Pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI - TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60 38 01 02

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI, NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn “Pháp luật về bảo hiểm xã hội – từ thực tiễn
thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu khoa học
do tôi thực hiện. Số liệu trung thực, có trích dẫn rõ ràng và kết quả
nghiên cứu chưa từng được công bố.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2017
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nhung


BHTN

: Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

ĐVSDLĐ

: Đơn vị sử dụng lao động

NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động


MỤC LỤC
LỜI

Ở Đ U ................................................................................................... 0

xã hội ............................................................................................................... 53
2.3 Đánh giá chung ......................................................................................... 54


2.3.1 ết quả đạt được .................................................................................... 54
2.3.2 Tồn tại, hạn chế ...................................................................................... 57
2.3.3 Nguyên nhân của những m t hạn chế ................................................... 63
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 66
Chương 3. PHƯ NG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂ

XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH

THÁI NGUYÊN ............................................................................................. 67
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội .......................... 67
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thị xã Sông
Công ................................................................................................................ 71
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ..................... 71
3.2.2 Nhóm giải pháp khác ............................................................................. 82
Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................... 87
ẾT LUẬN ..................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THA

HẢO ............................................................................... 90


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số đơn vị tham gia BHXHBB trên địa bàn thị xã Sông Công giai
đoạn 2012-2016 ............................................................................................... 36



DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sự gia tăng số lượng đơn vị tham gia BHXH giai đoạn 2012-2016
......................................................................................................................... 37
Hình 2.2: Sự gia tăng số lao động tham gia BHXHBB giai đoạn 2012- 2016
......................................................................................................................... 39
Hình 2.3 ết quả thu BHXH tại thị xã Sông Công giai đoạn 2012-2016 ...... 50


LỜI MỞ Đ U

1. Lý do chọn đề tài luận văn
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm
bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi g p rủi ro
như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao
động, qua đời. Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời
gian vừa qua, chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phù
hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của
người lao động góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn
định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước,
bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi BHXH là bộ
phận chính cấu thành hệ thống An sinh xã hội (ASXH), là chính sách xã
hội quan trọng của mỗi nước. Tuy nhiên, rất khó có một khái niệm chung
về BHXH được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về
vấn đề này như thế nào phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của Nhà
nước, của tập quán lựa chọn và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro...

triển đối tượng tham gia BHXH, nhất là khu vực dân doanh c n quá thấp,
chưa đáp ứng yêu cầu và tương xứng với tiềm năng của tỉnh; công tác phối
hợp giữa BHXH với các cơ quan chức năng trong việc thực hiện chính
sách BHXH theo quy định của Luật BHXH c n nhiều bất cập; chế tài xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH c n quá nhẹ, tính cưỡng
chế của pháp luật chưa nghiêm; mức phạt lãi chậm nộp BHXH thấp so với
lãi suất ngân hàng, nên tình trạng chậm đóng, nợ đọng, tham gia không đầy
đủ, ho c không tham gia BHXH đang xảy ra; nhận thức của một số chủ sử
dụng lao động (SDLĐ) về chính sách, pháp luật BHXH c n hạn chế, trách
nhiệm xã hội chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật thấp, vì lợi nhuận chủ
SDLĐ cố tình trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ, không ký kết
hợp đồng lao động ho c chỉ ký hợp đồng dưới 3 tháng (để lách luật), NLĐ
thì do áp lực thu nhập, việc làm nên ngại đấu tranh; công tác tuyên truyền,
2


