Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ QUỲNH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ QUỲNH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Trần Quang Huy


TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN ........................................................................... 53
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH tự nguyện .... 53
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội
tự nguyện ......................................................................................................... 54
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm xã hội tự
nguyện tại tỉnh Thái Nguyên ........................................................................... 57
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 67


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

NLĐ

: Người lao động

ILO

:Tổ chức lao động quốc tế


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người cả về vật chất
và tinh thần càng đa dạng và phong phú, những khả năng rủi ro xã hội có
chiều hướng gia tăng. Do đó nhu cầu về bảo hiểm an toàn cho cá nhân cũng
tăng lên. Chính vì vậy, việc tiếp cận tới mạng lưới an sinh xã hội thông qua
việc tham gia BHXH tự nguyện là nhu cầu cấp bách đối với những người lao
động. Có thể nói, BHXH tự nguyện là một chính sách mới mang đầy tính
nhân văn xã hội, mở ra cơ hội cho người lao động gia nhập vào mạng lưới an
sinh xã hội giúp cho người dân giảm bớt gánh nặng khi tuổi già, tử tuất. Ở
nước ta, việc phát triển hệ thống BHXH, xây dựng loại hình BHXH tự nguyện
được xác định là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển hệ thống an
sinh xã hội. Tuy nhiên, từ khi Luật Bảo hiểm xã hội ra đời và có hiệu lực năm
2007, trong đó riêng BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008 cho đến
nay là Luật Bảo hiểm xã hội 2014, số người tham gia BHXH tự nguyện vẫn
còn rất thấp chưa đáp ứng được yêu cầu như định hướng của Đảng, Nhà nước.
Nguyên nhân được nêu là do NLĐ chưa xem BHXH là một nhu cầu cấp thiết
trong cuộc sống. NLĐ có thu nhập thấp, chưa quen với việc tích lũy, tiết kiệm,
dự phòng cho tương lai. Điều kiện về thời gian được hưởng chế độ khi tham
gia BHXH tự nguyện dài, công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động nhân dân
tham gia BHXH tự nguyện chưa phát huy tối đa hiệu quả.
Trong vài năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có bước phát triển đột phá
trong phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên sự phát triển lại chưa đồng đều, chủ
yếu tập trung ở 2 thành phố và thị xã nơi có nhiều khu công nghiệp, một số
huyện vùng núi còn gặp nhiều khó khăn, người dân có thu nhập còn thấp.
Việc thực hiện BHXH cho NLĐ trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt
là phát triển BHXH tự nguyện, chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Pháp
1



nguyện tại thành phố Đà Nẵng của tác giả Phan Võ Thị Hạnh Thủy, năm
2015; “Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” của
Võ Lan Anh, năm 2015.
Ngoài ra còn có các bài báo như: “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định
tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh
Phú Yên” của tác giả Trương Thị Phương – Nguyễn Thị Hiền, tạp chí Khoa
học – Công nghệ thủy sản; “nâng cao hiệu quả phát triển bảo hiểm xã hội tự
nguyện – bảo hiểm y tế hộ gia đình”, tạp chí bảo hiểm xã hội; “Giảm mức
bảo hiểm xã hội tự nguyện: tín hiệu tốt cho người nghèo” của tác giả Nguyễn
Hạnh, Báo công thương online; “Một số giải pháp nhằm triển khai tốt hơn
Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Bảo hiểm xã hội quận Đống Đa, TP Hà Nội”,
Đại học Lao động – xã hội online.
Các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên đã góp phần tạo ra những
cơ sở lý luận và chỉ ra được những vấn đề thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp
luật bảo hiểm tự nguyện. Tuy vậy, các công trình này khi nghiên cứu chưa
làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Thái
Nguyên trong những năm gần đây. Do vậy, luận văn tập trung nghiên cứu và
làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện và tình
hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để từ
đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của Luật bảo hiểm
xã hội tự nguyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ một số vấn đề lý
luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện, các quy định pháp luật liên quan và thực
tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đề xuất một số kiến nghị

3



chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội; về hiệu quả hoạt
động của cơ quan, Nhà nước về bảo hiểm xã hội làm phương pháp luận
nghiên cứu đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng trong một tổng thể phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, logic, thống kê… khai thác thông tin từ văn bản pháp luật của
Nhà nước, thu thập thông tin trên mạng internet, một số sách, báo, tạp chí và
công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
ở Chương 2 khi nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực
tiễn thi hành tại tỉnh Thái Nguyên.
- Luận văn còn sử dụng trong một tổng thể phương pháp phân tích,
đánh giá, tổng hợp kết hợp với phương pháp định tính, phương pháp điều tra
qua bảng hỏi gửi tới những đối tượng là các nhà quản lý và công chức tại các
cơ quan làm công tác bảo hiểm xã hội ở Chương 3 khi đưa ra một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã
hội tự nguyện tại tỉnh Thái Nguyên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ
quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về bảo hiểm
xã hội tự nguyện, đặc biệt là các cơ quan bảo hiểm xã hội, các đơn vị tham gia
bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong
công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất cứ ai quan tâm
đến các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề xung quanh các quy định
của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện, tìm hiểu thực trạng trên địa bàn tỉnh
5

tượng, tài chính phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, các chế độ bảo hiểm xã
hội còn đan xen với nhiều chính sách chế độ khác như: ưu đãi xã hội, kế
hoạch hóa dân số… Hiện nay BHXH Việt Nam đã được cải cách và ngày
càng phát huy vai trò của mình đối với đời sống NLĐ. Đối tượng bảo hiểm xã
hội đã được mở rộng tới mọi NLĐ với hai hình thức tham gia bắt buộc và tự
nguyện. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà
nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích NLĐ tự nguyện tham
gia, nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho chính bản thân NLĐ và gia
đình họ khi bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập như tuổi già, tử tuất… đồng
thời đóng góp phần đảm bảo công bằng và an sinh xã hội.

7


BHXH tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội được xây dựng trên cơ
sở tự nguyện của NLĐ với tư cách là người tham gia cũng như người thụ
hưởng. Giữa loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện và loại hình bảo hiểm xã
hội bắt buộc có những điểm giống nhau về mục tiêu, bản chất, mục đích hoạt
động, sự hình thành và sử dụng quỹ. Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội tự nguyện có
những điểm khác so với bảo hiểm xã hội bắt buộc đó là mối quan hệ lao động
của những người tham gia bảo hiểm xã hội ở hai loại hình này. Trong những
năm qua, cùng với BHXH bắt buộc, việc triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện
đã phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ NLĐ khi gặp những khó khăn, biến cố
trong cuộc sống, trên cơ sở những đóng góp của NLĐ trước khi xảy ra những
rủi ro đó.
Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện không phải là một khái niệm mới,
nó được hình thành và sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Từ điển
Tiếng Việt: “Tự nguyện là theo yêu cầu, đề nghị của chính mình, xuất phát từ
ý muốn của bản thân”. [22]
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Bảo hiểm xã hội tự

Có thể thấy, chủ thể tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện là
Nhà nước thông qua cơ chế đại diện là các cơ quan bảo hiểm xã hội ở các cấp.
Bên cạnh việc giữ nguyên quyền được chọn mức và phương thức đóng phù
hợp với thu nhập của người tham gia thì định nghĩa về bảo hiểm xã hội tự
nguyện theo Luật năm 2014 còn đề cập đến chính sách hộ trợ của Nhà nước
nhằm khuyến khích thêm nhiều các đối tượng khác trong xã hội tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện, đồng thời thể hiện đây là một chính sách BHXH có ý
nghĩa nhân văn sâu sắc của Nhà nước nhằm tạo cơ hội cho người tham gia
đều có thể được hưởng hai chế độ (hưu trí và tử tuất) của bảo hiểm xã hội tự
nguyện.
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội tự nguyện
9


BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH, do đó mang đầy đủ các đặc
điểm của bảo hiểm xã hội nói chung. Xuất phát từ bản chất của bảo hiểm xã
hội là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự
kiện bảo hiểm (sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và
sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia
bảo hiểm xã hội và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ bảo hiểm xã hội;
Nhằm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động
không được sử dụng; Nhằm góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho NLĐ và
gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội), có thể thấy bảo
hiểm xã hội nói chung có một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, NLĐ khi tham gia bảo hiểm xã hội được đảm bảo thu nhập
(bảo hiểm) cả trong và sau quá trình lao động. Nói cách khác, khi tham gia
vào quan hệ bảo hiểm xã hội và đảm bảo các điều kiện luật định, NLĐ được
bảo hiểm cho tới lúc chết.
Thứ hai, các sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm xã hội tự nguyện liên

BHXH là trụ cột chính, là xương sống trong hệ thống an sinh xã hội, đã
đem lại chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống của NLĐ, góp phần đảm bảo an
toàn xã hội. Vì vậy, cùng với các loại hình BHXH khác, BHXH tự nguyện có
vai trò quan trọng đối với NLĐ cũng như sự phát triển bền vững của xã hội
nói chung. Từ đó bảo hiểm xã hội tự nguyện có một số vai trò nổi bật như
sau:
Thứ nhất, BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng đối với NLĐ. Do đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là những NLĐ tự do, hầu như
không có quan hệ lao động với người sử dụng lao động, thu nhập thường
không ổn định như: nông dân, người kinh doanh, buôn bán tự do…
11


Thứ hai, việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn giúp NLĐ có ý
thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự
phòng cần thiết chỉ dùng khi già yếu, mất sức lao động, góp phần ổn định
cuộc sống cho bản thân và gia đình. BHXH tự nguyện có vai trò phân phối, sử
dụng hiệu quả nguồn quỹ dự phòng, tạo cơ chế chia sẻ, nhằm giảm bớt những
rủi ro, góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản
xuất và đời sống xã hội và tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội. Quỹ bảo
hiểm xã hội tự nguyện được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ và từ sự hỗ
trợ của Nhà nước để chi trả các chế độ cho người tham gia. Quỹ bảo hiểm xã
hội phát triển sẽ góp phần tạo nguồn lực tài chính, cung ứng vốn cho việc đầu
tư phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện góp phần
ổn định tài chính tiền tệ quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Thứ ba, bảo hiểm xã hội tự nguyện tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng
cao tính cộng đồng xã hội, cùng truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành
phần trong xã hội và góp phần thực hiện công bằng xã hội, phân phối lại thu
nhập xã hội trên cơ sở sự tương trợ để thiết lập hệ thống an sinh xã hội bền
vững. Ở các nước phát triển và đang phát triển, trong điều kiện kinh tế thị

xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của người tham gia, bằng cách đóng
góp một phần thu nhập của mình để được hưởng chế độ bảo hiểm nhằm giảm
bớt những rủi ro, biến cố của người tham gia như mất việc làm, ốm đau, tai
nạn, tử tuất...
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006:
“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp
với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì
BHXH tự nguyện được định nghĩa: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình
13


bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức
đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có
chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ
hưu trí và tử tuất”. So với định nghĩa được đưa ra tại Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2006 thì Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã có nhiều nét cụ thể và rõ
ràng hơn như: do Nhà nước tổ chức và hỗ trợ người tham gia khi đóng bảo
hiểm xã hội tự nguyện.
Qua khái niệm này, có thể thấy NLĐ tự nguyện tham gia hoặc không
tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với khả
năng kinh tế và thu nhập của mình, điều này đã tạo điều kiện cho người tham
gia có thể cân đối nguồn tài chính trong gia đình để lựa chọn mức đóng phù
hợp và có điều kiện để tham gia BHXH tự nguyện nhằm giảm bớt những rủi
ro khi xảy ra cho bản thân và gia đình. Nhà nước đã đề ra các quy định về
mức đóng, quy định các chế độ của bảo hiểm xã hội tự nguyện, điều kiện để
hưởng và mức hưởng để đảm bảo bù đắp những rủi ro cho người tham gia
BHXH tự nguyện. Như vậy, Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một công cụ bảo
đảm tối thiểu để người lao động duy trì và tái tạo khả năng lao động mà

hợp lý của toàn hệ thống, nhằm đảm bảo cân đối, hài hoà lợi ích của các chủ
thể trong quan hệ bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đa phần NLĐ có nhu cầu thiết
yếu về bảo hiểm xã hội. Song nhu cầu đó phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa
lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ BHXH. Trong bảo hiểm xã hội tự
nguyện, tính linh hoạt được thể hiện rõ nét nhất ở quy định về mức đóng,
phương thức đóng và mức hưởng bảo hiểm. NLĐ khi tham gia BHXH tự
nguyện thường có quan hệ lao động không ổn định. Hằng tháng, NLĐ có thể
làm nhiều công việc khác nhau, ở nhiều nơi khác nhau, với nhiều chủ sử dụng
lao động, do đó mức thu nhập giữa các tháng cũng khác nhau. NLĐ khi sử
dụng thu nhập của mình, trước hết họ dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh
15


sống hằng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại họ xem xét để đóng phí
BHXH tự nguyện. Phương thức đóng cũng cần phải linh hoạt để NLĐ có thể
đóng bảo hiểm hằng tháng, hằng quý, hoặc sáu tháng một lần, thậm chí một
năm một lần. Tuy nhiên, mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở
mức thu nhập do NLĐ lựa chọn, nhưng mức thu nhập này theo quy định của
pháp luật Việt Nam thì mức đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của
khu vực nông thôn (trước đây là mức lương tối thiểu chung) và cao nhất
không quá 20 lần mức lương cơ sở (trước đây mức là 20 lần mức lương tối
thiểu chung). Việc quy định mức thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu
vực nông thôn và mức cao nhất bằng hai mươi lần lương cơ sở nhằm tạo sự
cân đối lợi ích của các chủ thể trong quan hệ BHXH tự nguyện. NLĐ đóng
bảo hiểm xã hội ở mức thấp thì đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp;
muốn được hưởng trợ cấp BHXH cao, điều đương nhiên NLĐ sẽ phải đóng
phí cao hơn. Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội đóng phí bảo hiểm xã hội
thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến an toàn của quỹ bảo
hiểm xã hội và tính lâu dài của chính sách BHXH sẽ không có khả năng thực
thi. Hiện nay nước ta đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, Nhà nước cần

1.2.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của quốc gia
như các chính sách về an sinh xã hội và các chính sách xã hội. Trong hệ thống
an sinh xã hội của một quốc gia thường bao gồm các chính sách về bảo hiểm
xã hội, trợ giúp xã hội, trợ cấp gia đình, các quỹ tiết kiệm xã hội, các dịch vụ
xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng… Trong đó, bảo hiểm xã
hội là một trụ cột cơ bản nhất và có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận
khác, nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội đất nước. Việc thực hiện chính
sách BHXH còn chịu tác động của nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, khả năng tài chính, các yếu tố về cơ chế, chính sách,
17


thể chế, pháp luật và trình độ nhận thức của người dân. Chính sách bảo hiểm
xã hội có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách xã hội khác như chính sách
dân số, chính sách lao động - việc làm, chính sách chăm sóc sức khỏe dân
cư… Khi dân số tăng hoặc giảm sẽ làm cho cơ cấu dân số thay đổi. Điều này
sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu, quy mô của đối tượng tham gia BHXH.
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện về nguyên tắc là mọi
NLĐ có nhu cầu tham gia, về cơ bản là mọi đối tượng lao động là công dân,
đang trong độ tuổi lao động. Có thể không hoạt động kinh tế như: người làm
nội trợ trong gia đình hoặc đang tham gia hoạt động kinh tế trong các lĩnh
vực, ngành nghề như: lao động tự do, lao động nông thôn… có nhu cầu và có
khả năng tham gia BHXH tự nguyện
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là người đóng góp phí
bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác để được BHXH.
Đối tượng chủ yếu đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện là NLĐ.
Người sử dụng lao động không đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện,
đây là điểm khác biệt so với BHXH bắt buộc có sự tham gia của phía người
sử dụng lao động.

với thu nhập và khả năng của đa số NLĐ nhằm thu hút nhiều đối tượng lao
động tham gia và đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH tự
nguyện.
Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện có vai trò quan trọng trong việc
cân đối thu chi để đảm bảo tổ chức và hoạt động quỹ BHXH tự nguyện. Mức
đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được xây dựng dựa trên cơ sở đáp ứng được
các nhu cầu trợ cấp bảo hiểm xã hội trong hiện tại và tương lai; đồng thời phải
phù hợp với mức sống và điều kiện thu nhập của số đông NLĐ trong từng
thời kì phát triển của đất nước.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status