BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỪ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH HƯNG YÊN
ĐINH ĐĂNG MUÔN
Hà Nội – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỪ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH HƯNG YÊN
ĐINH ĐĂNG MUÔN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trần Thị Thúy Lâm
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nếu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa sau đại học - Viện đại học mở Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa sau đại học xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đinh Đăng Muôn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu..................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................ 4
4. Những đóng góp mới của luận văn ...................................................................... 5
5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 6
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ........................................... 7
1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế và vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm y tế .......................... 7
1.1.1. Khái niệm về Bảo hiểm y tế ........................................................................... 7
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm y tế ................................................................ 12
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
bảo hiểm y tế tại tỉnh Hưng Yên ..................................................................... 81
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
BHXH
Bảo hiểm xã hội
DN
Doanh nghiệp
EU
Liên minh Châu Âu
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
UBDT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho bạn bằng chính con người
bạn, một thân thể không bệnh tật, một tâm hồn không loạn đó là chân hạnh phúc của
con người. Có câu nói: “Người có sức khỏe có một trăm ước muốn; người không có
sức khỏe chỉ có 1 ước muốn duy nhất, đó là sức khỏe”. Quả đúng như vậy, bệnh tật
không trừ một ai bất kể bạn là người giàu hay người nghèo, người có địa vị cao hay
thấp. Nếu bạn may mắn được sở hữu một sức khỏe tốt thì đồng nghĩa với việc bạn
đang cận kề với thành công về mọi lĩnh vực. Do đó, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
của bản thân cũng như cộng đồng trở thành một nhu cầu tất yếu trong xã hội và
được thực hiện bằng nhiều cơ chế pháp lý khác nhau, trong đó có bảo hiểm y tế.
Với mục đích bảo vệ và chăm sóc sức khỏe mỗi cá nhân trong cộng đồng,
pháp luật bảo hiểm y tế (BHYT) giữ vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật an
sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới. Công dân có quyền hưởng chế độ bảo vệ
sức khỏe trở thành một nguyên tắc hiến định trong hệ thống pháp luật của tất cả các
quốc gia trên thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ra lời tuyên bố Alma-Ata:
“Sức khỏe cho mọi người”, được xem là cương lĩnh hành động cho mỗi quốc gia
trên thế giới với phương châm là phải chăm lo bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Với
những ưu điểm vốn có, pháp luật BHYT là giải pháp được hầu hết các quốc gia lựa
chọn để thực hiện sứ mệnh chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng hướng tới mục
tiêu công bằng và hiệu quả.
Ở Việt Nam, BHYT là một chính sách xã hội lớn của Nhà nước. Pháp luật
BHYT đã có những bước trưởng thành và phát triển trong thời gian hơn 20 năm kể
từ năm 1992 khi Điều lệ BHYT đầu tiên của nước ta được ban hành kèm theo Nghị
định số 29/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ).
Đặc biệt là sự ra đời của Luật BHYT năm 2008 và gần đây nhất, ngày 13/6/2014, tại
kỳ họp thứ 7 khóa XIII Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
1
2
- "Mở rộng bảo hiểm y tế tự nguyện tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng", chuyên đề nghiên cứu khoa học, do Bác sỹ Trần Ngọc Duyến
chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 2004. Đề tài đã tập hợp một cách có hệ thống về tình
hình tham gia BHYTTN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng để tìm ra những mặt được, mặt
tồn tại và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra các giải pháp để mở
rộng BHYTTN ở tỉnh Lâm Đồng.
-"Phát triển bảo hiểm y tế ở nông thôn công bằng và bền vững nhằm nâng cao
chăm sóc sức khỏe cho người dân", Đàm Viết Cương, Trần Văn Tiến, Nguyễn
Khánh Phương, Trần Thị Mai Oanh, Hoàng Thị Phượng, Dương Huy Lương và
cộng sự (2007). Viện Chiến lược và Chính sách Y tế.
