Pháp luật về bảo hiểm y tế ở việt nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh quảng ninh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI TỈNH QUẢNG NINH

ĐỖ VĂN HƯỞNG

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI TỈNH QUẢNG NINH
ĐỖ VĂN HƯỞNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ THỊ DUNG

HÀ NỘI - 2016

Đỗ Văn Hưởng


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BẢO HIỂM Y TẾ ............................................................................................................ 8
1.1. Bảo hiểm y tế............................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế.......................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm y tế .................................................................................. 11
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế ...................................................................................... 13
1.2. Pháp luật về bảo hiểm y tế...................................................................................... 14
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm y tế ....................................................................... 14
1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm y tế ............................................................... 15
1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm y tế ......................................................................... 18
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO
HIỂM Y TẾ ................................................................................................................... 24
2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế .......................................................................... 25
2.2. Chế độ bảo hiểm y tế .............................................................................................. 30
2.3. Quỹ bảo hiểm y tế ................................................................................................... 38
2.4. Tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế ............................................................................ 42
2.5. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm y tế..................... 47
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TẠI TỈNH
QUẢNG NINH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ......................................................... 51
3.1. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại tỉnh Quảng Ninh .................... 51
3.2. Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
bảo hiểm y tế ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay ................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 79



:

Người lao động

NSDLĐ :
Nxb

Người sử dụng lao động
:

Nhà xuất bản


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc
gia trên thế giới, nhằm mục đích bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên
trong xã hội, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trên thế giới, BHYT xuất hiện từ rất sớm và ngày càng phát triển. Theo đó,
các quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về BHYT, tạo cơ sở pháp lý để đảm
bảo chế độ, quyền lợi BHYT cho người tham gia, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ và nhu cầu chia sẻ rủi ro khi ốm đau, bệnh tật của mọi thành viên trong xã hội.
Ở Việt Nam, qua quá trình phát triển không ngừng và đặc biệt là sự ra đời của
Luật BHYT năm 2008 đã mở ra một bước phát triển vượt bậc của BHYT với mục
tiêu BHYT toàn dân. Phạm vi đối tượng tham gia BHYT từng bước mở rộng, các
chế độ BHYT đã đáp ứng cơ bản chi phí KCB cho người dân, mức phí và phương
thức đóng phí hợp lý với những chính sách hỗ trợ của nhà nước… như những cam
kết cho việc đảm bảo quyền lợi về chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân qua cơ chế chia
sẻ rủi ro, tương trợ cộng đồng. Sau 6 năm thực hiện, do chưa lường hết được một số

các cấp, cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh quan tâm. Mục đích là phấn đấu
đạt được mục tiêu theo quy định tại Nghị quyết số 21/2014/NQ-TW của Bộ chính
trị và mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân mà Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đề
ra. Đó là đến năm 2015, tỷ lệ bao phủ BHYT của tỉnh là 80% dân số và đến năm
2020, phấn đấu có trên 90% dân số tham gia BHYT như Thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo.3
Để thực hiện được chỉ tiêu này, cần thiết phải có những giải pháp phù hợp.
Trong đó, những giải pháp hoàn thiện các bất cập trong quy định của pháp luật về
BHYT và hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT trên phạm vi cả
nước nói chung và ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng là giải pháp quan trọng và cấp thiết.
Từ những lý do trên, em đã chọn vấn đề: “Pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt
Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ của mình.
1

. Xem: http://www.soytequangninh.gov.vn/GD_WS/Tintuc_Chitiet.aspx?Newsid=6348. Cập nhật ngày
12/5/2016.
2
. Xem: http://dantri.com.vn/viec-lam/den-nam-2020-co-it-nhat-90-dan-so-tham-gia-bao-hiem-y-te20160604091817768.htm. Cập nhật ngày 5/8/2016.
3
. Xem: http://www.soytequangninh.gov.vn/GD_WS/Tintuc_Chitiet.aspx?Newsid=6348. Cập nhật ngày
12/5/2016.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo khảo cứu của tác giả, cho đến thời điểm này đã có nhiều công trình
nghiên cứu về BHYT và pháp luật về BHYT ở Việt Nam. Cụ thể như sau:
Giáo trình, sách tham khảo: Đó là các giáo trình luật an sinh xã hội của các cơ

pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hiền Phương, Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2009. Các luận văn tại các cơ sở đào tạo như Trường Đại học
Luật Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Viện
khoa học Xã hội Việt Nam, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh… Đó là luận văn:
“Đánh giá Luật bảo hiểm y tế sau 3 năm thực hiện” của Nguyễn Khánh Linh,
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Luận văn: “Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt
Nam” của Phạm Thị Vy Linh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014; Luận văn:
“Pháp luật bảo hiểm y tế và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hà Nội” của Phạm Văn
Đạt, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2015.
Các báo cáo: như báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, báo cáo trong các hội
thảo của World bank, của Bộ LĐTBXH, của Bộ Y tế về các nội dung liên quan đến
BHYT và pháp luật về BHYT. Đó là: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tình
hình thực hiện chính sách BHYT và cân đối quỹ BHYT gửi Ban Bí thư Trung ương
Đảng; Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2011), Báo cáo tổng kết ngành BHXH năm 2011;
Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2011), Báo cáo 3 năm thực hiện Luật BHYT; Bảo hiểm
xã hội Việt Nam (2012), Hội nghị tổng kết đánh giá 3 năm thực hiện Luật BHYT và
định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, TP Hồ Chí Minh, tháng
12/2012; Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2012), Chia sẻ kinh nghiệm thức
hiện BHYT toàn dân, molisa.gov.vn/news, 8/10/2012; Bộ Y tế (2010), Báo cáo
khảo sát tình hình thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trong hệ thống bệnh viện
công lập; Bộ y tế và nhóm đối tác y tế (2011), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế
năm 2011; Bộ Y tế Việt Nam và Nhóm đối tác y tế (2011), Báo cáo chung tổng
quan ngành y tế năm 2011 - Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để
thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế, 2011 - 2015, Hà Nội 12/2011; Bộ Y tế và Bảo
hiểm xã hội Việt Nam (2011), Báo cáo tổng kết hai năm thực hiện Luật BHYT,
17/10/2011; Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), Báo cáo tổng kết, đánh
giá 3 năm thực hiện Luật BHYT và định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật BHYT, TP Hồ Chí Minh, ngày 10/12/2012; Bộ Y tế (2013), Báo cáo đánh giá
3 năm thực hiện Luật BHYT và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
BHYT.

niệm, vai trò, nguyên tắc của BHYT.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành
về BHYT ở Việt Nam.

5


Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT
tại tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm cũng như những vấn
đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện BHTN ở tỉnh Quảng Ninh.
Bốn là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
BHYT và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT tại tỉnh Quảng Ninh nói
riêng, và ở Việt Nam nói chung trong bối cảnh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về
BHYT. Trong đó, chủ yếu là Luật BHYT năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Luật BHYT. Ngoài ra,
một số đạo luật có liên quan đến BHYT như Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015… cũng là đối tượng nghiên cứu
của luận văn. Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHYT, đối
tượng nghiên cứu của luận văn còn là thực tiễn thực hiện BHYT trên cơ sở các số
liệu thực tiễn của cơ quan bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại tỉnh Quảng Ninh trực
tiếp thực hiện pháp luật BHYT đối với người tham gia BHYT.
Ngoài ra, các quy định của ILO và pháp luật của một số quốc gia trên thế
giới có liên quan đến BHYT cũng là đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác Lênin bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử. Theo
đó, vấn đề pháp luật BHYT được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát
triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố kinh tế, xã hội ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng

Chương 3: Thực tiễn thực hiện BHYT tại tỉnh Quảng Ninh và giải pháp hoàn thiện.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Bảo hiểm y tế
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế
Với bất kỳ con người nào, trong quá trình sống của mình đều có nhu cầu về
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ khi bị ốm đau, bệnh tật. Song khi đó, do không thể
tham gia quan hệ lao động mà còn phải chi trả một khoản tiền nhất định cho việc
khám chữa và điều trị bệnh, nên người ốm đau đã khó khăn về tài chính lại càng
khó khăn thêm khi phải chi trả các chi phí y tế. Vì vậy, để vượt qua những khó khăn
cũng như để tồn tại và phát triển, con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác
nhau và một trong những cách được coi là tốt nhất, đó là tham gia BHYT bởi đây là
một loại hình hoạt động có tính nhân văn sâu sắc nhằm chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ cho người dân.
BHYT xuất hiện đầu tiên dưới hình thức bảo hiểm ốm đau và thương tật cho
công nhân của các chủ doanh nghiệp ở Tây Âu, vào thời kỳ Trung cổ. Trải qua thời
gian lâu dài cho đến nay, do tính ưu việt trong chăm sowcs sức khoẻ mọi người dân
nên BHYT được hầu hết các quốc gia trên thế giới chú trọng, quan tâm. Theo đó,
trong hệ thống pháp luật của mình, các quốc gia đều đưa ra khái niệm BHYT, tạo
cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của BHYT, đồng thời xác định nội
dung, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật BHYT về lĩnh vực này.
Theo ILO, tại Công ước số 102 năm 1952, thì chăm sóc y tế là nội dung được
đề cập đầu tiên trong 9 chế độ trợ cấp thuộc hệ thống an sinh xã hội: “BHYT là một
nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo
chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật”. Như vậy, theo

