Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 35

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH THU HOI

THựC HIệN PHáP LUậT
Về BảO HIểM Xã HộI ở VIệT NAM HIệN NAY

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH THU HOI

THựC HIệN PHáP LUậT
Về BảO HIểM Xã HộI ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Lý lun v Lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN MINH TUN

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.1.3. Các nhân tố tác động đến chất lượng Bảo hiểm xã hội ..................................8
1.1.4. Cơ sở hình thành chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội .................................10
1.1.5. Vị trí, vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống chính sách và pháp
luật về xã hội .................................................................................................11
1.1.6. Phân biệt Bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại ..................................12
1.2.

Quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội .........................................................13

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm ....................................................................................13
1.2.2. Thành phần của quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội ...................................14
1.2.3. Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội ........................................18
1.2.4. Cơ sở phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật về bảo hiểm
xã hội ............................................................................................................20
1.3.

Qúa trình phát triển của chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta ...........21

1.3.1. Chính sách bảo hiểm xã hội giai đoạn trước năm 1961 ...............................21
1.3.2. Chính sách bảo hiểm xã hội giai đoạn từ 1962 đến 1994 ............................21
1.3.3. Chính sách bảo hiểm xã hội giai đoạn từ 1995 đến 2006 ............................23
1.3.4. Chính sách bảo hiểm xã hội từ 2006 đến nay ..............................................24


1.4.

Kinh nghiệm của các nước trong việc ban hành và thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội ........................................................................25

1.4.1. Kinh nghiệm của các nước thành viên tổ chức hợp tác và phát triển

2.2.1. Những ưu điểm của pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội ......................49
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong luật bảo hiểm xã hội hiện hành .....................52
2.3.

Những điểm mới của Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) .............................63

2.3.1. Về mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ........................................63
2.3.2. Về hoàn thiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội .................................63
2.3.3. Bổ sung quyền cho các chủ thể ....................................................................67
2.3.4. Bổ sung chức năng thanh tra cho tổ chức bảo hiểm xã hội..........................68
2.3.5.

Luật hóa một số nội dung trước đây giao Chính phủ quy định chi tiết ..............68


2.3.6. Đánh giá Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) .....................................................68
2.4.

Thực trạng của việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội .....................72

2.4.1. Những kết quả đạt được ...............................................................................72
2.4.2. Những vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện .....................75
2.4.3. Đánh giá thực hiện pháp luật về BHXH ở Việt Nam hiện nay ....................83
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI .....................................................................86
3.1.

Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội ...........86

3.1.1. Kiến nghị sửa đổi bổ sung Luật bảo hiểm xã hội .........................................86

KẾT LUẬN ............................................................................................................109
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................111


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHTN:

Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

BHYT:

Bảo hiểm y tế

ILO:

Tổ chức lao động quốc tế

KNLĐ:

Khả năng lao động

LĐ-TB-XH:

Lao động - Thương binh - Xã hội

OECD:

Theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), hiện nay có tới hơn 180
quốc gia trên thế giới đã áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Có
thể nói BHXH là lá chắn cho người lao động trước những rủi ro có thể dẫn tới mất
khả năng hoặc cơ hội lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn. Ở Việt Nam, BHXH là một
bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã hội, là trụ cột cơ bản của an sinh xã hội
được ghi nhận tại các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp qua các
thời kỳ. BHXH là vấn đề liên quan đến con người, đến cơ hội tồn tại và phát triển,
đến sự hưởng thụ các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, do vậy đòi hỏi phải
có những biện pháp điều chỉnh, kiểm soát, giải quyết theo hướng đảm bảo sự phát
triển bền vững của xã hội.
Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng”
được hình thành và phát triển đã tạo bước đột phá quan trọng cho sự bình đẳng của
người lao động. Người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế khác nhau, các
ngành nghề khác nhau, ở từng địa bàn khác nhau đều được tham gia BHXH. Phạm
vi, đối tượng không ngừng mở rộng đã thu hút được sự tham gia của hàng triệu
người lao động thuộc các thành phần kinh tế, tạo được sự yên tâm và tin tưởng
trong lao động, sản xuất, kinh doanh.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, BHXH đều có sự điều chỉnh, sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bao gồm những nội
dung về phạm vi đối tượng tham gia; loại hình BHXH; nội dung các chế độ; việc tổ
chức quản lý quá trình thực hiện cũng như khung pháp lý cho việc ban hành và thực
hiện chính sách BHXH.
Việc Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (có hiệu lực từ ngày
01/01/2007) đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện chính sách BHXH.
Đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội đã được triển khai thực hiện hơn 8 năm và từng
bước đi vào đời sống xã hội, trở thành một công cụ pháp luật có hiệu quả, góp phần
điều tiết xã hội, phục vụ công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1