- “Nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện
khu vực phi chính thức”, Lưu Thị Thu Thủy (2009), Tạp chí Bảo hiểm xã hội số
141 tháng 11/2009.
- "Bảo đảm an sinh xã hội cho nông dân - Một số vấn đề xã hội cấp bách ở
nước ta hiện nay", Đỗ Văn Quân (2008), Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 115 tháng
7/2008.
- "Yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của người dân nông
thôn". Đỗ Văn Quân (2008), Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 116 tháng 8/2008.
- "Xác định nhu cầu bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân huyện Văn Giang
tỉnh Hưng Yên”, Lê Trung Thực (2010) Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội. Đề
tài hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về nhu cầu, bảo hiểm, BHYT,
BHYTTN; đánh giá thực trạng và nhu cầu BHYTTN của nông dân trong huyện;
Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia BHYTTN của nông
dân; Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường, thu hút nông dân tham gia
BHYTTN;
- “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một số trường đại học, cao
hoàn thiện pháp luật BHYT ở tỉnh Hưng Yên. Để thực hiện mục tiêu này, tác giả
Luận văn đặt ra những nhiệm vụ chính sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật BHYT
4
đặt nền móng nhận thức vững vàng về BHYT nói chung và pháp luật BHYT nói
riêng góp phần xây dựng hệ thống tư duy lý luận đầy đủ, vững chắc về pháp luật
BHYT.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về pháp luật BHYT ở
Việt Nam, tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật BHYT ở địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế cần phải hoàn thiện, đặc biệt là việc chỉ ra
nguyên nhân của những hạn chế đó.
Thứ ba: Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật BHYT cho
phù hợp với thực tiễn hiện nay góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ và chăm sóc
sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
4. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn được viết trong thời điểm Luật BHYT sửa đổi mới được thực hiện
nên dự kiến những đóng góp mới như sau:
- Luận văn đã làm sáng tỏ và góp phần làm hoàn thiện hơn những vấn đề lý
luận về BHYT, cũng như pháp luật về BHYT.
- Luận văn đã phân tích được pháp luật về BHYT của một số quốc gia tương
đối thành công trong lĩnh vực BHYT và trên cơ sở đó rút ra được các bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Luận văn đã phân tích được thực trạng pháp luật về BHYT hiện hành đồng
thời liên hệ với thực tiễn thực hiện ở tỉnh Hưng Yên.
- Luận văn cũng nêu được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
BHYT đồng thời cũng đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về BHYT ở Hưng Yên.
thực hiện pháp luật BHYT ở tỉnh Hưng Yên.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế và vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm y tế
1.1.1. Khái niệm về Bảo hiểm y tế
Do điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử mà các quốc gia có sự khác
nhau trong quan niệm về BHYT.
Theo WHO thì BHYT là tên gọi của loại hình bảo hiểm về y tế không mang
tính kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm mục đích an sinh xã hội trong
lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Theo thông lệ quốc tế tôn chỉ mục đích của loại hình
bảo hiểm này là đem lại sự chăm sóc y tế, với tư cách là một trong những nội dung
chính của an sinh xã hội theo Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu an
sinh xã hội của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).
Các nước công nghiệp phát triển thì quan niệm BHYT là một tổ chức cộng đồng
đoàn kết tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ giữ gìn sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe
hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT [42]. Theo tài liệu
“BHYT xã hội” do WHO ấn hành tháng 5/2003 thì BHYT bắt buộc thuộc phạm trù
BHYT xã hội. Đây là một cơ chế tạo nguồn và quản lý chăm sóc sức khỏe thông qua
chia sẻ rủi ro về sức khỏe giữa các thành viên của quỹ đồng thời huy động nguồn
đóng góp từ doanh nghiệp, hộ gia đình, Chính phủ. Cơ chế BHYT là một bộ phận của
an sinh xã hội chứ không chỉ đơn giản là một phương pháp huy động vốn mới cho y
tế. Đây là giải pháp mang lại sự ổn định tài chính trong thanh toán các dịch vụ khám
chữa bệnh đồng thời tăng khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ y tế
thiết yếu.
