Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - Pdf 48

Bộ tư pháp
Trường đại học luật hà nội
===*===

đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

hoàn thiện pháp luật
về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Thị Kim Phụng
Phó trưởng Bộ môn Luật lao động

Hà nội - 2006


Những từ viết tắt trong đề tài

Từ viết tắt

đọc đầy đủ

BHXH

Bảo hiểm xã hội

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ


2. Thực trạng và hướng hoàn thiện các chế độ BHXH, quỹ BHXH ở VN

16

3. Thực trạng và hướng hoàn thiện các quy định về tổ chức quản lý, giải

29

quyết tranh chấp và đảm bảo thực thi BHXH ở Việt Nam
4. Kiến nghị hình thành các chế độ BHXH mới ở Việt Nam

41

Phần II: Các chuyên đề nghiên cứu

47

Chuyên đề 1: Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH ở Việt Nam

47

Chuyên đề 2: Đánh giá, hoàn thiện chế độ bảo hiểm ốm đau, dưỡng sức lao động

56

Chuyên đề 3: Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền
lợi của lao động nữ

74



177

Chuyên đề 12: Khả năng và dự kiến hình thành chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở VN

187

Chuyên đề 13: Khả năng và dự kiến hình thành chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở
Việt Nam

201

Danh mục tài liệu tham khảo

220

Phụ lục: Những công trình của các tác giả có liên quan đến đề 223
tài được công bố trong quá trình thực hiện đề tài

3


Chủ nhiệm và thư ký đề tài
----------------Chủ nhiệm đề tài:

ThS. Nguyễn Thị Kim Phụng
Phó trưởng Bộ môn Luật lao động

Thư ký đề tài:


Giảng viên LLĐ

Chuyên đề 3

6. ThS. Trần Thị Thuý Lâm

Giảng viên LLĐ

Chuyên đề 5, 6

7. ThS. Nguyễn Hiền Phương

Giảng viên LLĐ

Chuyên đề 7, 12

8. ThS. Nguyễn Xuân Thu

Giảng viên LLĐ

Chuyên đề 2, 11, 13

4


lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
BHXH là một chính sách xã hội có phạm vi tác động rộng lớn. Một chính
sách BHXH đầy đủ sẽ có đối tượng áp dụng là toàn bộ lực lượng lao động xã
hội, trong và sau quá trình lao động, và những thành viên trong gia đình họ. Theo


hiểm, sửa đổi, bổ sung những quy định còn bất cập trong hệ thống pháp luật hiện
hành, cụ thể hoá BHXH tự nguyện, triển khai thực hiện hiệu quả chính sách này
trên thực tế...
Trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, BHXH bao giờ cũng
được xác định là trụ cột bởi đối tượng tác động và phạm vi ảnh hưởng của nó.
Lịch sử hình thành và phát triển của BHXH ở Việt Nam cũng đã khẳng định vai
trò này của BHXH. Một thời gian dài (từ 1945 đến 1995) các quy định về BHXH
ở nước ta chỉ tồn tại ở dạng văn bản dưới luật, với số lượng lớn, khó tra cứu,
tuyên truyền, thực hiện; nội dung còn có điểm trùng chéo, mâu thuẫn, thể hiện
một chính sách chắp vá, chưa được hoạch định trong dài hạn. BLLĐ (có hiệu lực
từ 01/01/1995) đã dành Chương XII (từ Điều 140 đến Điều 152) quy định về
BHXH. Tuy nhiên, đó chỉ là những quy định có tính nguyên tắc. Còn tất cả
những quy định cụ thể đều nằm trong văn bản dưới luật, đôi khi còn thấy cả
trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật (không phải là văn bản quy
phạm pháp luật), như: công văn của Bộ LĐTBXH, công văn của BHXH Việt
Nam... Pháp luật về BHXH trở thành lĩnh vực pháp luật chậm thay đổi hơn so với
các lĩnh vực pháp luật khác, trong khi nền tảng kinh tế - xã hội của nó đã có sự
thay đổi cơ bản. Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả thi hành
pháp luật về BHXH trên thực tế. Chính vì thế, pháp điển hoá các quy định của
Nhà nước về BHXH là vấn đề chúng ta đã đặt ra từ lâu và cũng là mối quan tâm
của nhiều giới trong xã hội bởi lợi ích đa diện của nó.
Dự thảo Luật BHXH được khởi thảo từ năm 1999, dự kiến thông qua năm
2001. Nhưng do tính phức tạp của vấn đề mà dự kiến này chưa được thực hiện.
Việc thông qua Luật BHXH đã được Quốc hội đưa vào kế hoạch năm 2006. Quá
trình xây dựng dự thảo Luật BHXH cũng là quá trình chúng ta phải rà soát lại
toàn bộ hệ thống quy định hiện hành về BHXH để sắp xếp lại theo một trật tự
hợp lý hơn; loại bỏ, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp; bổ sung các nội
dung, chế độ mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra...Đây là công việc phức
tạp, không thể chỉ thuộc trách nhiệm của Ban soạn thảo và các đại biểu Quốc