chí, như:

2


- Đinh Quốc Dũng, Thực trạng và giải pháp về chế độ bảo hiểm xã hội hưu
trí ở Việt Nam, tạp chí BHXH tháng 3 năm 2010
- Lê Bạch Hồng, Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với
an sinh xã hội của đất nước, tạp chí Bảo hiểm Xã hội, số tháng 9 năm 2010
- Bùi Thị Lâm Hà, Chế độ tai nạn ở Việt Nam - nhìn từ cơ sở lý luận, tạp chí
BHXH tháng 6 năm 2011
- Phạm Đình Thành, 65 năm chính sách bảo hiểm xã hội phát triển cùng đất
nước, tạp chí Bảo hiểm Xã hội, tháng 8 năm 2010
- Ban quản lý dự án TF058179, Đánh giá hệ thống chính sách BHXH, Bản
tin số 25- Viện Khoa học BHXH, năm 2010
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vị trí, vai trò của
BHXH ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời đã đề xuất một số kiến
nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách về BHXH bắt buộc hiện nay.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa có công trình nào tiếp cận dưới góc
độ chuyên ngành lý luận pháp luật của vấn đề, mà mới chỉ đề cập tới từng lĩnh vực,
từng chế độ BHXH, chưa phân tích đầy đủ những khó khăn, vướng mắc của BHXH
bắt buộc hiện hành cả về nội dung những văn bản quy phạm pháp luật cũng như
công tác tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, trạng thực hiện Luật
BHXH để thông qua đó đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm tính hiệu quả, hợp
lý, hợp tình của chính sách BHXH là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực về mặt
lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Phù hợp với chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, mục đích

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đây là một đề tài phức tạp, đòi hỏi tính tổng hợp cao. Phương pháp nghiên
cứu của đề tài bao gồm phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp
tổng hợp… Tất cả các phương pháp trên đều được vận dụng trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như các phương pháp tiếp cận khách
quan, khoa học khác để từ đó rút ra những kết luận làm sáng tỏ mục đích của luận
văn, phục vụ cho lý luận và thực tiễn.

4


6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã đề cập tới một số vấn đề lý luận chưa từng được nghiên cứu
trước đó, những vấn đề mà luật BHXH hiện hành còn bỏ ngỏ, những nhóm giải
pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHXH và các giải pháp về tổ chức
thực hiện. Qua đó, nội dung một số quy định của luật BHXH được bổ sung, sửa đổi
một cách cơ bản; nội dung các chế độ BHXH được đề xuất điều chỉnh, hoàn thiện
cho phù hợp với thực tế nhằm khắc phục nhanh những tồn tại, hạn chế trong công
tác BHXH thời gian qua, phát huy tính ưu việt của BHXH trong đời sống xã hội.
7. Ý nghĩa của luận văn
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về BHXH ở
nước ta; đánh giá thực trạng BHXH trong thời gian qua, tác giả đề xuất những kiến
nghị và giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành
nhằm nâng cao chất lượng BHXH trong những năm tiếp theo cho phù hợp với điều
kiện thực tế của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu mới của phát triển kinh tế xã hội và hội
nhập của đất nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn bao gồm 3 chương:

nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. (Khoản 1, Điều 3 Luật BHXH 2006)
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và
người sử dụng lao động phải tham gia. (Khoản 2, Điều 3 Luật BHXH 2006)