mục đích của BHYT. Theo PGS, TS Đào Văn Dũng “BHYT là một chính sách xã
hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động nguồn lực tài chính của nhà
nước, người sử dụng lao động, người lao động và cộng đồng để hình thành quỹ tài
chính dùng chi trả chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT theo quy định
của pháp luật”. Theo quan niệm này BHYT có các đặc trưng sau: i) do nhà nước
8
thực hiện; ii) có sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ
trợ của nhà nước; iii) quỹ dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh [26]. Tuy nhiên,
khái niệm này vẫn chưa nêu bật được nguyên lý của BHYT đó là tính tương trợ
cộng đồng, chia sẻ rủi ro. Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Hương “BHYT là một chính
sách an sinh xã hội của Nhà nước mang tính bắt buộc đối với mọi người trên cơ sở
sự đóng góp theo thu nhập của các thành viên, có sự hỗ trợ của ngân sách nhằm
mục đích khám chữa bệnh khi thành viên ốm đau, bệnh tật và không vì mục tiêu lợi
nhuận”. Theo quan niệm này, khái niệm BHYT sẽ bao quát và đảm bảo 2 yếu tố
kinh tế và xã hội. Tính xã hội được thể hiện ở vai trò nhà nước trong việc bắt buộc
các thành viên tham gia, ngân sách nhà nước đảm bảothực hiện dưới hình thức hỗ
trợ kinh phí đóng BHYT cho những đối tượng yếu thế và vì mục tiêu an sinh xã hội,
nhà nước đảm bảo trong trường hợp quỹ BHYT mất cân đối thu chi trên phạm vi
toàn quốc. Yếu tố kinh tế thể hiện ở sự tham gia đóng góp của các thành viên trên
cơ sở thu nhập nhằm cân đối thu chi quỹ BHYT [42].
Như vậy, các nhà nghiên cứu khoa học về BHYT tuy có những cách tiếp cận
khác nhau khi đưa ra các quan niệm về BHYT nhưng nhìn chung đều xác định
BHYT hướng đến việc chăm sóc sức khỏe, không vì mục tiêu lợi nhuận và do nhà
nước tổ chức thực hiện. Dưới góc độ pháp lý bảo hiểm y tế được hiểu là hình thức
bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này
để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”
(Điều 1 Luật BHYT).
Mục tiêu của BHYT là hướng tới việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mọi
người dân. Khi bị ốm đau bệnh tật tất yếu dẫn đến một nhu cầu là khám và điều trị
bệnh. Khi đó BHYT có trách nhiệm chi trả các chi phí KCB cho họ. Bởi vậy, mục
tiêu, đối tượng của BHYT không phải là thu nhập và đảm bảo thu nhập cho người bị
ốm đau mà chính là sức khỏe của người tham gia BHYT. Do đó, BHYT không phải
là khoản trợ cấp bằng tiền như các loại hình bảo hiểm khác mà là các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, chữa bệnh.
- Về mức hưởng Bảo hiểm y tế
Đối với các loại hình bảo hiểm nhìn chung mức hưởng bảo hiểm được xác
10
định trên cơ sở mức đóng góp của người tham gia bảo hiểm (mức đóng góp, thời
gian đóng góp...). Tuy nhiên, đối với BHYT, mức hưởng BHYT lại không phụ
thuộc vào mức đóng, thời gian đóng mà phụ thuộc vào rủi ro bệnh tật và cơ sở cung
ứng dịch vụ tế. Điều này cũng là hợp lý bởi ốm đau, bệnh tật là những rủi ro mà con
người không thể lường trước và cũng là điều mà không ai mong muốn. Vì vậy,
người tham gia BHYT không nhất thiết phải được hưởng toàn bộ khoản tiền mà họ
đã đóng góp và họ nên chia sẻ rủi ro cho những người bị ốm đau, bệnh tật.
