Bàn về Bảo hiểm y tế ở Việt Nam - Pdf 30

Đề án môn học
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, bảo hiểm là một trong những
ngành dịch vụ phát triển khá toàn diện và có những bước tiến đáng kể cả về
quy mô, tốc độ và phạm vi hoạt động. Bảo hiểm không chỉ thực hiện việc huy
động vốn cho nền kinh tế, kích thích đầu tư, mà còn góp phần đảm bảo ổn
định tài chính cho các cá nhân, gia đình, cho mọi tổ chức và doanh nghiệp để
ổn định đời sống và khôi phục sản xuất kinh doanh. Kinh tế ngày càng phát
triển, đời sống của nhân dân càng cao thì nhu cầu bảo hiểm càng lớn và các
loại hình bảo hiểm cũng ngày càng được hoàn thiện.
Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm có thể được triển khai độc lập với
các loại hình bảo hiểm khác và cũng có thể chỉ là một chế độ trong hệ thống
các chế độ bảo hiểm xã hội. Nhưng về cơ bản, loại hình bảo hiểm này mang
đầy đủ tính chất của bảo hiểm xã hội.
Ở Việt Nam, bảo hiểm y tế ra đời theo Nghị định 299-HĐBT ngày
15/8/1992 và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 01/10/1992. Sau 17 năm
thực hiện, bên cạnh những thành công đã đạt được thì vẫn còn những hạn chế
và khó khăn trước mắt mà Bảo hiểm y tế Việt Nam phải vượt qua trên bước
đường tiến tới thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân. Để tìm hiêu sâu hơn về Bảo
hiểm y tế ở Việt Nam và tìm ra giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế
tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân em đã chọn đề tài: "Bàn về Bảo
hiểm y tế ở Việt Nam" cho đề án môn học của mình.
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận được chia làm 3 phần:
Phần 1: Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm y tế.
Phần 2: Bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay.
Phần 3: Một số đề xuất trong phương hướng giải quyết vấn đề về
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48
Đề án môn học
chính sách Bảo hiểm y tế ở Việt Nam.
Trong bài viết em sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu và

Do đó phải huy động các thành viên trong xã hội đóng góp nhằm giảm
gánh nặng cho ngân sách nhà nước, và cũng để phục vụ chính bản thân mình
khi gặp rủi ro về sức khỏe. Càng ngày BHYT càng tỏ ra không thể thiếu trong
cuộc sống của con người.
Trong đời sống kinh tế- xã hội, ngoài những tác dụng to lớn của bảo
hiểm nói chung, BHYT còn có tác dụng góp phần khắc phục sự thiếu hụt về
tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng và
thực hiện công bằng xã hội trong khám chữa bệnh cho nhân dân. Các quốc gia
trên thế giới thường có các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho hệ thống y
tế. Tuy nhiên, ở một số quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển,
khoản chi này thường chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành y. Ở nhiều
nước trên thế giới, nhà nước chỉ đầu tư khoảng 60% ngân sách y tế, hoặc chỉ
đầu tư ban đầu cho việc hình thành bệnh viện. Ở Việt Nam, ngay trước khi
thực hiện BHYT, ngân sách nhà nước cấp cho bảo hiểm y tế tăng nhanh tư
370 tỷ đồng ( năm 1991) lên 650 tỷ đồng ( năm 1992), tương ứng với 51% và
54% chi phí cho y tế, các khoản thu khác từ viện trợ của nước ngoài và thu
viện phí là 12% và 15%. Như vậy ngân sách y tế vẫn còn thiếu hụt 34% mỗi
năm. Sự thiếu hụt ngân sách y tế đã không đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám,
chữa bệnh. Số lượng và chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành y
tế không những không theo kịp nhu cầu khám, chũa bênh của người dân mà
còn bị giảm sút kìm giữ sự phát triển của y học. Vì vậy, thông qua việc đóng
góp vào quỹ BHYT sẽ hố trợ cho ngân sách y tế nhằm cải thiện và nâng cao
chất lượng phục vụ của ngành y. Hơn nữa, sau khi tham gia BHYT thì mọi
người dân, bất kể giàu nghèo đều được khám chữa bệnh và chăm sóc sức
khỏe tại các cơ sở y tế, do đó đảm bảo được công bằng xã hội...
2. Đối tượng và phạm vi của BHYT
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48
Đề án môn học
2.1 Đối tượng bảo hiểm
Hoạt động BHYT thường bao gồm:

chính của mình, nhà nước chỉ hỗ trợ tài chính khi thật cần thiết. Vì hoạt động
trên guyên tắc cân bằng thu - chi như vậy, nên tuy mọi người dân trong xã hội
đều có quyền tham gia BHYT nhưng thực tế BHYT không chấp nhận bảo
hiểm cho những người mắc bệnh nan y nếu không có thỏa thuận gì thêm.
Những người đã tham gia BHYT khi gặp rủi ro về sức khỏe ( như ốm
đau, bệnh tật..) đều được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiều mức
độ khác nhau tạo các cơ quan y tế. Tuy nhiên nếu khám chữa bệnh trong
trường hợp cố tình tự hủy hoại bản thân, trong tình trạng say rượu, vi phạm
pháp luật hoặc một số trường hợp loại trừ theo quy định của BHYT...thì
không được cơ quan BHYT chịu trách nhiệm.
Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khỏe quốc gia
khác nhau, trong đó quy định một số loại bệnh mà người đến khám chữa bệnh
đó được ngân sách của chương trình (hoặc ngân sách của nhà nước) đài thọ
chi phí. Cơ quan BHYT cũng không có trách nhiệm đối với người được
BHYT nếu họ khám chữa bệnh thuộc chương trình này.
Tuy nhiên, do hoạt động BHYT có hai hình thức bắt buộc và tự nguyện
nên có thể có các quy định khác nhau về phạm vi BHYT cho hai nhóm đối
tượng này. Thông thường phạm vi BHYT của nhóm BHYT tự nguyện linh
hoạt hơn nhóm BHYT bắt buộc do họ được quyền lựa chọn phạm vi BHYT
theo nhu cầu. Nhưng cũng vì vây mà công tác quản lí cũng phức tạp hơn.
3. Phương thức thực hiện BHYT
3.1 BHYT trọn gói
BHYT trọn gói là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu
trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT.
3.2 BHYT trừ những ca đại phẫu thuật:
Là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48
Đề án môn học
mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT trừ các chi phí
y tế cho các cuộc đại phẫu thuật ( theo quy định của cơ quan y tế).

động và nguuwoif sử dụng lao động thì quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng
góp của cả hai bên. Thông thường người sử dụng lao động đóng 50% - 60% mức
phí bảo hiểm, người lao động đóng 34% - 50% mức phí bảo hiểm.
Phí BHYT phụ thuộc vòa nhều yếu tố như xác suất mắc bệnh, chi phí y
tế, độ tuổi tham gia BHYT... Ngoài ra có thể có nhiều mức phí khác nhau cho
nhwungx người có khả năng tài chính khác nhau trong việc nộp phí lựa
chọn... Trong đó chi phí y tế lại phụ thuộc vào các yếu tố sau: tổng số lượt
người khám chưa bệnh, số ngày bình quân của một đợt điều trị, chi phí bình
quân cho một lần khám chữa bệnh, tần suất xuất hiện các loại bệnh.
Phí bảo hiểm y tế thường được tính trên các số liệu thống kê về chi phí y
tế và số người tham gia BHYT thực tế trong thời gian liền ngay trước đó.
Công thức tính: P= f + d
Trong đó : P phí BHYT/người/năm
f phí thuần
d phụ phí
Phụ phí thường được quy định bằng một tỉ lệ phần trăm ( thông thường
khoảng 20% - 30%) so với phí BHYT.
Ngoài ra quỹ BHYT còn được bổ sung bằng một số ngườn quỹ khác
như: sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước( thông thường chie trong trường hợp
quỹ mất khả năng chi trả), sự đóng góp và ủng hộ của các cơ quan tổ chức từ
thiện, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi theo quy định của các văn bản pháp luật
về BHYT nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ...
- Các khoản chi:
Sau khi hình thành quỹ BHYT được sử dụng như sau
+ Chi thanh toán chi phí y tế cho người được BHYT: đây là khoản chi
thường xuyên, lớn nhất của quỹ BHYT.
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48
Đề án môn học
+ Chi dự trữ, dự phòng dao động lớn: khoản chi này thường được tồn
tích lại trong thời gian dài nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia

phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số ngành nghề, khu vực đặc biệt.
Ở mỗi tỉnh, thành phố, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, có nhiệm vụ tổ
chức hoạt động BHYT trong phạm vi của tỉnh, thành phố mình và có các chi
nhánh hoặc đại lí BHYT các quận huyện tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của
mỗi địa phương. Như vậy, ban đầu hệ thống BHYT ở Việt Nam có 56 dơn vị
bao gồm 53 cơ quan BHYT các tình, thành phố; 2 đơn vị BHYT đường sắt và
dầu khí; 1 cơ quan BHYT Việt Nam ( có chi nhành tại thành phố Hồ Chí
Minh).
Đối tượng bắt buộc tham gia BHYT là :
- Chủ sử dụng lao động và người lao động ở các đơn vị hành chính sự
nghiệp, tổ chức Đảng, đoàn thể xã hội, hội quần chúng có hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
- Các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có
thuê từ 10 lao động trở lên, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,các
doanh nghiệp trong khu chế xuất, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam co thể
thuê lao động là người Việt Nam.
- Người đang nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, người có công với cách
mạng...
Các đối tượng khác tham gia bảo hiểm tự nguyện, kể cả người nước
ngoài đến làm việc,học tập và du lịch tại Việt Nam.
BHYT Việt Nam bước đầu giới hạn trong phạm vi khám chữa bệnh đối
với BHYT bắt buộc. Chi phí khám chữa bệnh bao gồm: tiền thuốc thiết yếu,
dịch truyền, máu, tiền xét nghiệm, chiếu chụp X quang, tiền phẫu thuật theo
pháp đồ điều trị, tiền vật tư tiêu hao, trừ chi phí khấu hao tài sản cố định, tiền
công lao động và phụ cấp của nhân viên y tế.
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48
Đề án môn học
Phạm vi BHYT loại trừ các trường hợp tự tử, say rượu, dùng chất ma
túy, vi phạm pháp luật, bệnh lây qua đường sinh dục, bệnh xã hội mà nhà
nước đã cos ngân sách chữa bệnh...; điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, tạo

BHYT. 80% số tiền đóng này được tập trung về BHYT tỉnh, thành phố; 20%
để lại đại lí xã phường cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân,
trong đó 15% dùng mua thuốc và trang thiết bị vật tư y tế, 5% chi phụ cấp cho
người làm công tác BHYT.
Qũy BHYT tỉnh , thành phố được sử dụng như sau:
+ 90% chi cho khám chữa bệnh.
+ 8% chi cho quản lý hành chính sự nghiệp.
+ 2% nộp BHYT Việt Nam, trong đó: 1,5% dùng để điều tiết cho BHYT
địa phương khi gặp rủi ro khách quan có nguy cơ không đảm bảo an toàn quỹ;
0,5% chi cho hành chính quản lý sự nghiệp BHYT.
BHYT không phải nộp thuế. BHYT là chính sách xã hội lớn, liên quan
đến nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội, là một bước chuyển đổi cơ chế quản
lý hệ thống chăm sóc sức khỏe, vì vậy cần thiết phải được sự xem xét của các
cơ quan chức năng nhà nước, giúp hệ thống BHYT vươn lên hoàn thành
nhiệm vụ nhà nước giao cho.
2. Những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện BHYT ở Việt Nam.
Hệ thống BHXH Việt Nam hiện nay quan tâm tổ chức thực hiện, trong
đó các đối tượng được ưu tiên phát triển là BHYT học sinh, sinh viên, nông
dân, thành viên hội đoàn thể. BHYT tự nguyện được thực hiện từ 1993, chủ
yếu là làm thí điểm, với 325.869 người tham gia. Đến năm 1994, sau khi liên
bộ y tế, giáo dục và đào tạo ban hành Thông tư số 14 hướng dẫn BHYT học
sinh thì việc triển khai được mở rộng hơn, đến năm 1998 đã có 3.688.706
người tham gia BHYT tự nguyện, tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 1995
tới năm 1998 là trên 10%, chững lại trong năm 1998-1999 do có tình trạng
Nguyễn Diệu Huyền Bảo hiểm xã hội - K48


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status