6


Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống
hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. (định
nghĩa của Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO).
Chất lượng BHXH là mức độ mà các chế độ, chính sách BHXH đáp ứng
được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng.
Chất lượng BHXH phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và đáp ứng
những thay đổi của xã hội.
Chất lượng chính sách BHXH tốt phải phản ánh được tác động của nó đến
các tổ chức cũng như quyền lợi của các đối tượng thụ hưởng BHXH và mối quan
tâm chung của xã hội, đảm bảo phát huy những mặt tích cực và hạn chế những yếu
tố tiêu cực.
Chính sách bảo hiểm xã hội là những quy định chung của Nhà nước gồm
những chủ trương, định hướng lớn về các vấn đề cơ bản của BHXH, những mục
tiêu, đối tượng, phạm vi và chế độ trợ cấp, các nguồn đóng góp, cách thức tổ chức
thực hiện các chế độ BHXH.
Chính sách BHXH có thể biểu hiện dưới dạng hiến pháp, văn bản pháp luật...
song lại rất khó thực hiện nếu không được cụ thể hóa và không thông qua các chế
độ BHXH cụ thể.
Chế độ bảo hiểm xã hội là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy
định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
người lao động. Nói cách khác, đó là hệ thống các quy định được pháp luật hóa về đối

số lượng, mức tiền lương là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng BHXH. Việc các đối
tượng cố tình trốn đóng, nợ đọng, lạm dụng quỹ BHXH, không thực hiện các quy
định của pháp luật về BHXH sẽ gây ảnh hưởng tới quyền lợi của các đối tượng thụ
hưởng, làm giảm chất lượng BHXH.
Các yếu tố cấu thành chất lượng BHXH trên đây còn phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế - xã hội và chuẩn mực xã hội từng thời kì.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến chất lượng Bảo hiểm xã hội
- Nhóm các nhân tố liên quan đến điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước
Khả năng và tiềm lực phát triển kinh tế của mọi quốc gia thể hiện ở sự tăng

8


trưởng kinh tế. Trên bình diện quốc gia, tăng trưởng kinh tế làm cho cho ngân sách quốc
gia tăng lên và nhà nước có điều kiện thực thi chính sách an sinh xã hội. Mặt khác, khi
mức sống của nhân dân tăng lên, họ có điều kiện tham gia BHXH, sức hút của BHXH
thực sự lớn hơn (nhiều người tham gia hơn, khả năng đóng phí BHXH tăng cao hơn...)
và rủi ro xã hội (ốm đau, bệnh tật giảm xuống dẫn tới giảm phí đóng BHXH).
Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người càng được nâng
cao thì Nhà nước mới có điều kiện nâng mức đóng góp và mức hưởng BHXH của
người lao động và ngược lại.
Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, bất ổn đòi hỏi doanh nghiệp phải giảm lao
động, giảm tiền lương đóng BHXH làm ảnh hưởng tới quyền lợi người lao động.
- Nhóm các nhân tố liên quan đến chính sách, văn bản pháp luật về BHXH
Đây là khung pháp lý quy định rõ đối tượng áp dụng, quyền và nghĩa vụ các
bên tham gia BHXH, nội dung các chế độ BHXH. Một chính sách, chế độ không
hợp lý, không đảm bảo công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng sẽ ảnh hưởng lớn
tới chất lượng BHXH.
- Nhóm các nhân tố liên quan đến tổ chức thực hiện BHXH
Việc quy định đầy đủ, công khai minh bạch quy trình, thủ tục, hồ sơ, trách