phổ biến chính sách pháp luật BHXH chưa thực sự đi vào chiều sâu, thiếu
tính đồng bộ giữa các ngành, nên một bộ phận NLĐ, nhân dân chưa hiểu
được bản chất tốt đẹp, tính cộng đồng, nhân đạo và nhân văn cao cả của
chính sách BHXH, do đó chưa tích cực tham gia BHXH.
Thái Nguyên là một tỉnh có thế mạnh thu hút đầu tư về công nghiệp
và giáo dục, công tác BHXH trong thời gian qua được quan tâm và ưu tiên
đ c biệt. Vai tr của pháp luật về BHXH trong đó có hoạt động thu chi,
đảm bảo chính sách cho đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng trưởng
khá. Tuy nhiên so với yêu cầu đổi mới, BHXH chưa khai thác hết tiềm
năng và thế mạnh. Đ c biệt từ khi có Quyết định 20/TTg/2002 của Thủ
tướng Chính Phủ về việc sát nhập Bảo hiểm Y tế vào BHXH, m c dù đối
tượng phát triển ngày một tăng nhưng nhiều vấn đề phát sinh bên cạnh đó
gây bức xúc trong đời sống xã hội.
Xuất phát từ những lý do nêu trên em đã chọn đề tài “Pháp luật về

- Đỗ

inh Cương,

ạc Văn Tiến: “Góp phần đổi mới và hoàn thiện

chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay”, sách tham khảo, NXB
Chính trị Quốc gia, năm 1996. Tác giả phân tích những bất cập, tồn tại của
chính sách bảo hiểm xã hội so với tốc độ phát triển kinh tế ở nước ta và đề
xuất những giải pháp góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo hiểm
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm Duy Đỉnh: Nghiên cứu “Dịch vụ BHXH Hà Nội”. Luận văn
thạc sỹ kinh tế, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

inh, năm 2006.

Luận văn nêu rõ dịch vụ BHXH là một loại hình dịch vụ đ c thù. Những
thành công phát triển dịch vụ BHXH của Hà Nội và đề xuất giải pháp mở
rộng dịch vụ trong giai đoạn đến 2010.
- Trần Quang Lâm: “Bảo hiểm Y tế trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học Viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí

inh, năm 2006. Luận văn nêu BHXH Việt Nam, chương

trình phát triển ngành BHXH Việt Nam đến 2010. Chương trình đề cập
mục tiêu, quy hoạch và phương hướng phát triển ngành BHXH Việt Nam
trên cơ sở phân tích dự báo xu hướng phát triển trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và gia nhập WTO.
- Nguyễn Văn

vừa qua làm cơ sở, từ đó đánh giá nhằm thực hiện tốt pháp luật về BHXH
đối với mọi người dân trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế.
3. Mục đ ch và nhiệm vụ của đề tài luận văn
- Mục đích:
Tìm hiểu cơ sở lý luận pháp luật về BHXH cũng như thực trạng của
pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, chỉ
ra những m t tồn tại, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất các quan
điểm, giải pháp phù hợp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về
bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, phục vụ tốt hơn quyền lợi bảo hiểm xã
hội cho người lao động trong tỉnh.

5


- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ thực hiện nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về bảo hiểm xã hội;
trên cơ sở đó nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về vai trò, chủ
thể, nội dung của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng của pháp luật về bảo hiểm xã hội
tại thị xã Sông Công. Trong quá trình nghiên cứu chỉ rõ những ưu điểm,
hạn chế của pháp luật về bảo hiểm xã hội trong thực tiễn.
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp luật
về bảo hiểm xã hội; các giải pháp, kiến nghị đó sẽ nhằm hoàn thiện pháp
về bảo hiểm xã hội hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quy định pháp luật
về bảo hiểm xã hội hiện hành và đánh giá thực trạng pháp luật từ thực tiễn

cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về bảo
hiểm xã hội, đ c biệt là các cơ quan bảo hiểm xã hội, các đơn vị tham gia
bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Đây là đề tài nghiên cứu việc thực hiện một chính sách xã hội lớn
của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên, nhìn dưới góc độ BHXH là
một bộ phận của hệ thống tài chính phục vụ người lao động trong các
thành phần kinh tế. Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham
khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có bố cục gồm: 3 phần
Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thị xã Sông Công,
tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm
xã hội từ thực tiễn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