Như đã khẳng định, BHXH là một chính sách xã hội lớn, được nhiều cấp,
bộ, ngành và nhiều giới quan tâm. Vì vậy, trên thực tế ở nước ta đã có khá nhiều

7


đơn vị, cá nhân có những công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp độ khác
nhau về vấn đề này. Trong đó, điển hình phải kể đến các công trình:
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Nghiên cứu
xây dựng luận cứ khoa học cơ bản để hoàn thiện hệ thống BHXH ở Việt Nam do
TS Nguyễn Huy Ban làm chủ nhiệm (năm 2001);
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Vụ bảo hiểm xã hội thuộc Bộ
LĐTBXH: Xác định những nội dung cơ bản của Luật BHXH, mã số CB - 17 2000;
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Năng Khánh về Bảo hiểm thất nghiệp
(2002);
- Luận văn thạc sĩ của Đỗ Trần Mai Thương về hoàn thiện pháp luật quản
lý thu, chi BHXH (năm 2004)...
- Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hoài Thu về BHXH thất nghiệp (năm 2005);
- Một số bài viết trên tạp chí, chủ yếu là Tạp chí Lao động - Xã hội, bảo
hiểm xã hội...
Nhìn chung, một số trong các công trình trên đã được ứng dụng kết quả
trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2002 và ban hành Nghị định số
01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về BHXH. Một số khác chưa thể hiện góc
nhìn toàn diện về pháp luật BHXH ở Việt Nam hoặc chủ yếu nghiên cứu BHXH
dưới góc độ kinh tế xã hội.
Hiện nay, còn hàng loạt vấn đề cần phải có sự nghiên cứu để có hướng
quy định trong Luật BHXH cho hợp lý, đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức quản lý
BHXH trong nền kinh tế thị trường và nhu cầu BHXH của NLĐ, như: hoàn thiện
các chế độ BHXH ngắn hạn; quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý và công thức tính
mức bảo hiểm hưu trí; bảo tồn và phát triển quỹ BHXH; các biện pháp bảo đảm

4. Kết cấu của Đề tài (Nội dung nghiên cứu):
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu đã xác định, ngoài phần mở đầu và
báo cáo phúc trình, Đề tài được kết cấu thành 4 nhóm với 13 chuyên đề.
Nhóm thứ nhất: Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH ở Việt
Nam. Nhóm này có 1 chuyên đề với tên gọi tương ứng.

