LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý
dân ở Việt Nam hiện nay Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ tiến bộ đã được sử dụng từ cách đây
hàng nghìn năm, trong đó nhà nước tạo cơ hội cho người dân được trực tiếp quyết định
đối với một số công việc của Nhà nước. Thông qua hình thức dân chủ này, người dân
được trực tiếp tham gia vào việc hoạch định các chính sách, quyết sách lớn của đất
Trên cơ sở đó, vấn đề Hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam
hiện nay là vấn đề rất cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Lựa chọn vấn đề này làm
luận văn thạc sĩ, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc xây
dựng các cơ sở pháp lý bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo nên sự
thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, để hướng tới xây dựng một nền dân chủ mới - nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa.
2. Tình hình nghiên cứu
Như trên đã trình bày, trưng cầu ý dân là vấn đề ít được các nhà khoa học pháp lý
của nước ta chú ý đến. Có lẽ vì vậy nên chưa có công trình khoa học lớn nào nghiên cứu
sâu và trực diện về vấn đề này. Cho đến nay, mới chỉ có một số bài viết đề cập đến một số
khía cạnh của vấn đề trưng cầu ý dân như: Bàn về chế định trưng cầu ý dân (Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 57, tháng 8 năm 2005); Trưng cầu ý dân ở Liên Xô và liên bang
Nga (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 59, tháng 9 năm 2005); Đánh giá kết quả trưng cầu ý
dân ở Australia (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 67, tháng 1 năm 2006); Trưng cầu ý dân
và dự thảo Luật về trưng cầu ý dân (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Hiến kế lập pháp, số 68,
tháng 2 năm 2006); Thủ tục trưng cầu ý dân (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 69, tháng 2
năm 2006). Ngoài ra, cũng còn có một số bài viết khác tuy không trực tiếp viết về vấn đề
trưng cầu ý dân nhưng trong nội dung cũng có đề cập đến vấn đề trưng cầu ý dân như: Một
số ý kiến về dân chủ trực tiếp (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 128, tháng 12 năm 1998
v.v
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam từ khi hình thành
cho đến nay, phân tích những mặt hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành
để từ đó kiến giải những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt
Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Trưng cầu ý dân bao gồm rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải được quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn
có tham khảo kinh nghiệm của một số nước.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, tập trung và trực
diện về vấn đề trưng cầu ý dân ở Việt Nam ở cả góc độ lịch sử và hiện tại; đưa ra một
quan điểm thống nhất về trưng cầu ý dân và vai trò của trưng cầu ý dân trong việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đề ra các giải pháp tổng thể cho việc hoàn
thiện pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
Luận văn có đóng góp về lý luận cho việc phát huy dân chủ trong xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống
pháp luật; về mặt thực tiễn, góp phần hiện thực hóa các quy định của pháp luật về trưng
cầu ý dân. Ngoài ra, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, để
nghiên cứu, giảng dạy, học tập, phục vụ cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật
về phát huy quyền làm chủ của nhân dân nói chung và pháp luật về trưng cầu ý dân nói
riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 9 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật
về trưng cầu ý dân
1.1. Tổng quan về trưng cầu ý dân
1.1.1. Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ
Trưng cầu ý dân là một thuật ngữ pháp lý tuy không phải là mới mẻ ở nước ta,
nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu giản đơn,
trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét
thấy cần thiết thì mới tổ chức [25, tr. 366].
- Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng do Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia xuất bản năm 2001, Trưng cầu dân ý (Referendum/ plebiscite -
Référendum) được hiểu là:
Việc tổ chức do Nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định
hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia.
Việc trưng cầu dân ý do Hiến pháp của mỗi quốc gia quy định nên
tùy theo mỗi nước có thể trưng cầu dân ý để quyết định Hiến pháp hoặc một
đạo luật quan trọng. Cũng có trường hợp trưng cầu dân ý chỉ có tính chất tư
vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc quyền cơ quan lập pháp. Có trường hợp
trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét thấy
cần thiết thì mới tổ chức [56, tr. 128].