7


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về

ảo hiểm ã h i

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, đáp ứng
nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho mỗi quốc
gia và hội nhập quốc tế. Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo

Ở nước ta, BHXH có từ thời kỳ phong kiến Pháp thuộc. Xét về m t lịch
sử, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số chế độ được
áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp
dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy hành chính, quân
đội của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng h a ra đời, tại văn bản
pháp luật cao nhất đó có những quy định về BHXH, thể hiện sự quan tâm và
nhận thức của Nhà nước về vấn đề này. Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy
định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì
được giúp đỡ…”. Sau đó, các sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh số
76-SL ngày 20/5/1950, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 ở các mức độ khác
nhau quy định về quyền hưởng BHXH của NLĐ thông qua các chế độ cụ thể.
Song về tình hình chính trị - xã hội phức tạp khi đó cũng như những khó khăn
về quỹ, về đối tượng tham gia và hưởng BHXH… mà pháp luật BHXH chưa
được áp dụng theo nghĩa đầy đủ về m t nội dung pháp lý cũng như xã hội của nó.
Trên cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập
WTO về chính sách an sinh xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về
điều kiện kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu của đời sống xã hội, ngày
20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2016.
Đến nay, BHXH trở thành nền tảng cơ bản của mỗi quốc gia, được thực
hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển.

hái niệm

BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất và được sử dụng trong toàn bộ
nghiên cứu của luận văn là khái niệm BHXH đã được ghi trong Luật BHXH
được Quốc hội nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp
thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự
bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề

nước định ra các “chính sách xã hội”, cùng với các chính sách kinh tế, chính
sách văn hóa, an ninh quốc ph ng. Đồng thời, Nhà nước ban hành hệ thống
pháp luật bảo hiểm xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy. Để thực

11


thi có hiệu quả các văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập hệ thống các cơ
quan chức năng về bảo hiểm xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện
các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hôi của các cơ quan này.
BHXH mang tính xã hội rộng rãi, trên nguyên tắc lấy số nhiều bù số ít.
Đ c điểm “hưởng thụ theo đóng góp” trong luật bảo hiểm xã hội chính là sự
cụ thể hóa “công bằng xã hội” bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống. Điều
này là cần thiết, bởi vì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì
hưởng thụ tương ứng với đóng góp, vẫn là một điều không thể tranh khỏi.
Tuy nhiên, “hưởng thụ theo đóng góp” trong bảo hiểm xã hội không hoàn
toàn giống nhau như áp dụng “phân phối theo lao động” trong luật lao động.
Đ c điểm này thường được áp dụng trong việc thực hiện trợ cấp bảo hiểm xã
hội đối với người lao động, cũng như ưu đãi người có công. Ở đây, mức trợ
cấp cho các đối tượng căn cứ vào mức độ, thời gian đóng góp của họ vào quỹ
trợ cấp (đối với bảo hiểm xã hội) ho c mức độ, thời gian cống hiến, hy sinh
của họ (đối với ưu đãi xã hội).
BHXH có chế độ trợ cấp đa dạng, toàn diện, ổn định. Các nguyên nhân
gây ra rủi ro rất nhiều nên nhu cầu bảo hiểm xã hội của các thành viên trong
xã hội cũng rất đa dạng. Vì vậy, để đáp ứng được các nhu cầu ấy, các hoạt
động bảo hiểm xã hội cũng phải được đa dạng hóa. Nghĩa là cần đảm bảo sao
cho các chế độ bảo hiểm xã hội phải thực sự là “tấm lá chắn”, là “lưới an
toàn” của xã hội. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dù sao các chế độ trợ giúp,
các mức trợ cấp cũng phải trên cơ sở nhu cầu thực tế và không thể thoát ly
được khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.

Thứ ba, pháp luật về BHXH tạo điều kiện để người sử dụng lao động
thể hiện trách nhiệm đối với người lao động.

c dù người lao động không

thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng người sử dụng lao động có
trách nhiệm gián tiếp trong việc trả lương đúng kỳ cho người lao động để
người lao động tham gia BHXH tự nguyện.

13


Thứ tư, pháp luật về BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, là
công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH tự nguyện,
nhờ đó tạo sự công bằng giữa những người tham gia BHXH bắt buộc và
những người lao động tự do, tự hành nghề tham gia BHXH tự nguyện.
1.2 Chủ thể, n i dung pháp luật về ảo hiểm ã h i
1.2.1 Chủ thể pháp luật về bảo hiểm xã hội
Nói đến chủ thể pháp luật là nói đến cá nhân ho c tổ chức mà theo quy
định của pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lý và có khả năng trực tiếp
ho c thông qua người đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó.
Các chủ thể thực hiện pháp luật phải có năng lực chủ thể và chịu trách nhiệm
về hành vi của mình.
Trong quan hệ về BHXH, các bên (thành viên, chủ thể) tham gia pháp
luật về BHXH gồm có: bên thực hiện BHXH, bên tham gia BHXH, bên được
BHXH.
Bên thực hiện BHXH là cơ quan, đơn vị ho c tổ chức thực hiện chức
năng thu, quản lý và chi trả bảo hiểm cho người được BHXH theo quy định
của pháp luật. Nếu xét trong phạm vi chủ thể của một quan hệ BHXH nói
chung, c n có thể gọi bên thực hiện BHXH là bên nhận BHXH.

Ở nước ta hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện:
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ bắt buộc
phải tham gia. [26].
BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia,
được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của
mình để hưởng BHXH [26].
Thực tế cho thấy, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện vẫn có
một vài điểm khác nhau: Đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng
và hưởng giữa hai hình thức tham gia.
15


Trong hệ thống Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay có tất cả 6 loại
chế độ trợ cấp đó là:
BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: (1) Ốm đau; (2) Thai sản;
(3) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (4) Hưu trí; (5) Tử tuất.
BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: (1) Hưu trí; (2) Tử tuất.
BHTN bao gồm các chế độ sau đây: (1) Trợ cấp thất nghiệp; (2) Hỗ trợ học
nghề; (3) Hỗ trợ tìm việc làm.
- Chế độ ốm đau
Quy định hưởng bảo hiểm ốm đau của người lao động mắc các bệnh
thông thường theo quy định hiện hành tối đa 30 ngày nếu đóng bảo hiểm xã
hội dưới 15 năm, tối đa 40 ngày nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến
dưới 30 năm và tối ta 60 ngày nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên.
Quy định khoảng cách thời gian đóng bảo hiểm xã hội giữa hai mức hưởng
quá lớn nên tạo nên sự không công bằng, không thể hiện nguyên tắc đóng
hưởng và không khuyến khích được đối với những người có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội nhiều hơn.
Bảo hiểm ốm đau là một trong năm chế độ BHXH bắt buộc, nhằm bảo

sinh con được hưởng chế độ thai sản khi NLĐ đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng
trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, quy định này là tích cực
nhằm khắc phục sự lạm dụng chế độ này. Tuy nhiên, quy định này lại không
hợp lý với các trường hợp NLĐ đã có quá trình đóng BHXH dài, song vì lý
do khó mang thai, thai bệnh lý, thai không bình thường nên phải nghỉ việc
ngay khi mang thai. Do vậy NLĐ không đủ điều kiện đóng BHXH đủ 6 tháng
trong v ng 12 tháng trước khi sinh để được hưởng chế độ thai sản. Trong
trường hợp này là không công bằng và không đảm bảo quyền lợi của NLĐ vì
họ đã có quá trình đóng BHXH dài nhưng lại không được hưởng chế độ thai
sản. Theo Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, quy
định nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng [26]. Vì vậy, Luật

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status