kiện phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước. Khi nền kinh tế phát triển, các
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có lãi và tích luỹ để tái sản xuất, thì doanh
nghiệp mới có điều kiện đóng đủ BHXH theo quy định. Theo kinh nghiệm các
nước, trình độ phát triển BHXH của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Một quốc gia có hệ thống BHXH phát
triển thì quốc gia đó phải có nền kinh tế phát triển, phải có GDP bình quân đầu
người tương đối cao. Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người
càng được nâng cao thì Nhà nước mới có điều kiện nâng mức đóng góp và mức
hưởng BHXH của người lao động và ngược lại. Đó là mối quan hệ có tính quy luật
phải được vận dụng vào việc xây dựng chính sách BHXH ở nước ta.
- Điều kiện lịch sử:
Đây là điều kiện mang tính phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Đối
với nước ta, chính sách BHXH từ khi thành lập nước đến nay đều mang tính lịch sử
và điều này được thể hiện rõ nét qua từng thời kỳ phát triển của đất nước. Khi xây
dựng hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách BHXH Nhà nước ta đều căn cứ vào điều

10


kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ, chế độ BHXH trong từng thời kỳ đã góp phần
phục vụ các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ đó. Xây
dựng chính sách BHXH ở từng thời kỳ còn phải đảm bảo tính kế thừa, phát huy
những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại, hạn chế để từng bước hoàn thiện
chính sách BHXH, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước trong từng thời kỳ và
phù hợp với các thông lệ quốc tế [63].
1.1.5. Vị trí, vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống chính sách và pháp
luật về xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã khẳng định:
"Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có

phần bảo đảm cho quá trình sản xuất xã hội diễn ra bình thường, đời sống của các
thành viên trong xã hội an toàn và ổn định. Tuy nhiên BHXH khác bảo hiểm thương
mại ở chỗ:
- Đối tượng tham gia BHXH chủ yếu là lực lượng lao động trong khi bảo
hiểm thương mại là toàn dân.
- BHXH không mang tính kinh doanh, mang tính cộng đồng và nhân đạo,
nhân văn sâu sắc, không kinh doanh vì lợi nhuận nhưng bảo hiểm thương mại mang
tính chất kinh doanh.
- BHXH có quan hệ lâu dài, tương đối ổn định và chủ yếu dựa trên quan hệ
lao động và quan hệ phân phối, trong khi quan hệ của bảo hiểm thương mại thường
chỉ phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian xác định khi tham gia mua bảo
hiểm hoặc ký hợp đồng bảo hiểm.
- Đối tượng bảo hiểm của BHXH chủ yếu là thu nhập của người lao động
trong khi các hình thức bảo hiểm khác lựa chọn tài sản, trách nhiệm, sức khỏe, tính
mạng con người… làm đối tượng bảo hiểm.
- Quỹ BHXH do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp và sự hỗ
trợ từ nhà nước trong khi các quỹ bảo hiểm khác chỉ do người tham gia bảo hiểm
đóng góp.
- Hoạt động BHXH có sự tham gia của cơ chế ba bên, chịu sự quản lý của
Nhà nước và được Nhà nước bảo trợ trong khi bảo hiểm thương mại chủ yếu có hai
bên, người có nhu cầu bảo hiểm và người nhận bảo hiểm [64, tr. 26-29]

12


1.2. Quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, quan hệ pháp luật là quan hệ
xã hội được pháp luật điều chỉnh. Từ khái niệm như vậy thì quan hệ pháp luật về
BHXH được hiểu là quan hệ xã hội được pháp luật về BHXH điều chỉnh. Căn cứ