- Theo Từ điển Pháp - Việt, Pháp luật - Hành chính do Nhà xuất bản Thế giới
xuất bản năm 1992 thì Trưng cầu ý dân (Référendum) được hiểu là:
Một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ nửa trực tiếp,
qua đó nhân dân cộng tác và tham gia vào quyền lập pháp. Lấy ý kiến nhân
dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn
đề quan trọng của đất nước, như thông qua Hiến pháp, một đạo luật, quyết
định một chính sách, hoặc yêu cầu Quốc hội biểu quyết một dự án luật do
nhân dân có sáng kiến đề nghị [57, tr. 250].
Từ những giải thích nêu trên, có thể nhận thấy rằng ý dân, dân ý hay
ý kiến nhân dân cũng đều có nghĩa tương tự nhau, đều là ý kiến của nhân dân. Vì vậy,
các thuật ngữ trưng cầu ý dân, trưng cầu dân ý hay trưng cầu ý kiến nhân dân cũng đều
có nghĩa tương tự nhau. Sau đây chúng tôi xin sử dụng một thuật ngữ chung là trưng
cầu ý dân khi đề cập đến các thuật ngữ này.
Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ trưng cầu ý dân (referendum) có nguồn
gốc từ tiếng Latin, được hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các
quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương. Trong tiếng Anh, thuật ngữ trưng cầu
Trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện mối quan hệ Nhà nước
- công dân trong quản lý, điều hành đất nước, trong đó cơ quan nhà nước theo trình tự,
thủ tục luật định đưa một vấn đề ra để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ
phiếu.
1.1.2. Phân biệt trưng cầu ý dân với phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu
cử và điều tra xã hội học
Do nội hàm của thuật ngữ trưng cầu ý dân gần với nghĩa của một số thuật ngữ
khác, như phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học nên cần có sự
phân biệt với các thuật ngữ này.
- Trưng cầu ý dân và phúc quyết.
Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nước ta, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi
được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến pháp
năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời
điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định: "Những việc quan hệ đến vận mệnh
quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý"
(Điều thứ 32); "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến
vận mệnh quốc gia " (Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định
"Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc
quyết" (điểm c, Điều thứ 70) [42]. Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm 1945
của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định "Nếu một
phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết ủy ban hành chính
xã thì ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín
nhiệm" (Điều thứ 18) [9].
Phân tích về khía cạnh thuật ngữ cho thấy, phúc quyết là từ Hán - Việt, được
ghép bởi hai từ là phúc và quyết: phúc có nghĩa là "lật lại, xét kỹ" [1, tr. 136]; quyết có nghĩa là
"quyết định" [4, tr. 334]. Như vậy, có thể hiểu phúc quyết là việc đưa một vấn đề đã được
quyết định ra để biểu quyết lại. ở nước ta, thuật ngữ phúc quyết được dùng trong trường
hợp toàn dân phúc quyết và trong trường hợp bỏ phiếu tín nhiệm đối với ban lãnh đạo
của một cơ quan nhà nước (như ủy ban hành chính). Có thể thấy rằng, chủ thể của
giống như trong trưng cầu ý dân nhưng cũng có thể chỉ là việc góp ý để hoàn chỉnh
thêm các vấn đề đưa ra lấy ý kiến (như việc lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh); và
một điểm khác biệt nữa là ở chỗ trưng cầu ý dân bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức
bỏ phiếu với câu trả lời là đồng ý hay không đồng ý với vấn đề đưa ra trưng cầu, còn
việc lấy ý kiến nhân dân thường không được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu, người
dân góp ý bằng cách thể hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan tổ chức việc lấy ý
kiến nhân dân.
- Trưng cầu ý dân và bầu cử.