9


Nhóm thứ hai: Thực trạng và hướng hoàn thiện các chế độ BHXH, quỹ
BHXH ở Việt Nam. Nhóm này bao gồm 7 chuyên đề:
- Chuyên đề 2: Đánh giá, hoàn thiện chế độ bảo hiểm ốm đau và dưỡng
sức lao động.
- Chuyên đề 3: Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện để bảo vệ
quyền lợi của lao động nữ.
- Chuyên đề 4: Hoàn thiện pháp luật BHXH để đảm bảo quyền lợi cho
NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiêp.
- Chuyên đề 5: Đánh giá và hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí
- Chuyên đề 6: Đánh giá và hoàn thiện chế độ bảo hiểm tử tuất
- Chuyên đề 7: Chế độ bảo hiểm y tế và kiến nghị khi xây dựng Luật
BHXH.
- Chuyên đề 8: Quỹ BHXH và hướng hoàn thiện để bảo tồn, phát triển quỹ
BHXH.
Nhóm thứ ba: Thực trạng và hướng hoàn thiện vấn đề tổ chức quản lý, giải
quyết tranh chấp và bảo đảm thực hiện BHXH. Nhóm này có 3 chuyên đề:
- Chuyên đề 9: Thực trạng và hướng hoàn thiện hệ thống quản lý BHXH.
- Chuyên đề 10: Giải quyết tranh chấp về BHXH và kiến nghị hoàn thiện.
- Chuyên đề 11: Thực trạng và hướng hoàn thiện các biện pháp bảo đảm
thực hiện BHXH.
Nhóm thứ tư: Kiến nghị việc hình thành các chế độ bảo hiểm xã hội mới

- Tổ chức các phiên họp triển khai thực hiện đề tài (phân công thạc sĩ
Nguyễn Xuân Thu - giảng viên Bộ môn Luật lao động làm thư ký đề tài và phân
công công việc cho các tác giả của Đề tài);
- Các tác giả thu thập tài liệu và viết các Chuyên đề của Đề tài;
- Thu các bài viết, biên tập và viết báo cáo phúc trình;
- Hoàn chỉnh, đóng cuốn, nộp phòng quản lý khoa học của Trường để tổ
chức nghiệm thu.
Toàn bộ quá trình thực hiện, từ khi ký hợp đồng nghiên cứu đến khi nộp
đề tài cho Phòng quản lý khoa học Trường trong thời gian 12 tháng.

11


Phần I
Báo cáo phúc trình đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Giới thiệu chung:
"Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam" là một Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường do Bộ môn Luật lao động, Khoa pháp luật kinh
tế đảm nhận. Nội dung của đề tài được chia thành 4 nhóm, gồm 13 chuyên đề.
Nhóm thứ nhất: Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH ở Việt
Nam. Nhóm này được triển khai bằng Chuyên đề 1 với nội dung chủ yếu là phân
tích, đánh giá sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về BHXH từ
năm 1945 đến nay với các giai đoạn được chia căn cứ vào những sự kiện quan
trọng của việc thay đổi, chính sách, pháp luật BHXH ở nước ta. Mỗi giai đoạn
đều đánh giá một cách khái quát các vấn đề: đối tượng tham gia bảo hiểm; các
chế độ bảo hiểm; quỹ bảo hiểm; tổ chức quản lý BHXH...Trong đó, nội dung
được chú ý hơn cả chính là đánh giá hệ thống pháp luật hiện hành về BHXH ở

độ bảo hiểm mới nên quy định trong thời gian tới để hoàn thiện pháp luật và đáp
ứng nhu cầu về BHXH ở nước ta - đó là chế độ BHXH tự nguyện và chế độ bảo
hiểm thất nghiệp. Những cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn được làm rõ trong
Đề tài nhằm khẳng định sự cần thiết và khả năng thực hiện BHXH tự nguyện và
bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam. Điều đáng chú ý hơn ở phần này là tác giả các
chuyên đề đã đề xuất những nội dung cụ thể cho các chế độ bảo hiểm mới, như:
đối tượng áp dụng, mức đóng, hưởng, thời gian hưởng bảo hiểm, quỹ bảo hiểm,
vấn đề tổ chức quản lý... ở từng nội dung đề xuất đều có sự luận giải rõ ràng và
tương đối hợp lý về cơ sở và xu hướng vấn động chung của chính sách, pháp luật
BHXH ở nước ta.
Sau đây là những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Đề tài được báo cáo
theo 4 nhóm nội dung đã đề cập:
1. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về BHXH ở Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH ở Việt Nam có thể
được nghiên cứu theo 4 giai đoạn: 1945 đến 1960; 1961 đến 1984; từ 1985 đến

13


1994 và từ 1995 đến nay. Cơ sở của sự phân chia này là những dấu mốc quan
trọng của việc đổi mới chính sách, pháp luật BHXH ở nước ta. Trong từng giai
đoạn phát triển, cùng với việc chỉ ra những cơ sở pháp lý (văn bản pháp luật) chủ
yếu, Đề tài còn đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong chính sách, pháp luật
và thực tế thực hiện BHXH; phân tích những điểm mới cơ bản trong nội dung
chính sách, pháp luật BHXH của giai đoạn sau so với giai đoạn trước. Trong đó,
việc phân tích những thành công và hạn chế của chính sách, pháp luật BHXH
giai đoạn 1995 đến nay được chú ý hơn cả bởi đây chính là hệ thống chính sách,
pháp luật hiện hành. Việc đánh giá cụ thể sẽ là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp
luật BHXH trong giai đoạn tiếp theo. Những ưu điểm và hạn chế của vấn đề này
được đánh giá một cách toàn diện, bao gồm: đối tượng áp dụng; hệ thống các

tương đối hợp lý cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhu cầu, nguyện vọng của
người tham gia bảo hiểm từng thời kỳ. Quỹ BHXH phát triển từ sự bao cấp hoàn
toàn của Nhà nước, đến sự tham gia đóng góp một phần của NSDLĐ, tiến tới
trách nhiệm đóng góp của cả hai bên trong quan hệ lao động để tạo điều kiện
thực tế tách quỹ BHXH độc lập so với ngân sách Nhà nước. Công tác quản lý
nhà nước và quản lý nghiệp vụ BHXH ngày càng được củng cố và tăng cường.
Đặc biệt từ khi BHXH Việt Nam đi vào hoạt động với tư cách là hệ thống cơ
quan độc lập, sự nghiệp BHXH ở nước ta đã mang tính chuyên nghiệp hơn so với
các giai đoạn trước. Các biện pháp đảm bảo thực hiện BHXH cũng từng bước
được hoàn thiện và phát huy tác dụng trên thực tế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn những tồn tại cần khắc
phục trong cả nội dung chính sách, pháp luật và thực tiễn thi hành BHXH ở nước
ta. Theo Báo cáo kết quả điều tra lao động-việc làm 01/7/2005 (trang 10) của
Ban chỉ đạo điều tra lao động - việc làm trung ương, ở nước ta hơn 74% lực
lượng lao động xã hội chưa được xác định là đối tượng áp dụng của BHXH (đối
tượng không có quan hệ lao động) và hơn 85% lực lượng lao động (con số thực
tế) không tham gia BHXH chính là minh chứng cho sự cần thiết phải mở rộng
đối tượng tham gia BHXH ở nước ta trong thời gian tới. Chúng ta cũng dễ nhận
thấy sự thiếu vắng một số chế độ bảo hiểm mà thực tế cuộc sống đang đòi hỏi
như: bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện. Nhiều nội dung của các chế độ

15


BHXH hiện hành cũng đã tỏ ra lạc hậu cần phải được điều chỉnh cho phù hợp
hơn. Nguồn thu, nguồn chi, vấn đề quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ BHXH cũng
còn nhiều vướng mắc, chưa tạo cơ sở vững chắc cho sự độc lập hoàn toàn với
ngân sách nhà nước. Hiệu quả của công tác quản lý cũng như các biện pháp bảo
đảm thực hiện BHXH trên thực tế chưa đạt được như mong muốn...
Với những nội dung như vậy, chuyên đề 1 đưa ra một cách nhìn toàn diện