nước. Quan hệ BHXH tự nguyện là một dạng biến thái của quan hệ BHXH, đánh
dấu bước phát triển tiến bộ của chính sách BHXH ở nước ta.
- Quan hệ pháp luật BHXH tự nguyện:
+ Quan hệ pháp luật về BHXH tự nguyện là mối quan hệ hai bên giữa tổ
chức BHXH và người lao động được pháp luật về BHXH tự nguyện điều chỉnh.
+ Người lao động tự mình thực hiện giao dịch BHXH
+ Khách thể của quan hệ pháp luật về BHXH tự nguyện khác với khách thể
của quan hệ pháp luật BHXH bắt buộc. Nếu như quan hệ pháp luật BHXH bắt buộc,
người lao động hướng tới 5 chế độ thì trong BHXH tự nguyện, khách thể là hai chế
độ dài hạn: hưu trí và tử tuất.
+ Quan hệ pháp luật về BHXH tự nguyện hình thành theo ý chí chủ quan của
người lao động và người lao động phải đóng toàn bộ phí BHXH. Do vậy nội dung
và sự kiện pháp lý cũng có nhiều khác biệt.
1.2.2. Thành phần của quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội
1.2.2.1. Chủ thể
* Bản thân người lao động:
Quan hệ pháp luật BHXH phát sinh sau khi quan hệ lao động được thiết lập.
Chính vì vậy chủ thể của quan hệ BHXH là chủ thể của quan hệ lao động được xác
lập trước đó và phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể của quan hệ lao
động về năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật của người lao động là khả năng người nào đó được pháp
luật quy định cho các quyền và buộc phải gánh vác những nghĩa vụ lao động. Năng
lực pháp luật lao động là năng lực khách quan, ở bên ngoài và không phụ thuộc vào
ý chí của người lao động, thậm chí kể cả người sử dụng lao động.
Theo quy định hiện hành của pháp luật lao động, độ tuổi được tham gia quan
hệ lao động, hay nói cách khác được coi là có tư cách, có năng lực pháp luật, có thể
tham gia vào quan hệ lao động khi đủ 15 tuổi trở lên và không có giới hạn trên về

14



15


Bảo hiểm xã hội 2006. Khác với người lao động phải đáp ứng yêu cầu về năng lực
chủ thể, năng lực hành vi thì thân nhân người lao động chỉ cần có năng lực pháp luật.
Loại chủ thể này tham gia thụ động vào quan hệ pháp luật BHXH và được pháp luật
BHXH bảo vệ. Kế thừa chế định thừa kế của pháp luật dân sự, căn cứ để xác định
thân nhân trong BHXH là quan hệ hôn nhân, huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của BHXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc nên
thứ tự hưởng trợ cấp BHXH đôi khi xác định theo mức độ yếu thế của đối tượng
được hưởng. Ví dụ như trong trường hợp tuất hàng tháng thì quan hệ huyết thống
được đặt lên trước quan hệ hôn nhân, nhưng trong trường hợp tuất một lần, khoản trợ
cấp được hiểu như tài sản thừa kế thì quan hệ hôn nhân được đặt lên trước.
Sự phân loại trên chỉ mang tính tương đối bởi có trường hợp chủ thể là thân
nhân người lao động tham gia đồng thời với người lao động như phân tích ở trên, đó
là sự minh chứng cho tính đa dạng, phức tạp và đặc thù của quan hệ BHXH.
* Người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động là “cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ
trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế
hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể,
tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người
lao động” 19, Điều 2, Khoản 2].
Điều kiện của người sử dụng lao động: Muốn tham gia quan hệ pháp luật lao động
thì người sử dụng lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật lao động là khả năng được pháp luật quy định quyền nhất
định để có thể tham gia quan hệ pháp luật lao động. Không có được quyền đó thì tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân không thể thực hiện các hoạt động tuyển dụng.
Cá nhân sử dụng lao động: Theo quy định của pháp luật lao động, cá nhân

BHXH với tư cách là người sử dụng lao động đồng thời là đại diện cho Nhà nước.
Ví dụ: Quan hệ BHXH giữa cơ quan BHXH với cán bộ, công chức của cơ quan đó.
1.2.2.2. Khách thể của quan hệ pháp luật BHXH
Khách thể của quan hệ pháp luật là cái thúc đẩy các bên tham gia vào quan
hệ pháp luật. Như vậy khách thể của quan hệ pháp luật BHXH đối với từng bên
không giống nhau nhưng để tiến tới mục đích cuối cùng là an sinh xã hội.

17



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status