Bầu cử là một chế định pháp lý thông dụng và phổ biến ở hầu hết các quốc gia
trong đó có Việt Nam. Thuật ngữ bầu cử được sử dụng trong rất nhiều trường hợp, có thể là
tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội, cũng có thể là bầu cử đại biểu Hội đồng địa
phương hoặc cũng có thể là bầu người lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức. Bầu cử có
thể được thực hiện trong các cơ quan nhà nước, nhưng cũng có thể được thực hiện trong
các tổ chức, doanh nghiệp v.v
Trong trường hợp tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội hoặc bầu cử đại biểu
Hội đồng địa phương, nhân dân trực tiếp quyết định lựa chọn người đại diện cho mình
tham gia vào bộ máy nhà nước. Thông qua các cuộc bầu cử này, nhân dân thực hiện chủ
quyền qua trung gian là những người đại diện cho mình, bao gồm đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng địa phương. Trong các trường hợp như vậy, bầu cử và trưng cầu ý
dân có nhiều nét tương đồng với nhau, thể hiện ở chỗ đều là việc nhân dân được trực
tiếp quyết định; đối tượng tham gia bầu cử và đối tượng tham gia trưng cầu ý dân cũng
tương tự nhau, người có quyền bầu cử thì cũng có quyền tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý
dân và cũng đều được thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu. Tuy nhiên, một điểm khác biệt
căn bản giữa bầu cử và trưng cầu ý dân là ở chỗ bầu cử hướng tới việc lựa chọn một cá
nhân cụ thể đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà nước; còn trưng cầu ý dân lại
hướng tới việc lựa chọn một phương án, một mô hình hay cách giải quyết một vấn đề
nhất định. Tuy trong lịch sử có một số trường hợp trưng cầu ý dân có gắn với việc lựa
chọn một cá nhân cụ thể nắm giữ quyền lực nhà nước, như trong lịch sử nước Pháp, Na-
pô-lê-ông đệ nhất và Na-pô-lê-ông đệ tam đã tổ chức trưng cầu ý dân về việc lên ngôi
(sau đây gọi chung là Hiến pháp năm 1992) thì chủ thể có quyền quyết định tổ chức
trưng cầu ý dân là Quốc hội và theo quy định tại điểm 12, Điều 91 của Hiến pháp năm
1992 thì ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc trưng cầu ý
dân theo quyết định của Quốc hội [46].
Chủ thể tham gia cuộc trưng cầu ý dân là nhân dân. Đúng như tên gọi của nó,
nhân dân luôn đóng vai trò là chủ thể trung tâm của trưng cầu ý dân. "Nhân dân" ở đây
được đặt trong mối quan hệ với Nhà nước nên mang tính phổ thông, chứ không bó hẹp
trong nội bộ của một cơ quan, tổ chức, một giới hay một tầng lớp dân cư trong xã hội.
Pháp luật về trưng cầu ý dân ở các nước đều quy định những người tham gia bỏ phiếu
trong cuộc trưng cầu ý dân là những người có đủ điều kiện tham gia bỏ phiếu trong các
cuộc bầu cử phổ thông. Hay nói một cách khác, những người mà theo quy định của
pháp luật có quyền bầu cử thì có quyền tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân (sau đây gọi
là cử tri). ở nước ta, tại Điều 53 của Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận công dân có
quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân [46].
Thứ ba, phạm vi vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân bao giờ cũng là những vấn đề hệ
trọng của quốc gia hoặc của địa phương.
Về những vấn đề cụ thể được đưa ra trưng cầu ý dân ở các nước khác nhau có
quy định khác nhau, nhưng đều có điểm chung là những vấn đề có tính chất hệ trọng đối
với quốc gia. Bởi vì, không bao giờ và không thể bất cứ việc gì của Nhà nước cũng có
thể đưa ra trưng cầu ý dân. Trong đó, đối tượng được đưa ra trưng cầu ý dân được nhiều
nước ghi nhận rộng rãi và phổ biến nhất là việc ban hành Hiến pháp và sửa đổi Hiến
pháp, như ở Pháp, Italia, Thụy Sĩ, Armenia v.v Ngoài ra, vấn đề đưa ra trưng cầu ý
dân còn có thể là về địa giới hành chính - lãnh thổ, các đạo luật về tổ chức bộ máy công
quyền, các điều ước quốc tế quan trọng v.v Đối với việc trưng cầu ý dân ở một địa
phương, thì cũng tương tự như vậy, vấn đề được đưa ra trưng cầu thường là những vấn
đề quan trọng của địa phương, liên quan đến quyền hoặc lợi ích chung của cộng đồng
dân cư và được cử tri ở địa phương đó đặc biệt quan tâm.