các quốc gia có cách thức tổ chức thực .
Trong pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành, khái niệm BHYT đã được nhà
làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn. Từ năm 2005, trong Nghị
định số 63/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa BHYT tại Điều 1:
“Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy
động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động các tổ chức và cá
nhân để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ này cho

9


người có thẻ bảo hiểm y tế khi ốm đau”. Hay Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật BHYT năm 2014 định nghĩa: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc
được áp dụng với các đối tượng theo quy định của luật này để chăm sóc sức khoẻ
không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”. Như vậy, các văn bản
này đều khẳng định, BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện
nhằm chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân mà không vì mục đích lợi nhuận.
Ngoài ra, khái niệm BHYT còn được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau,
với những nét riêng biệt như:
Dưới góc độ xã hội, BHYT là một hình thức tương tự cộng đồng nhằm mục
đích bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Các thành viên trong xã hội cùng nhau đóng góp
một phần thu nhập để tạo ra quỹ chug với mục đích chăm sóc y tế cho chính mình
và các thành viên khác không vì mục đích lợi nhuận. Người tham gia BHYT khi ốm
đau hay bệnh tật sẽ nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ từ cộng đồng cho chi phí y tế của
họ sẽ được quy chung chi trả toàn bộ hoặc một phần lớn. Tính xã hội của BHYT
được thể hiện rõ trong việc không phân biệt hay giới hạn đối tượng tham gia. Mọi
thành viên trong xã hội không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, trình độ, thu
nhập,… đều có quyền tham gia BHYT. Bên cạnh đó, tính xã hội của BHYT còn thể
hiện ở sự giúp đỡ của Nhà nước về chăm sóc y tế, Nhà nước luôn dành một phần
trong ngân sách của mình để hỗ trợ cho các hoạt động y tế và giúp đỡ các thành

tế chức thực hiện hệ thống BHYT với mục đích chăm sóc sức khoẻ cho toàn xã hội.
Ở Việt Nam, việc ghi nhận chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân đã được quy định trong
các bản Hiến pháp. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013, tại Điều 58 quy định: “Nhà nước,
xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khảo của nhân dân thực
hiện bảo hiểm y tế toàn dân…” và cụ thể trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật BHYT năm 2014 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành. Như vậy,
việc tham gia BHYT vừa là quyền lợi nhưng cũng vừa là trách nhiệm của mỗi cá
nhân trong xã hội. Bởi lẽ, nó xuất phát từ lợi ích chăm sóc sức khoẻ cho người dân
là để bảo vệ lợi ích của cá nhân tham gia cũng như chia sẻ trách nhiệm với cộng
đồng là để bảo vệ lợi ích cho cả cộng đồng. Do đó, BHYT là hình thức bảo hiểm bắt
buộc được Luật bảo hiểm nước ta quy định vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính
nhân văn sâu sắc.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm BHYT như sau: “Bảo
hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm chăm
sóc sức khoẻ cho nhân dân, không vì mục đích lợi nhuận”.
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm y tế
Từ khái niệm BHYT đưa ra, có thể thấy BHYT có một số đặc điểm để phân
biệt BHYT với các hình thức bảo hiểm khác. Cụ thể như sau:

11


Thứ nhất, bảo hiểm y tế áp dụng đối với mọi người dân trong xã hội
Nếu như BHXH áp dụng đối với NLĐ, hầu hết trong độ tuổi lao động và chủ
yếu có xác lập quan hệ lao động, thì BHYT có đối tượng áp dụng rộng rãi với mọi
người dân trong xã hội, không phân biệt bởi bất kỳ tiêu chí gì về dân tộc, tôn giáo,
tín ngưỡng, tuổi tác…. Tất cả thành viên trong xã hội dù là người lao động hay
không phải là người lao động, dù là trẻ em hay người già,…cũng đều có thể tham
gia BHYT. Thực hiện BHYT toàn dân luôn là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia.
Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa BHYT và BHXH.

làm căn cứ đóng bảo hiểm, thời gian đóng BHYT.
Thứ tư, tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế gồm ba bên: bên tham gia bảo hiểm y
tế, bên thực hiện bảo hiểm y tế và cơ sở khám, chữa bệnh
Đây cũng là đặc trưng quan trọng để nhận diện BHYT. Đó là BHYT bao giờ
cũng có sự tham gia của ba bên: Bên thực hiện BHYT, bên tham gia BHYT và cơ
sở KCB. Vì vậy, khác với các hình thức bảo hiểm khác (chỉ bao gồm bên tham gia
và bên thực hiện), việc thực hiện BHYT bao giờ cũng có sự tham gia của bên thứ ba
đó là cơ sở KCB. Cơ sở KCB là cơ quan, tổ chức thực hiện KCB và cung cấp dịch
vụ y tế. Bởi vậy, việc đáp ứng các nhu cầu KCB của người bệnh phụ thuộc nhiều
vào khả năng của cơ sở y tế. Khi tham gia BHYT sử dụng các dịch vụ KCB, họ sẽ
đến các cơ sở KCB và các chi phí y tế sẽ được tổ chức bảo hiểm y tế chi trả (một
phần hoặc toàn bộ). Chất lượng BHYT phụ thuộc rất nhiều vào việc cung cấp dịch
vụ của cơ sở KCB. Do đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp, hợp tác hài hoà giữa các chủ
thể, đặc biệt là cơ sở cung cấp dịch vụ y tế.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế có vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
cho mọi người dân tham gia BHYT. Khi sức khoẻ của người dân được đảm bảo sẽ
là cơ sở quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội của đất nước và từ đó góp phần phát
triển ổn định, bền vững kinh tế của đất nước.
- Đối với người tham gia bảo hiểm y tế
Con người khi ốm đau bệnh tật sẽ phát sinh nhu cầu KCB và khi đó tất yếu sẽ
phát sinh các chi phí y tế. Tuy nhiên, không phải ai cũng có nguồn tài chính dư dả
để có thể sẵn sàng thanh toán các khoản chi phí đó. Vì vậy, nếu họ tham gia BHYT,
BHYT sẽ giúp họ thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí y tế và như vậy những
khó khăn về tài chính khi ốm đau sẽ được giảm tải. Điều đó cho thấy, BHYT thực
sự có ý nghĩa về phương diện y tế.

13



pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện

14


pháp khác nhau. Pháp luật BHYT điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt
động BHYT nên phải bao quát được hết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia
BHYT, mức đóng mức hưởng bảo hiểm cho đến quy định về phạm vi KCB bảo
hiểm y tế, mức chi trả cho người tham gia BHYT, quỹ BHYT, quản lý nhà nước về
BHYT… và các vấn đề khác có liên quan.
Do có vai trò hết sức quan trọng đối với người tham gia BHYT, đối với sự
phát triển kinh tế xã hội và an sinh xã hội của đất nước, nên BHYT được hầu hết
các quốc gia quy định. Hình thức quy định đa dạng, có thể là văn bản luật hoặc văn
bản dưới luật. Song, dù dưới hình thức nào thì vẫn thể hiện hình thức pháp lý của
chính sách BHYT và chính sách BHYT là tư tưởng chính trị chỉ đạo nội dung của
pháp luật BHYT. Thể chế hoá nội dung chính sách BHYT, nhà nước phải quy định
cụ thể các đối tượng tham gia BHYT, điều kiện hưởng BHYT, chế độ BHYT... để
tổ chức hợp lý, công bằng.
Vì vậy, pháp luật BHYT được hiểu tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định
về đối tượng tham gia BHYT, điều kiện và quyền lợi hưởng BHYT của người tham
gia BHYT.
BHYT là một trong những nội dung thuộc chính sách an sinh xã hội, vì vậy nó
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia. Tuỳ thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của mình mà các quốc gia có chính sách khác nhau về
BHYT. Hơn nữa, do BHYT là hoạt động mang tính chất nhân đạo, các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhân dân không vì mục đích lợi
nhuận. Vì vậy, BHYT phải do nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở pháp luật và
các đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT theo quy định của pháp luật.
Qua những cơ sở trên có thể rút ra khái niệm pháp luật BHYT. Pháp luật bảo
hiểm y tế là hệ thống các quy phạm pháp luật có mối quan hệ thống nhất nội tại với