bảo hiểm được quy định tuỳ thuộc vào điều kiện lao động, tình trạng bệnh tật,
thời gian tham gia BHXH của NLĐ, độ tuổi của con nhỏ ốm, nguyên tắc công
bằng... Mức hưởng bảo hiểm, nhìn chung, được quy định một tỷ lệ cố định bằng
75% mức lương làm căn cứ đóng của tháng trước liền kề, đảm bảo công bằng
cho những NLĐ tham gia bảo hiểm... Bảo hiểm dưỡng sức lao động gắn liền với
tất cả các chế độ BHXH ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu của NLĐ bị suy giảm sức
khoẻ. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức có sự tính toán tương đối hợp lý cho
từng loại đối tượng và trường hợp nghỉ dưỡng sức.
Chế độ thai sản được thực hiện tương đối toàn diện cho cả thời gian mang
thai, sinh con của lao động nữ và khi NLĐ nhận nuôi con nuôi. Tính nhân đạo và
tính xã hội được thể hiện một cách sâu sắc ở chỗ Nhà nước quy định trợ cấp cho
lao động nữ trong tất cả các lần mang thai và sinh con; lao động cả nam và nữ
nhận nuôi con nuôi đều thuộc diện được trợ cấp; thời gian nghỉ hưởng trợ cấp khi
lao động nữ sinh con tương đối dài trong tương quan so sánh với quy định này
của các nước khác...Thời gian trợ cấp bảo hiểm đã có sự phân biệt tương đối rõ
nét theo nhóm NLĐ, điều kiện lao động và có tính tới quyền lợi chính đáng của
NSDLĐ. Mức trợ cấp thai sản ngoài việc bảo đảm quyền lợi cho NLĐ bị gián
đoạn thu nhập, còn tính đến quyền lợi của trẻ sơ sinh. Đặc biệt, thời gian NLĐ
nghỉ thai sản vẫn được tính là thời gian tham gia BHXH, mặc dù trong thời gian
này họ không phải đóng vào quỹ BHXH.
Các quy định của pháp luật về chế độ trợ cấp cho NLĐ bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp bước đầu đã bảo vệ được quyền lợi chính đáng của
những NLĐ này. Các trường hợp được coi là tai nạn lao động nhìn chung đã bao
quát đầy đủ các tai nạn có thể xảy ra liên quan đến nghĩa vụ lao động, thậm chí
còn theo hướng mở rộng có lợi cho NLĐ. Các chế độ trợ cấp cho NLĐ bị tai nạn

17


lao động, bệnh nghề nghiệp đã tính đến tương đối đầy đủ các tình huống và các



có thể được trợ cấp một lần từ quỹ hưu trí (theo quy định tại Thông tư số
07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003)...
NLĐ đang làm việc (có tham gia BHXH) và NLĐ đang hưởng BHXH
hàng tháng bị chết vì bất kỳ lý do gì, người lo mai táng đều thuộc đối tượng
hưởng trợ cấp mai táng phí từ quỹ BHXH. Đây là quy định có ý nghĩa xã hội và
có tính nhân đạo sâu sắc của pháp luật về chế độ tử tuất. Việc quy định mức trợ
cấp, mặc dù theo thời giá thị trường hiện nay là thấp, nhưng đã tính tương đối đủ
các nhu cầu tối thiểu cho việc mai táng người chết. Chế độ tiền tuất bao gồm chế
độ hàng tháng và chế độ một lần áp dụng cho các trường hợp và các đối tượng
khác nhau. Các đối tượng được trợ cấp tuất hàng tháng có sự khống chế về mặt
số lượng và theo khả năng kinh tế của thân nhân người chết. Mức trợ cấp tuất
hàng tháng có sự phân biệt theo nhóm đối tượng và cũng theo khả năng kinh tế
của người được trợ cấp...
Chế độ bảo hiểm y tế (bao gồm bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm ý tế tự
nguyện) nhìn chung đã được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội theo
nguyên tắc thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Hầu như không có sự phân biệt về
quyền lợi giữa người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện. Đặc biệt,
quyền lợi của người có thẻ bảo hiểm y tế ngày càng được bảo đảm ở mức độ cao
hơn và thuận lợi hơn (vấn đề khám chữa bệnh theo tuyến, tự do lựa chọn nơi
khám chữa bệnh, sử dụng dịch vụ y tế, mức thanh toán...). Mức đóng bảo hiểm y
tế được thiết kế theo hình thức tham gia bảo hiểm và nhóm người tham gia một
cách tương đối hợp lý. Việc tổ chức, quản lý bảo hiểm y tế đã quy về một mối và
đã có cơ chế phối hợp giữa cơ quan BHXH với các cơ sở khám chữa bệnh trong
việc thực hiện bảo hiểm y tế cho các đối tượng tham gia...
Cùng với việc đánh giá những điểm phù hợp của pháp luật hiện hành về các
chế độ BHXH, bảo hiểm y tế, nhóm chuyên đề hai của Đề tài còn thiết kế một
chuyên đề (chuyên đề 8) để đánh giá các quy định của pháp luật về quỹ BHXH.
Nguồn thu của quỹ đã được quy định theo hướng đảm bảo tính độc lập của quỹ

dân số (liên quan đến điều kiện trợ cấp đối với NLĐ nghỉ việc chăm sóc con
ốm), đặc biệt có sự nhầm lẫn giữa đối tượng hưởng chế độ thai sản và đối tượng
hưởng chế độ ốm đau (xếp các đối tượng thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá
dân số trong chế độ ốm đau). Nhà nước cũng chưa quy định thời gian đóng

20


BHXH tối thiểu là một điều kiện bắt buộc đối với NLĐ khi hưởng bảo hiểm và
điều này có thể bị lạm dụng, làm phương hại tới tài chính của quỹ bảo hiểm.
Thời gian hưởng bảo hiểm tuy đã có sự phân định theo điều kiện lao động, thời
gian tham gia BHXH, tình trạng bệnh tật của NLĐ, độ tuổi của con NLĐ bị ốm
đau và tính tới khả năng cân đối quỹ, nhưng vẫn chưa có sự phân chia một cách
thực sự hợp lý theo nhóm NLĐ có nhu cầu bảo hiểm, chưa có sự khống chế cần
thiết đối với lao động thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và những NLĐ mắc
bệnh cần điều trị dài ngày theo danh mục do Bộ Y tế quy định. Mức trợ cấp ốm
đau chưa tính đến việc bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thụ hưởng và còn
có sự chênh lệch bất hợp lý giữa NLĐ trong lực lượng vũ trang nhân dân với
NLĐ bình thường khác...
Việc xét và đưa các đối tượng vào danh sách hưởng chế độ dưỡng sức lao
động hầu như thiếu sự kiểm soát cần thiết từ phía cơ quan BHXH làm cho khoản
chi này có thể sai mục đích và gây tổn hại cho quỹ bảo hiểm. Mức trợ cấp dưỡng
sức đã có tính đến nhu cầu của người nghỉ dưỡng sức tại nhà và tại cơ sở tập
trung. Tuy nhiên quy định này còn cứng nhắc (quy định mức cố định), có thể
làm cho mức trợ cấp nhanh chóng bị lạc hậu mỗi khi điều kiện sống thay đổi.
Đồng thời mức trợ cấp hiện nay là quá thấp, không thể đáp ứng các nhu cầu tối
thiểu của người hưởng bảo hiểm, nhất là người nghỉ dưỡng sức tại cơ sở tập
trung.
Quy định về đối tượng hưởng bảo hiểm chưa bao quát được hết các trường
hợp trên thực tế và chưa quy định thời gian tham gia bảo hiểm tối thiểu trước khi

động, bệnh nghề nghiệp...
Chế độ bảo hiểm hưu trí, như đã khẳng định, là chế độ bảo hiểm có một vị
trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống BHXH nói chung. Bên cạnh những ưu
điểm đã có, chế độ này cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế. Sự lồng ghép chính sách
lao động việc làm, chính sách ưu đãi xã hội trong chế độ bảo hiểm hưu trí đã làm
giảm tính công bằng và làm tăng gánh nặng cho quỹ bảo hiểm (thể hiện trong
các trường hợp giảm tuổi đời cho NLĐ nghỉ hưu hưởng với mức đầy đủ và các
trường hợp hưởng lương hưu với mức thấp hơn). Tỷ lệ lương hưu tuy cao, nhưng
được tính trên mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH (mức lương cấp bậc, chức
vụ, hợp đồng và một số chế độ phụ cấp nếu có, chứ không phải mức thu nhập

22


thực tế của NLĐ) nên thực tế nhiều trường hợp chưa đảm bảo đời sống cho người
hưởng lương hưu. Cách tính mức bình quân tiền lương tháng để tính lương hưu
của những NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo các mức lương trong
thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định tuy có lợi cho NLĐ, nhưng lại
ảnh hưởng tương đối lớn tới vấn đề cân đối thu chi của quỹ bảo hiểm, lại có sự
phân hiệt khu vực Nhà nước và các khu vực khác. Quy định về chế độ trợ cấp
một lần như hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của NLĐ tham gia
BHXH, nhưng lại không phù hợp với bản chất của chế độ hưu trí là bảo hiểm
tuổi già và ảnh hưởng tới tính ổn định về tài chính của quỹ bảo hiểm. Điều đó
đặc biệt không phù hợp khi tổ chức BHXH tự nguyện..
Chế độ bảo hiểm tử tuất, có thể khẳng định, là một chế độ đơn giản hơn
cả. Vì thế, những hạn chế trong các quy định của chế độ này nhìn chung là ít
hơn so với các chế độ bảo hiểm khác. Mức trợ cấp chưa đảm bảo các chi phí cần
thiết cho tang lễ của NLĐ được xem là điểm bất hợp lý duy nhất trong các quy
định về chế độ trợ cấp mai táng phí hiện nay. Còn đối với chế độ tiền tuất, điều
kiện hưởng tuất hàng tháng chưa bảo đảm thực sự cân đối quỹ; đối tượng hưởng

mất cân đối nghiêm trọng của quỹ BHXH. Theo dự báo của các chuyên gia tài
chính, đến năm 2022 mức thu sẽ bằng mức chi bảo hiểm và quỹ bảo hiểm sẽ
giảm dần vào những năm sau đó và có thể sẽ lâm vào tình trạng thu không đủ
chi. Trong khi đó, việc xác định mức thu, căn cứ thu chi quỹ chưa hoàn toàn hợp
lý được xem là một hạn chế lớn của quy định về quỹ BHXH hiện nay (không
quy định thu BHXH trên mức thu nhập thực tế của NLĐ; nhiều trường hợp việc
hưởng bảo hiểm của NLĐ không phụ thuộc vào mức đóng góp cho quỹ BHXH;
mức bảo hiểm và cách tính mức bảo hiểm trong một số chế độ hoặc với một số
nhóm đối tượng hưởng bảo hiểm không đảm bảo công bằng...). Việc trốn đóng
BHXH còn là hiện tượng phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp. Cùng với
những hiện tượng đó, những quy định và thực tế hoạt động đầu tư bảo tồn, tăng
trưởng quỹ BHXH hiện nay chưa hiệu quả. Tiền nhàn rỗi của quỹ khi đưa vào
đầu tư theo các biện pháp đã được ấn định hầu như tỷ lệ lãi suất rất thấp, tiền lãi
thu được chỉ đủ bù trượt giá sinh hoạt trên thị trường, thậm chí nhiều khi còn
không đủ...

24


2.3. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các chế độ và quỹ
BHXH
Trước thực trạng về các chế độ và quỹ BHXH như đã phân tích, đánh giá,
cần có những giải pháp hợp lý để giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề này trong
thời gian tới. Trong đó các giải pháp được quan tâm nhiều hơn cả chính là việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật về các chế độ và quỹ BHXH hiện hành. Đây cũng
chính là một trong những nội dung quan trọng được giải quyết trong tất cả các
chuyên đề thuộc nhóm hai của Đề tài. Có thể khát quát những kiến nghị nhằm
hoàn thiện các chế độ và quỹ BHXH như sau:
Đối với chế độ ốm đau và dưỡng sức lao động:
i) Về đối tượng và điều kiện: cần chuyển đối tượng được bảo hiểm trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status