Những vấn đề cần phải đưa ra trưng cầu ý dân có thể được quy định cụ thể
trong Hiến pháp hoặc trong các đạo luật, buộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tổ
Trưng cầu dân ý thường được tiến hành một cách độc lập, riêng rẽ với các hoạt
động khác. Nhưng ở một số nước, trong một số trường hợp, do vấn đề đưa ra trưng cầu
ý dân gắn liền với chính sách của các chính đảng tham gia tranh cử nên cuộc trưng cầu
ý dân được tổ chức kết hợp cùng với cuộc bầu cử Quốc hội hoặc bầu cử Tổng thống.
Việc kết hợp này cũng là một biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí cho ngân sách quốc gia.
Tuy nhiên, cho dù được tổ chức riêng hay kết hợp cùng với cuộc bầu cử thì cách thức
trưng cầu dân ý cũng tương tự như bầu cử, tức là được thực hiện dưới hình thức bỏ
phiếu. Các phương án đưa ra để người tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân lựa chọn được
in trên lá phiếu một cách rõ ràng để cử tri có thể nhận thức đúng và quyết định lựa chọn
được theo một trong hai phương án đồng ý hoặc không đồng ý với vấn đề được đưa ra
trưng cầu ý dân.
Thứ bảy, kết quả trưng cầu ý dân có giá trị buộc các cơ quan nhà nước phải
chấp nhận theo ý kiến đa số của nhân dân.
Cho dù là cuộc trưng cầu ý dân đương nhiên hay trưng cầu ý dân tùy ý, thì ý
kiến đa số của nhân dân phản ánh bởi kết quả của cuộc trưng cầu ý dân bao giờ cũng
mang tính chất quyết định đến chiều hướng của vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân. Bởi vì,
không một chính quyền nào lại dại gì bỏ qua nguyện vọng của nhân dân trong cuộc
trưng cầu ý dân. Rutxô - một nhà khoa học chính trị - pháp lý đã từng nhấn mạnh không
có bất cứ một quyết định chính trị hay một đạo luật nào có hiệu lực nếu chúng không
được nhân dân tán thành. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, kết quả của
cuộc trưng cầu ý dân có giá trị quyết định buộc các cơ quan nhà nước và mọi công dân
có nghĩa vụ chấp hành.
1.1.4. ý nghĩa của trưng cầu ý dân
Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ tiến bộ được sử dụng nhiều trong các
quốc gia hiện đại, không ít quốc gia xem sự tồn tại của nó như là minh chứng cho nền
dân chủ của mình. Bất kỳ một quốc gia nào cho dù có chế độ chính trị khác nhau cũng
tuyên bố rằng mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; tuy nhiên việc nhân dân
trực tiếp quyết định đối với tất cả công việc của Nhà nước là điều không thể. Chính vì
vậy, ở các quốc gia đều hình thành nên các thiết chế đại diện, do nhân dân bầu ra, thay
loại thành hai hình thức trưng cầu ý dân sau:
- Trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước: là cuộc trưng cầu ý dân được tiến hành
trên phạm vi lãnh thổ của toàn quốc gia với sự tham gia của tất cả các cử tri trong cả
nước;
- Trưng cầu ý dân ở địa phương: là cuộc trưng cầu ý dân được tiến hành
trong phạm vi lãnh thổ của một đơn vị hành chính hoặc một số đơn vị hành chính
của quốc gia với sự tham gia của cử tri địa phương hoặc của vùng đó.
* Nếu căn cứ vào tính chất của cuộc trưng cầu ý dân, thì có thể phân loại thành
hai hình thức trưng cầu ý dân sau:
- Trưng cầu ý dân đương nhiên (hay còn gọi là trưng cầu ý dân bắt buộc): là
cuộc trưng cầu ý dân bắt buộc cơ quan nhà nước phải tổ chức khi giải quyết những vấn
đề mà theo quy định của pháp luật phải tiến hành trưng cầu ý dân;
- Trưng cầu ý dân tùy ý, là cuộc trưng cầu ý dân về một vấn đề nhất định do cơ
quan nhà nước tổ chức khi xét thấy rằng nên đưa vấn đề đó ra để nhân dân trực tiếp
quyết định.