hàng ngày, đảm bảo nhu cầu chăm sóc, chữa bệnh cho người tham gia, nhất là
những người không may mắc bệnh hiểm nghèo, pháp luật BHYT đảm bảo thực hiện
nguyên tắc này.
Thứ hai, nguyên tắc mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần
trăm của tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của
Luật bảo hiểm xã hội (sau đây gọi chung là tiền lương tháng), tiền lương hưu, tiền
trợ cấp hoặc mức lương cơ sở
Mức đóng theo thu nhập nghĩa là những người có thu nhập cao sẽ đóng mức
phí BHYT cao hơn mức phí BHYT của người có thu nhập thấp. Ngoài ra, những
người có thu nhập từ các khoản trợ cấp thì mức phí dựa trên mức trợ cấp. Những

16


người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp thì được Nhà nước hỗ trợ mức phí
đóng. Mục đích đặt ra nguyên tắc này trong thực hiện BHYT là nhằm bảo đảm
quyền được tham gia và hưởng BHYT của mọi người dân. Đóng thời đảm bảo công
bằng giữa những người đi làm với những người không đi làm, giữa người có thu
nhập với người không có thu nhập. Ngoài ra, nguyên tắc này còn bảo đảm cho sự
thuận tiện trong việc trích nộp và đóng phí vào quỹ BHYT.
Thứ ba, nguyên tắc hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối
tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế
Mức hưởng BHYT được xác định trên hai cơ sở là mức độ bệnh tật của người
tham gia và nhóm đối tượng tham gia BHYT. Mức hưởng theo mức độ bệnh tật
nghĩa là người bị bệnh nặng hoặc bệnh hiểm nghèo, điều trị lâu dài thì được hưởng
chi phí y tế cao hơn so với người bị bệnh tật nhẹ, khám chữa chỉ một lần hoặc điều
trị trong thời gian ngắn hơn. Mức hưởng BHYT theo nhóm đối tượng được hiểu là
BHYT chi trả chế độ có tính đến mức độ khó khăn của người tham gia theo độ tuổi,
ví dụ trẻ em dưới 6 tuổi hay hộ gia đình nghèo hoặc nhóm người có công với cách
mạng. Tuy nhiên, mức hưởng BHYT được chi trả trong phạm vi giới hạn mà pháp

chính và pháp luật. Đặc biệt, khác với các quỹ BHXH khác, quỹ BHYT được nhà
nước hỗ trợ mức phí đóng cho một số đối tượng nhằm thực hiện chính sách ưu đãi
đối với người có công với cách mạng hoặc những người có hoàn cảnh khó khăn
không có thu nhập hoặc thu nhập thấp. Bởi thế, nguyên tắc này xuất phát từ mục
đích bảo đảm nguồn chi trả cho người tham gia BHYT và xuất phát từ sự an toàn về
tài chính của quỹ, giúp quỹ BHYT ổn định lâu dài, tránh nguy cơ dẫn đến vỡ quỹ.
1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm y tế
Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của BHYT trong đời sống xã hội
cũng như đặc trưng của BHYT, nên hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách
BHYT. Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội mà các quốc gia khác nhau có
những quy định pháp luật khác nhau về BHYT. Song nhìn chung, pháp luật BHYT
của hầu hết các quốc gia đều bao gồm các nội dung như: đối tượng tham gia BHYT,
mức phí và phương thức đóng phí, chế độ BHYT, quỹ và quản lý quỹ BHYT, tổ
chức thực hiện BHYT, xử phạt vi phạm pháp luật về BHYT và giải quyết tranh
chấp về BHYT.
- Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế
Đối tượng tham gia BHYT là nội dung quan trọng của pháp luật BHYT và là
mục tiêu hướng đến trong việc thực hiện BHYT cho mọi người dân. Bởi BHYT chỉ

18



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status