sát…Với hình thức tổ chức: UBND các cấp (tỉnh, thành, huyện, thị)
thành lập các Ban chỉ đạo gồm các thành viên của các cơ quan liên quan như:
Văn phòng UBND, Lao động - TB&XH, Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch - Đầu
tư, GD&ĐT, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…; các tổ chức đoàn thể
như: Đoàn Thanh niên, Nông dân, Phụ nữ, Ngân hàng Chính sách Xã hội...
Các cơ quan, đơn vị này cử người tham gia Ban Chỉ đạo; Ban Chỉ đạo hoạt
động, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.
Người lao động tham gia học nghề là chủ thể chính, là đối tượng trực
tiếp tham gia và thụ hưởng chính sách đào tạo nghề của Nhà nước, là nhân tố
quan trọng quyết định sự thành công của công tác đào tạo nghề nên trình độ
văn hóa, sự hiểu biết, nhận thức, ý thức, tâm lý cá nhân, cá tính… của người
lao động đều có ảnh hưởng đến chính sách đào tạo nghề, trong đó có đào tạo
nghề cho LĐNT.

19


1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn
Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
khác nhau, nhưng xem xét trên một số mặt, một số khía cạnh nhất định, thì
chính sách này chịu ảnh hưởng của một số yếu tố chính như sau:
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên các vùng có tác động đến sự phân bố lao động, chất
lượng lao động, từ đó sẽ ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề. Điều kiện tự

yếu tố đào tạo là rất quan trọng và trong thực tế mỗi ngành nghề hoạt động nhu
cầu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề của lao động khác nhau; do đó,
trong quá trình tư vấn cho người lao động tham gia học nghề cũng cần chú ý
đến trình độ, khả năng để người lao động học các nghề nào là phù hợp thì mới
phát huy được khả năng, tay nghề sau đào tạo; bên cạnh đó, chính sách đào tạo
nghề cho các đối tượng cũng khác nhau thì mới mang lại hiệu quả.
1.2.3. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và cơ sở vật chất trong dạy
nghề
Đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn, có kỹ năng, kinh nghiệm và
nhiệt huyết trong dạy nghề, truyền nghề sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng
cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong
dạy nghề được xác định là chủ thể trong quá trình dạy nghề, truyền nghề;
trong quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất giảng dạy; trong
xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ giảng dạy…; do đó, đội ngũ nhà
giáo, cán bộ quản lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất
lượng dạy nghề cũng như sự thành công trong việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề cho LĐNT.
Theo chương trình đào tạo nghề, bên cạnh học lý thuyết thì việc thực
hành rèn luyện tay nghề và rèn luyện kỹ năng cho người học là chủ yếu (thời
gian thực hành chiếm trên 70% chương trình đào tạo) [7]; do đó, cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, nhất là vật tư phôi liệu sử dụng trong
21


quá trình thực hành là những yếu tố, điều kiện cần thiết liên quan đến chất
lượng đào tạo, liên quan đến việc thực hiện thành công các mục tiêu của chính
sách đào tạo nghề đề ra.
1.2.4. Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH ở nước ta có tác
động đến việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên các mặt sau:

giới; do vậy, một mặt phải nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi
thế cạnh tranh, sử dụng nhiều lao động như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản,
may mặc, giày da, đồ nhựa…, mặt khác đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực
có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn. Những ảnh hưởng
về công nghiệp như trên sẽ tác động trực tiếp đến công tác đào nghề và chính
sách đào tạo nghề cho LĐNT.
1.2.5. Hệ thống cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách của Nhà nước các cấp là yếu tố quan trọng nhất, có
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đào tạo nghề, đến việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho LĐNT cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo.
Các chính sách khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo nghề chủ yếu tác
động vào các mặt, những nội dung trọng yếu tạo ra khuôn khổ pháp lý, môi
trường KT-XH, khuyến khích các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động
phát triển dạy nghề. Hệ thống chính sách đồng bộ sẽ là căn cứ, cơ sở pháp lý
quan trọng để tổ chức thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân
lực cho đất nước.
Do đào tạo nghề cần phải có nguồn lực lớn, hiệu quả kinh tế mang lại
phải có thời gian mới thấy được, vì vậy chính sách đào tạo nghề, trong đó có
đào tạo nghề cho LĐNT cần phải có các chính sách đầu tư, xã hội hóa, thu hút
các nguồn bên ngoài (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) một cách rộng rãi, lâu
dài; đồng thời phải có hệ thống văn bản đồng bộ, nhằm tạo hành lang pháp lý,
tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đào tạo nghề phát triển.
Luật Dạy nghề ra đời năm 2006 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho
23


việc ra đời hàng loạt chính sách mới liên quan đến người lao động nói chung và
LĐNT nói riêng; các chính sách liên quan đến công tác dạy nghề, học nghề
cũng được hình thành như: Chính sách đối với giáo viên, giảng viên và cán bộ
quản lý trong các cơ sở dạy nghề; Chính sách đối với người học nghề, trong đó

An quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt.
Thực hiện chính sách Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Nghệ An
được phê duyệt theo lộ trình từ năm 2010 đến năm 2020 nguồn kinh phí hơn
800 tỷ đồng; thời gian triển khai từ tháng 10/2010 đến nay, tuy chưa lâu
nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến huyện, xã, sự vào cuộc của các tổ
chức, đoàn thể nên đã có những kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
Năm 2010, toàn tỉnh có 66.000 lượt người được đào tạo nghề, trong đó
có 5.600 lượt LĐNT được đào tạo theo Đề án 1956. Năm 2011, có 70.000
lượt người tham gia các lớp học nghề; trong đó, kết quả đào tạo nghề theo Đề
án 1956 là 7.980 người với 266 lớp (nông nghiệp: 166 lớp với 4.980 người;
phi nông nghiệp: 100 lớp với 3.000 người). Tỷ lệ lao động nông thôn có việc
làm sau đào tạo nghề là 75%. Với cách làm sáng tạo, tổ chức dạy nghề cho
nông dân thông qua một số mô hình hiệu quả như nuôi lợn siêu nạc tại xã
Thanh Lĩnh, huyện Thanh Chương; Chăn nuôi vịt bầu Quỳ Châu tại huyện
Quế Phong; Trồng rau cao sản ở xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu,... Chăn
nuôi trâu, bò hàng hóa tại xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương đã giúp các
học viên vừa nắm vững được lý thuyết, vừa học tập được kinh nghiệm của các
mô hình hiệu quả. Để triển khai đào tạo nghề cho LĐNT, toàn tỉnh đã huy
động 48 cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trường dạy nghề công lập, các trung
tâm dạy nghề của huyện và các cơ sở ngoài công lập.
Qua 2 năm thực hiện Đề án "Đào tạo nghề cho LĐNT" theo Đề án
1956, Nghệ An đã thực hiện cơ bản các yêu cầu, nhiệm vụ theo Quyết định
của Chính phủ đề ra. Đề án đã góp phần nâng cao chất lượng tay nghề cho
LĐNT, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ tiêu chuẩn phục vụ cho
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; tạo việc làm, chuyển đổi nghề, tăng thu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status