* Nếu căn cứ vào đối tượng (vấn đề) đưa ra trưng cầu ý dân, thì có thể phân loại
thành các hình thức trưng cầu ý dân sau:
- Trưng cầu ý dân về Hiến pháp: là cuộc trưng cầu ý dân về nội dung của bản
Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua, có nên hay không nên sửa đổi Hiến pháp hiện
hành hoặc về nội dung của Hiến pháp đã được sửa đổi, bổ sung;
- Trưng cầu ý dân về đạo luật: là cuộc trưng cầu ý dân về đạo luật đã được
Quốc hội thông qua hoặc về sáng kiến của nhân dân đề nghị ban hành một đạo luật;
- Trưng cầu ý dân về địa giới hành chính: là cuộc trưng cầu ý dân để nhân dân
trực tiếp quyết định về sự chia, tách, sáp nhập, điều chỉnh hoặc những thay đổi khác về
địa giới hành chính - lãnh thổ nơi mình sinh sống;
- Trưng cầu ý dân về điều ước quốc tế: là cuộc trưng cầu ý dân để nhân dân trực
tiếp quyết định về việc quốc gia mình có tham gia hoặc không tham gia vào một điều
ước quốc tế;
- Trưng cầu ý dân về quy hoạch hoặc một dự án công trình đầu tư xây dựng: là
dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, vai trò
của pháp luật về trưng cầu ý dân thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về trưng cầu ý dân là phương tiện để thể chế hóa đường lối,
chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ nói chung và dân chủ
trực tiếp nói riêng.
Một trong những vai trò cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện
thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng. Qua đó, đường lối,
chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng mới đi vào được cuộc sống và phát huy tác
dụng. Đối với pháp luật về trưng cầu ý dân cũng vậy, thông qua đó, đường lối, chủ
trương, chính sách, quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ nói chung và dân chủ trực
tiếp nói riêng mới có hiệu lực bắt buộc và được thực thi trên thực tế. Có thể thấy rằng,
trong dân chủ trực tiếp thì hình thức trưng cầu ý dân là một hình thức nổi trội hơn cả,
bởi lẽ với hình thức dân chủ trực tiếp này, nhân dân được tham gia, trực tiếp quyết định
công việc của Nhà nước. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, thông qua các quy định của
pháp luật về trưng cầu ý dân, đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng về
phát huy dân chủ nói chung và dân chủ trực tiếp nói riêng được thể chế hóa thành pháp
luật và đi vào cuộc sống.
Thứ hai, pháp luật về trưng cầu ý dân là phương tiện để xác lập quyền của người
dân được tham gia, trực tiếp quyết định đối với một số công việc của Nhà nước.
Như chúng ta đã biết, pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan
hệ xã hội, hướng các quan hệ xã hội này theo một trật tự ổn định, có lợi. Đối với trưng
cầu ý dân, pháp luật về trưng cầu ý dân điều chỉnh mối quan hệ Nhà nước - công dân, trong
đó quy định người dân được bỏ phiếu để biểu quyết về vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân,
tức là đã xác lập cho người dân quyền được tham gia, trực tiếp quyết định đối với một số
công việc của Nhà nước. Như vậy, thông qua pháp luật về trưng cầu ý dân đã luật hóa
quyền của người dân được tham gia quyết định công việc của Nhà nước và đã biến nó
trở thành một trong những quyền cơ bản của công dân. ở nước ta, Nhà nước không những
này sẽ khiến cho cơ quan nhà nước khi muốn thực hiện vấn đề đó phải đưa ra trưng cầu ý
dân. Bên cạnh đó, pháp luật về trưng cầu ý dân còn có thể đưa ra quy định đối với những
trường hợp vì lý do già yếu, ốm đau, tật bệnh v.v… không thể đến được nơi bỏ phiếu được
thì cơ quan tổ chức trưng cầu ý dân có trách nhiệm mang hòm phiếu lưu động đến tận nơi
của các đối tượng này để họ bỏ phiếu nhằm bảo đảm cho mọi người dân có đủ điều kiện
được tham gia quyết định đối với công việc của Nhà nước v.v Như vậy, có thể khẳng
định rằng, các quy định của pháp luật về trưng cầu ý dân đã tạo ra cơ chế bảo đảm cho
người dân thực hiện quyền được tham gia, trực tiếp biểu quyết quyết định công việc của
Nhà nước.