Hệ thống bảo hiểm về y tế ngay từ khi hình thành đã không định hướng theo
mức độ rủi ro mà định hướng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi
trả trực tiếp. Đến nay đặc trưng này của BHYT vẫn giữ nguyên. Điều đó được thể
hiện rất rõ là: khi bị ốm đau thì người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khỏe mạnh
trở lại bằng mọi phương pháp, kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ vào trước đó
họ đã đóng góp BHYT được bao nhiêu. Trong hệ thống BHYT, mỗi người bệnh có
thể nhận được đầy đủ các dịch vụ y tế và thuốc men cần thiết mà không theo
phương thức bảo hiểm thuần túy (tức là căn cứ vào mức đóng thì nhận được một
mức hưởng tương ứng) và hoàn toàn không có ý nghĩa khi xem xét đến mức lương
làm căn cứ đóng bảo hiểm. Chính định hướng này đã làm nền tảng cho các nguyên
lao động tăng, thu lợi về cho bản thân, gia đình, cho tổ chức và cho nền kinh tế quốc
dân.
- Về phương diện xã hội:
Người dân tham gia BHYT sẽ được chi trả chi phí khi khám chữa bệnh tạo sự
yên tâm về tâm lý cho người dân. Sức khỏe người dân được bảo vệ và chăm sóc
cũng sẽ tạo môi trường xã hội ổn định và vững chắc. Hơn nữa, BHYT ra đời không
nhằm mục đích kinh doanh lợi nhuận mà dựa trên sự chia sẻ rủi ro giữa con người
với con người trong xã hội. Vì vậy, BHYT luôn là mạng lưới bảo hiểm bao trùm
rộng khắp nhất và có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia.
- Về phương diện pháp lý:
BHYT có ý nghĩa trên phương diện pháp lý bằng việc cụ thể hóa rõ nét nhất
quyền con người trong xã hội, là công cụ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả,
công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe. Quyền được chăm sóc sức khỏe là một
trong những quyền cơ bản của con người, không chỉ được ghi nhận trong các công
12
ước của các tổ chức quốc tế mà còn được ghi nhận trong hiến pháp của nhiều quốc
gia trên thế giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để mọi công dân được đảm bảo
quyền lợi của mình. BHYT đã đảm bảo cho mọi người, nhất là những đối tượng yếu
thế trong xã hội đều được tiếp cận các dịch vụ y tế. Với đặc điểm chia sẻ rủi ro, lấy
số đông bù số ít, BHYT góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công
bằng xã hội.
1.2. Khái niệm, bản chất và các nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm y tế
1.2.1.Khái niệm và bản chất của pháp luật bảo hiểm y tế
Xem xét sự ra đời và phát triển BHYT cho thấy, BHYT không chỉ là sự tương
trợ, giúp đỡ của mỗi cá nhân hay các tổ chức cộng đồng mà còn trách nhiệm của
tật. Lẽ đương nhiên việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trước tiên thuộc về mỗi cá nhân
nhưng vẫn cần sự trợ giúp mang tính xã hội, có tính tổ chức cao đó là sự trợ giúp
mang tính Nhà nước. Ở đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là người tổ chức, quản
lý và bảo trợ. Bản chất xã hội của pháp luật BHYT còn được thể hiện ở sự liên kết,
chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội. Bên cạnh sự
trợ giúp mang tính Nhà nước, thì sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong
xã hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập là yếu tố rất quan trọng. Thiếu sự liên
kết này, việc thực hiện BHYT sẽ không thành công do không đảm bảo được nguyên
lý chia sẻ rủi ro. Thực tế cho thấy, bệnh tật và những rủi ro về sức khỏe không phải
khi nào cũng xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi người, chúng cũng không xuất
hiện giống nhau ở mỗi người: có người ốm lúc này, người ốm lúc khác; có người
bệnh nặng, có người bệnh nhẹ; có người hay ốm, người ít ốm và bệnh tật thường
đến bất ngờ không báo trước. Nếu cứ để ai có bệnh người đó tự chống đỡ sẽ gây
khó khăn cho chính họ vì không đủ tiền để trang trải. Do đó sự liên kết mang tính
cộng đồng rộng rãi để chia sẻ rủi ro bệnh tật là một đòi hỏi tất yếu. Một quỹ chung
cho chăm sóc sức khỏe sẽ điều tiết để nhiều người chưa hoặc không ốm chăm sóc
cho người ốm, người ốm nhẹ giúp người ốm nặng.
Tính xã hội tương trợ cộng đồng nhân văn của pháp luật BHYT còn thể hiện ở
sự đoàn kết xã hội trong chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế thông qua BHYT không phân
biệt mức đóng nhiều hay đóng ít, không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo, giai
cấp mà phụ thuộc vào mức độ rủi ro về bệnh tật. Thực tế cho thấy những người
14
nghèo, người có thu nhập thấp thường là người hay đau ốm và cần nhiều kinh phí
chữa bệnh. Hơn nữa, khi đau ốm lại làm giảm hoặc mất thu nhập do nghỉ việc nên
càng làm cho họ khó khăn hơn về tài chính để tiếp cận các dịch vụ y tế. Pháp luật
BHYT là một giải pháp thực tế đưa họ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Như
vậy, bản chất xã hội của pháp luật BHYT thể hiện ở sự trợ giúp mang tính Nhà
hội là vì con người với tư cách là thành viên của xã hội. An sinh xã hội chỉ đạt được
mục đích của mình khi bảo vệ được tất cả các thành viên trong xã hội mà không có
sự phân biệt theo tiêu chí nào. Công ước số 102 quy phạm tối thiểu về an sinh xã
hội ngày 28/6/1952 khẳng định vấn đề chăm sóc y tế là một trong những nội dung
quan trọng về quyền hưởng an sinh xã hội của con người [14]. Trong phạm vi mỗi
quốc gia, được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của
công dân, được ghi nhận ở hầu hết trong hiến pháp các nước. Ở nước ta, quyền
được chăm sóc sức khỏe được ghi nhận tại Điều 38, Hiến pháp 2013 như sau: “Mọi
người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các
dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa
bệnh”.
Như vậy, quyền được hưởng chế độ BHYT là một nguyên tắc hiến định.
Nguyên tắc tham gia bắt buộc không chỉ giới hạn ở một số đối tượng mà tiêu chí
cần hướng tới là mở rộng độ bao phủ tới toàn bộ dân chúng, thực hiện BHYT bắt
buộc toàn dân. Thực hiện chế độ đóng BHYT bắt buộc có chức năng hỗ trợ cho loại
hình trợ cấp áp dụng đồng đều cho tất cả mọi người. Còn chế độ tự nguyện mang
tính bổ trợ và bước đệm để mở rộng chế độ bắt buộc, mở rộng diện bao phủ tới toàn
thể dân chúng.
- Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước thống nhất quản lý về BHYT
Lịch sử ra đời của BHYT đã chứng minh một cách rõ nét nhất vai trò của nhà
nước trong hoạt động BHYT, không thể tồn tại hoạt động BHYT theo đúng nguyên
lý của nó nếu thiếu đi vai trò quản lý của nhà nước. Không có sự can thiệp của nhà
nước hoạt động BHYT chỉ là những phương thức bảo vệ truyền thống mang tính tự
phát, chỉ bao quát được một nhóm đối tượng nhất định trong xã hội và thường là
những người có điều kiện kinh tế, các đối tượng “yếu thế” cần được bảo vệ sẽ nằm
ngoài phạm vi bao phủ của BHYT. Sự can thiệp của nhà nước không chỉ xuất phát
từ nhu cầu tất yếu đảm bảo sự ổn định, chắc chắn, công bằng trên diện rộng mà còn
16
1
Số liệu của Văn phòng thống kê Đức, Nguồn: />
17