Thứ năm, pháp luật về trưng cầu ý dân góp phần bảo đảm cho việc giải quyết
công việc quan trọng của Nhà nước phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
góp phần xây dựng một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Với việc pháp luật quy định những vấn đề cần phải đưa ra trưng cầu ý dân sẽ
khiến cho Nhà nước không thể tùy tiện đưa ra các quyết định của mình bất chấp ý chí
của nhân dân. Trong trường hợp tiến hành trưng cầu ý dân, pháp luật quy định ý kiến
của nhân dân là ý kiến quyết định chứ không phải là ý kiến của các cơ quan nhà nước,
kể cả trường hợp cơ quan nhà nước có ý kiến khác với ý kiến của nhân dân. Như vậy,
chúng ta có thể thấy rằng, thông qua pháp luật về trưng cầu ý dân bảo đảm cho việc giải
quyết công việc của Nhà nước được theo đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, góp
phần xây dựng một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều
này cũng phù hợp với bản chất của Nhà nước ta là "…Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…" (Điều 2 của Hiến
pháp năm 1992) [46, tr. 13].
Thứ sáu, pháp luật về trưng cầu ý dân góp phần nâng cao trình độ, ý thức pháp
luật của người dân.
Một trong chức năng của pháp luật đó là giáo dục cho người dân thông qua việc
định hướng cho các quan hệ xã hội phát triển. Pháp luật về trưng cầu ý dân là một bộ
phận của hệ thống pháp luật, vì vậy nó cũng có vai trò góp phần nâng cao trình độ, ý
thức pháp luật của người dân: thông qua các quy định của pháp luật về trưng cầu ý dân,
của Đảng và Nhà nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, còn giúp cho mục
tiêu cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta sớm trở thành hiện thực. Trên tinh
thần đó, khi tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra được bài
học sau:
Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái
mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân.
Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng
trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất
phát từ thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển,
đó là chìa khóa của sự thành công [18].
Thứ hai, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật về trưng cầu ý dân
là yêu cầu tất yếu. Bởi vì, một trong những tiêu chí cơ bản của Nhà nước pháp quyền là
phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng thời bảo đảm sự tuân thủ pháp luật triệt để
của mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo đó, trước hết chúng ta phải hoàn thiện và bảo
đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối cao, yêu cầu này phải trở thành nguyên tắc
đối với các thiết chế trong bộ máy nhà nước, đối với toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung
và từng văn bản quy phạm pháp luật nói riêng; chỉ trên cơ sở đó chúng ta mới có thể xây
dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, tạo thành môi trường pháp lý thống
nhất cho các hoạt động của toàn xã hội, trong đó có hoạt động của người dân tham gia vào
công việc của Nhà nước. Thứ nữa là pháp luật phải có chất lượng tốt cả về luật nội dung và
luật thủ tục, nghĩa là pháp luật phải thể hiện đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
phù hợp với hiện thực khách quan, là đại lượng phổ biến và công bằng nhất, có tác dụng
thúc đẩy tiến bộ xã hội v.v Bên cạnh đó, pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ các quyền cơ
bản, các lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của con người, công dân, trong đó có quyền
của người dân được tham gia vào công việc của Nhà nước; phải xác định đúng đắn trách
nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân trong mối quan hệ quyền lực: Nhà nước phải bảo
đảm các quyền cơ bản của công dân, ngược lại công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình