Hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

1
Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Trng cầu ý dân là một hình thức dân chủ tiến bộ đã đợc sử dụng từ
cách đây hàng nghìn năm, trong đó nhà nớc tạo cơ hội cho ngời dân đợc
trực tiếp quyết định đối với một số công việc của Nhà nớc. Thông qua hình
thức dân chủ này, ngời dân đợc trực tiếp tham gia vào việc hoạch định các
chính sách, quyết sách lớn của đất nớc. Ngày nay, trên thế giới, nhiều nớc
đã và đang sử dụng hình thức này nh là một phơng thức hữu hiệu trong hoạt
động quản lý, điều hành đất nớc, xây dựng nhà nớc pháp quyền, của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân.
ở Việt Nam, sớm nhận thức đợc vai trò đặc biệt quan trọng của hình
thức dân chủ này, nên ngay sau khi đất nớc mới giành đợc độc lập, Chủ
tịch Hồ Chí Minh với cơng vị là Chủ tịch ủy ban dự thảo Hiến pháp đã chỉ
đạo đa vào Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nớc Việt
Nam độc lập những quy định về trng cầu ý dân với hình thức nhân dân phúc
quyết. Sau này trong các bản Hiến pháp tiếp theo của Nhà nớc ta, vấn đề
trng cầu ý dân tiếp tục đợc ghi nhận với các tên gọi khác nhau nh trng
cầu ý kiến nhân dân trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 hay
là trng cầu ý dân trong Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, vì nhiều lý do
khác nhau, trong đó có lý do là quy định trong các bản Hiến pháp về trng
cầu ý dân còn quá chung chung, lại không có văn bản quy phạm pháp luật cụ
thể hóa, nên trong thực tế hơn 60 năm xây dựng và phát triển của nớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta cha từng tổ chức trng cầu ý dân.
Mặt khác, về mặt khoa học pháp lý cũng cha có những nghiên cứu sâu và
trực diện về vấn đề này, cho nên cách hiểu về trng cầu ý dân hiện nay cũng
còn có những điểm cha thống nhất.
2
Trong điều kiện chúng ta đang phấn đấu xây dựng Nhà nớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì việc phát huy

trực tiếp viết về vấn đề trng cầu ý dân nhng trong nội dung cũng có đề cập đến
vấn đề trng cầu ý dân nh: Một số ý kiến về dân chủ trực tiếp (Tạp chí Nhà
nớc và pháp luật, số 128, tháng 12 năm 1998 v.v...
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tợng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu pháp luật về trng cầu ý dân ở Việt Nam từ khi
hình thành cho đến nay, phân tích những mặt hạn chế trong các quy định của
pháp luật hiện hành để từ đó kiến giải những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về trng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Trng cầu ý dân bao gồm rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải đợc quan
tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung vào việc nghiên cứu lý
luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý dân ở Việt Nam hiện
nay trên cơ sở phân tích và khái quát hóa pháp luật về trng cầu ý dân trong
lịch sử và hiện nay, tham khảo các quy định của pháp luật về trng cầu ý dân
ở một số nớc, phân tích các yêu cầu của thực tế để làm nổi bật lên vấn đề
quan tâm chủ yếu là hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý dân.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về lý luận và thực tiễn pháp luật về trng cầu ý
dân để đề ra giải pháp và nội dung hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý dân ở
Việt Nam hiện nay.
4
* Nhiệm vụ của luận văn:
Để có thể đạt đợc mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ
sau đây:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của sự hình thành và phát triển của pháp luật
về trng cầu ý dân, vai trò của pháp luật về trng cầu ý dân; mục tiêu hoàn
thiện pháp luật về trng cầu ý dân.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về trng cầu ý dân,

dụng làm tài liệu tham khảo, để nghiên cứu, giảng dạy, học tập, phục vụ cho
việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về phát huy quyền làm chủ của
nhân dân nói chung và pháp luật về trng cầu ý dân nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết. 6
Chơng 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật
về trng cầu ý dân

1.1. Tổng quan về trng cầu ý dân
1.1.1. Trng cầu ý dân là một hình thức dân chủ
Trng cầu ý dân là một thuật ngữ pháp lý tuy không phải là mới mẻ ở
nớc ta, nhng do ít đợc đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách
hiểu giản đơn, cha thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Trong nhiều trờng
hợp đã sử dụng thuật ngữ này một cách quá dễ dãi, thiếu chuẩn xác, chẳng
hạn nh gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến
nhân dân là trng cầu ý dân, coi việc điều tra d luận xã hội là trng cầu ý
dân, thậm chí một số doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu trng
cho doanh nghiệp mình cũng gọi là trng cầu ý dân v.v... Vì vậy, để đi sâu
nghiên cứu, đa ra đợc những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý
dân trớc hết cần phải làm rõ nội hàm của thuật ngữ này.
Có thể nhận thấy, trong thực tiễn pháp luật nớc ta có rất nhiều thuật
ngữ đợc sử dụng liên quan đến trng cầu ý dân. Trong Hiến pháp năm 1946
sử dụng thuật ngữ phúc quyết, trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm
1980 sử dụng thuật ngữ trng cầu ý kiến nhân dân, trong Hiến pháp năm 1992
sử dụng thuật ngữ trng cầu ý dân. Bên cạnh đó, trong một số văn bản pháp

định nên tùy theo mỗi nớc có thể trng cầu dân ý để quyết định
Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có trờng hợp trng
cầu dân ý chỉ có tính chất t vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc
quyền cơ quan lập pháp. Có trờng hợp trng cầu dân ý là bắt buộc
8
và cũng có trờng hợp cơ quan lập pháp xét thấy cần thiết thì mới tổ
chức [56, tr. 128].
- Theo Từ điển Pháp - Việt, Pháp luật - Hành chính do Nhà xuất bản
Thế giới xuất bản năm 1992 thì Trng cầu ý dân (Référendum) đợc hiểu là:
Một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ nửa
trực tiếp, qua đó nhân dân cộng tác và tham gia vào quyền lập pháp.
Lấy ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực
tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nớc, nh thông
qua Hiến pháp, một đạo luật, quyết định một chính sách, hoặc yêu
cầu Quốc hội biểu quyết một dự án luật do nhân dân có sáng kiến đề
nghị [57, tr. 250].
Từ những giải thích nêu trên, có thể nhận thấy rằng ý dân, dân ý hay
ý kiến nhân dân cũng đều có nghĩa tơng tự nhau, đều là ý kiến của nhân dân.
Vì vậy, các thuật ngữ trng cầu ý dân, trng cầu dân ý hay trng cầu ý kiến
nhân dân cũng đều có nghĩa tơng tự nhau. Sau đây chúng tôi xin sử dụng
một thuật ngữ chung là trng cầu ý dân khi đề cập đến các thuật ngữ này.
Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ trng cầu ý dân (referendum)
có nguồn gốc từ tiếng Latin, đợc hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục
đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phơng. Trong
tiếng Anh, thuật ngữ trng cầu ý dân tơng đơng với referendum, đợc hiểu
là việc đa một văn bản của cơ quan lập pháp, một đề nghị sửa đổi Hiến pháp
hay một vấn đề quan trọng của quốc gia để toàn dân quyết định dới hình thức
bỏ phiếu [59, tr. 1307]; trong tiếng Pháp, thuật ngữ trng cầu ý dân tơng
đơng với référendum, đợc hiểu là một thủ tục cho phép công dân của một
quốc gia bày tỏ sự tán thành hay bác bỏ một biện pháp (giải pháp) do cơ quan

quyết định thông qua việc bỏ phiếu.
10
1.1.2. Phân biệt trng cầu ý dân với phúc quyết, lấy ý kiến nhân
dân, bầu cử và điều tra xã hội học
Do nội hàm của thuật ngữ trng cầu ý dân gần với nghĩa của một số
thuật ngữ khác, nh phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội
học nên cần có sự phân biệt với các thuật ngữ này.
- Trng cầu ý dân và phúc quyết.
Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nớc ta, thuật ngữ phúc quyết rất
ít khi đợc sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này đợc sử dụng trong
Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa
phơng vào cùng thời điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định:
"Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đa ra nhân dân phúc quyết,
nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý" (Điều thứ 32); "Nhân dân có quyền
phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia..."
(Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định "Những điều
thay đổi khi đã đợc Nghị viện ng thuận thì phải đa ra toàn dân phúc quyết"
(điểm c, Điều thứ 70) [42]. Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm
1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa quy
định "Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc
quyết ủy ban hành chính xã thì ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội
đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm" (Điều thứ 18) [9].
Phân tích về khía cạnh thuật ngữ cho thấy, phúc quyết là từ Hán - Việt,
đợc ghép bởi hai từ là phúc và quyết: phúc có nghĩa là "lật lại, xét kỹ" [1, tr. 136];
quyết có nghĩa là "quyết định" [4, tr. 334]. Nh vậy, có thể hiểu phúc quyết là
việc đa một vấn đề đã đợc quyết định ra để biểu quyết lại. ở nớc ta, thuật
ngữ phúc quyết đợc dùng trong trờng hợp toàn dân phúc quyết và trong
trờng hợp bỏ phiếu tín nhiệm đối với ban lãnh đạo của một cơ quan nhà nớc
(nh ủy ban hành chính). Có thể thấy rằng, chủ thể của quyền phúc quyết có
thể là toàn dân hay là một bộ phận hẹp hơn (các đại biểu Hội đồng nhân dân,

ngời đó có đầy đủ quyền công dân hoặc quyền bầu cử hay không; những việc
đa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét quyết định về một vấn đề cụ
thể (nh việc lấy ý kiến về việc có nên xây dựng một công trình hay không)
giống nh trong trng cầu ý dân nhng cũng có thể chỉ là việc góp ý để hoàn
chỉnh thêm các vấn đề đa ra lấy ý kiến (nh việc lấy ý kiến đối với dự án
luật, pháp lệnh); và một điểm khác biệt nữa là ở chỗ trng cầu ý dân bắt buộc
phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu với câu trả lời là đồng ý hay không
đồng ý với vấn đề đa ra trng cầu, còn việc lấy ý kiến nhân dân thờng
không đợc thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu, ngời dân góp ý bằng cách thể
hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân.
- Trng cầu ý dân và bầu cử.
Bầu cử là một chế định pháp lý thông dụng và phổ biến ở hầu hết các
quốc gia trong đó có Việt Nam. Thuật ngữ bầu cử đợc sử dụng trong rất nhiều
trờng hợp, có thể là tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội, cũng có thể là bầu
cử đại biểu Hội đồng địa phơng hoặc cũng có thể là bầu ngời lãnh đạo trong
các cơ quan, tổ chức. Bầu cử có thể đợc thực hiện trong các cơ quan nhà
nớc, nhng cũng có thể đợc thực hiện trong các tổ chức, doanh nghiệp v.v...
Trong trờng hợp tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội hoặc bầu cử
đại biểu Hội đồng địa phơng, nhân dân trực tiếp quyết định lựa chọn ngời
đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà nớc. Thông qua các cuộc bầu cử
này, nhân dân thực hiện chủ quyền qua trung gian là những ngời đại diện cho
mình, bao gồm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng địa phơng. Trong các
trờng hợp nh vậy, bầu cử và trng cầu ý dân có nhiều nét tơng đồng với
nhau, thể hiện ở chỗ đều là việc nhân dân đợc trực tiếp quyết định; đối tợng
tham gia bầu cử và đối tợng tham gia trng cầu ý dân cũng tơng tự nhau,
ngời có quyền bầu cử thì cũng có quyền tham gia bỏ phiếu trng cầu ý dân
và cũng đều đợc thực hiện dới hình thức bỏ phiếu. Tuy nhiên, một điểm
khác biệt căn bản giữa bầu cử và trng cầu ý dân là ở chỗ bầu cử hớng tới
13
việc lựa chọn một cá nhân cụ thể đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà

Nhà nớc đóng vai trò là chủ thể tổ chức cuộc trng cầu ý dân. Bất kỳ
một cuộc trng cầu ý dân nào cũng đều do Nhà nớc tổ chức và thực hiện
nhân danh Nhà nớc mà đại diện cụ thể là một cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền, cho dù đó là cuộc trng cầu ý dân toàn quốc hay là trng cầu ý dân ở
một địa phơng. ở Pháp, Ucraina, Ai Cập, chủ thể có quyền quyết định tổ
chức trng cầu ý dân là Tổng thống; ở nớc ta, theo quy định tại điểm 14,
Điều 84 của Hiến pháp năm 1992 đã đợc sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây
gọi chung là Hiến pháp năm 1992) thì chủ thể có quyền quyết định tổ chức
trng cầu ý dân là Quốc hội và theo quy định tại điểm 12, Điều 91 của Hiến
pháp năm 1992 thì ủy ban Thờng vụ Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thực
hiện việc trng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội [46].
Chủ thể tham gia cuộc trng cầu ý dân là nhân dân. Đúng nh tên gọi
của nó, nhân dân luôn đóng vai trò là chủ thể trung tâm của trng cầu ý dân.
"Nhân dân" ở đây đợc đặt trong mối quan hệ với Nhà nớc nên mang tính
phổ thông, chứ không bó hẹp trong nội bộ của một cơ quan, tổ chức, một giới
hay một tầng lớp dân c trong xã hội. Pháp luật về trng cầu ý dân ở các nớc
đều quy định những ngời tham gia bỏ phiếu trong cuộc trng cầu ý dân là
những ngời có đủ điều kiện tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử phổ
thông. Hay nói một cách khác, những ngời mà theo quy định của pháp luật
có quyền bầu cử thì có quyền tham gia bỏ phiếu trng cầu ý dân (sau đây gọi
là cử tri). ở nớc ta, tại Điều 53 của Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận công
dân có quyền biểu quyết khi Nhà nớc tổ chức trng cầu ý dân [46].
Thứ ba, phạm vi vấn đề đa ra trng cầu ý dân bao giờ cũng là những
vấn đề hệ trọng của quốc gia hoặc của địa phơng.
15
Về những vấn đề cụ thể đợc đa ra trng cầu ý dân ở các nớc khác
nhau có quy định khác nhau, nhng đều có điểm chung là những vấn đề có
tính chất hệ trọng đối với quốc gia. Bởi vì, không bao giờ và không thể bất cứ
việc gì của Nhà nớc cũng có thể đa ra trng cầu ý dân. Trong đó, đối tợng
đợc đa ra trng cầu ý dân đợc nhiều nớc ghi nhận rộng rãi và phổ biến

về vấn đề trng cầu ý dân, kể cả trình tự, thủ tục tổ chức một cuộc trng cầu ý
dân; nhng lại có nớc nh Thụy Điển, trong Hiến pháp chỉ quy định rằng sẽ
có một đạo luật quy định về trng cầu ý dân (Điều 4 chơng VIII của Hiến
pháp Thụy Điển năm 1974).
ở nớc ta, trong Hiến pháp giao cho Quốc hội quyền quyết định việc
trng cầu ý dân (điểm 14, Điều 84 của Hiến pháp năm 1992) và giao cho ủy
ban Thờng vụ Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thực hiện (điểm 11, Điều 91
của Hiến pháp năm 1992). Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, đồng thời
cũng là để cho các quy định về trng cầu ý dân có thể triển khai thi hành trên
thực tế, Quốc hội đã quyết định việc xây dựng một đạo luật riêng quy định về
trng cầu ý dân [50].
Thứ năm, cách thức trng cầu ý dân phải bằng hình thức bỏ phiếu.
Trng cầu dân ý thờng đợc tiến hành một cách độc lập, riêng rẽ với
các hoạt động khác. Nhng ở một số nớc, trong một số trờng hợp, do vấn đề
đa ra trng cầu ý dân gắn liền với chính sách của các chính đảng tham gia
tranh cử nên cuộc trng cầu ý dân đợc tổ chức kết hợp cùng với cuộc bầu cử
Quốc hội hoặc bầu cử Tổng thống. Việc kết hợp này cũng là một biện pháp
nhằm tiết kiệm chi phí cho ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, cho dù đợc tổ
chức riêng hay kết hợp cùng với cuộc bầu cử thì cách thức trng cầu dân ý
cũng tơng tự nh bầu cử, tức là đợc thực hiện dới hình thức bỏ phiếu. Các
phơng án đa ra để ngời tham gia bỏ phiếu trng cầu ý dân lựa chọn đợc in
17
trên lá phiếu một cách rõ ràng để cử tri có thể nhận thức đúng và quyết định
lựa chọn đợc theo một trong hai phơng án đồng ý hoặc không đồng ý với
vấn đề đợc đa ra trng cầu ý dân.
Thứ bảy, kết quả trng cầu ý dân có giá trị buộc các cơ quan nhà nớc
phải chấp nhận theo ý kiến đa số của nhân dân.
Cho dù là cuộc trng cầu ý dân đơng nhiên hay trng cầu ý dân tùy ý,
thì ý kiến đa số của nhân dân phản ánh bởi kết quả của cuộc trng cầu ý dân
bao giờ cũng mang tính chất quyết định đến chiều hớng của vấn đề đa ra

thuộc về nhân dân. Bên cạnh đó, thông qua trng cầu ý dân, cũng góp phần
nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị của ngời dân, tạo thói quen cho họ phát
biểu chính kiến của mình về các vấn đề chung của đất nớc, của cộng đồng;
đồng thời, đây cũng là bớc chuẩn bị, tạo sự sẵn sàng cho ngời dân trong
việc thực hiện các quy định của pháp luật, bảo đảm tính khả thi cũng nh hiệu
quả của pháp luật.
Tuy nhiên, hình thức trng cầu ý dân cũng có những điểm hạn chế
riêng của nó là làm kéo dài thời gian cơ quan nhà nớc ban hành quyết
định, trong một số trờng hợp làm giảm đi tính thời sự, tính cấp thiết của
việc xây dựng và áp dụng chính sách. Đồng thời, cũng phải thấy rằng, không
phải bao giờ trng cầu ý dân cũng là phơng thuốc nhiệm màu có thể giải
quyết đợc mọi vấn đề; trong trờng hợp cử tri bị thao túng hoặc phải chịu
sức ép thì kết quả của cuộc trng cầu ý dân sẽ khó có thể phản ánh đúng ý
chí của cử tri.
1.1.5. Phân loại trng cầu ý dân
Tùy theo tiêu chí khác nhau mà có thể phân chia thành các hình thức
trng cầu ý dân khác nhau, cụ thể nh sau:
19
* Nếu căn cứ vào phạm vi địa lý tiến hành trng cầu ý dân, thì có thể
thể phân loại thành hai hình thức trng cầu ý dân sau:
- Trng cầu ý dân trên phạm vi cả nớc: là cuộc trng cầu ý dân đợc
tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của toàn quốc gia với sự tham gia của tất cả
các cử tri trong cả nớc;
- Trng cầu ý dân ở địa phơng: là cuộc trng cầu ý dân đợc tiến
hành trong phạm vi lãnh thổ của một đơn vị hành chính hoặc một số đơn vị
hành chính của quốc gia với sự tham gia của cử tri địa phơng hoặc của
vùng đó.
* Nếu căn cứ vào tính chất của cuộc trng cầu ý dân, thì có thể phân
loại thành hai hình thức trng cầu ý dân sau:
- Trng cầu ý dân đơng nhiên (hay còn gọi là trng cầu ý dân bắt

hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống thị [24, tr. 141].
Trong đó, pháp luật về trng cầu ý dân là một bộ phận hợp thành của
hệ thống pháp luật. Theo nghĩa rộng, pháp luật về trng cầu ý dân đợc hiểu là
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề trng cầu ý dân, bao gồm
các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong trng cầu ý dân; quy trình
tiến hành và tổ chức trng cầu ý dân cùng với những thiết chế tổ chức, hoạt động
của bộ máy nhà nớc nhằm bảo đảm cho việc tiến hành trng cầu ý dân; việc giải
quyết những khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện liên quan đến trng cầu ý dân; các điều
kiện bảo đảm cho việc tiến hành trng cầu ý dân. Theo nghĩa hẹp, pháp luật về
trng cầu ý dân đợc hiểu là tổng thể những quy phạm pháp luật quy định về
sáng kiến trng cầu ý dân, thẩm quyền quyết định, tổ chức trng cầu ý dân, cử
21
tri trong cuộc trng cầu ý dân, trình tự, thủ tục tổ chức trng cầu ý dân và giải
quyết những khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện về trng cầu ý dân.
Pháp luật về trng cầu ý dân theo nghĩa rộng có nội dung rất phong
phú. Do vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về trng cầu ý dân
theo nghĩa hẹp. Có nghĩa là luận văn chỉ xem xét và hoàn thiện các quy định
của pháp luật về sáng kiến trng cầu ý dân, thẩm quyền quyết định, tổ chức
trng cầu ý dân, cử tri trong cuộc trng cầu ý dân, trình tự, thủ tục tổ chức
trng cầu ý dân và giải quyết những khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện về trng cầu
ý dân. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý dân chính là đi rà soát,
đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về trng cầu ý dân
để tìm ra những hạn chế, những điểm bất cập, không hợp lý của các quy định
này nhằm đa ra quan điểm và những giải pháp hoàn thiện các quy định của
pháp luật về trng cầu ý dân, đáp ứng đợc đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và
yêu cầu phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nớc pháp quyền Việt Nam xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Với t cách là yếu tố điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nớc và công dân,
vai trò của pháp luật về trng cầu ý dân thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về trng cầu ý dân là phơng tiện để thể chế hóa

dân có quyền biểu quyết khi Nhà nớc tổ chức trng cầu ý dân" [46, tr. 35].
Đồng thời, với việc xác lập quyền của ngời dân đợc tham gia, trực
tiếp quyết định đối với một số công việc của Nhà nớc, pháp luật về trng cầu
ý dân cũng góp phần hoàn thiện hệ thống các quyền công dân.
Thứ ba, pháp luật về trng cầu ý dân là phơng tiện, công cụ để ngời
dân tham gia, trực tiếp quyết định đối với công việc của Nhà nớc.
Một khi pháp luật đã chính thức xác lập quyền của ngời dân đợc
tham gia, trực tiếp quyết định đối với công việc của Nhà nớc thì có nghĩa là
23
mỗi khi cơ quan nhà nớc xem xét đến vấn đề mà theo quy định của pháp luật
phải đa ra trng cầu ý dân, cơ quan nhà nớc bắt buộc phải tổ chức trng cầu
ý dân để nhân dân trực tiếp biểu quyết quyết định vấn đề đó, trong những
trờng hợp nh vậy cơ quan nhà nớc không thể tự mình ra quyết định mà
không thông qua trng cầu ý dân. Một khi pháp luật đã quy định rõ ràng các
điều kiện cụ thể để một ngời đợc tham gia bỏ phiếu trng cầu ý dân thì khi
họ đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân
dân có quyền ngăn cản họ tham gia cuộc trng cầu ý dân v.v... Trong những
trờng hợp nh vậy, nhân dân có thể sử dụng pháp luật về trng cầu ý dân nh
là phơng tiện, công cụ để yêu cầu cơ quan nhà nớc phải tổ chức trng cầu ý
dân, cho phép mình đợc bỏ phiếu biểu quyết trong cuộc trng cầu ý dân.
Thứ t, pháp luật về trng cầu ý dân tạo ra cơ chế bảo đảm cho ngời
dân thực hiện quyền đợc tham gia, trực tiếp quyết định công việc Nhà nớc.
Vai trò của pháp luật về trng cầu ý dân không dừng lại ở chỗ chỉ ghi
nhận quyền của ngời dân đợc tham gia trực tiếp quyết định đối với công việc
Nhà nớc mà nó còn tạo ra cơ chế bảo đảm để ngời dân có thể thực hiện đợc
quyền này trên thực tế. Nh trên đã trình bày, trong trờng hợp pháp luật về
trng cầu ý dân quy định những vấn đề phải đa ra trng cầu ý dân mà cơ quan
nhà nớc tự ra quyết định không thông qua trng cầu ý dân thì quyết định đó của
cơ quan nhà nớc là trái pháp luật và đơng nhiên là không có hiệu lực thi hành;
với quy định của pháp luật về việc không có hiệu lực của các quyết định này sẽ

ý dân là một bộ phận của hệ thống pháp luật, vì vậy nó cũng có vai trò góp
phần nâng cao trình độ, ý thức pháp luật của ngời dân: thông qua các quy
định của pháp luật về trng cầu ý dân, ngời dân nắm bắt đợc quyền và nghĩa
vụ của mình trong việc tham gia, trực tiếp quyết định công việc của Nhà nớc;
thông qua việc cân nhắc để bỏ phiếu trng cầu ý dân, ngời dân đã tự mình
nâng cao tri thức của mình về vấn đề đợc đa ra trng cầu v.v; đồng thời,
25
với việc quyết định lựa chọn phơng án trong trng cầu ý dân thì ngời dân sẽ
hiểu rõ hơn về vấn đề đa ra trng cầu, từ đó có ý thức hơn trong việc chấp
hành theo phơng án đợc đa số ngời dân lựa chọn nói riêng và có ý thức
hơn trong việc chấp hành chấp hành pháp luật nói chung.
1.3. Yêu cầu và mục tiêu hoàn thiện pháp luật về trng
cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trng cầu ý dân ở Việt
Nam hiện nay
Thứ nhất, Nhà nớc ta là Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về
nhân dân [46, tr. 13], sứ mệnh của Nhà nớc không gì khác là phục vụ cho lợi
ích của nhân dân. Vì vậy, việc bảo đảm cho ngời dân đợc tham gia, trực tiếp
quyết định đối với một số công việc của Nhà nớc vừa thể hiện bản chất cách
mạng, bản chất nhân dân, tính u việt của Nhà nớc và chế độ xã hội chủ
nghĩa, vừa là sự khởi đầu để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ đất
nớc, làm chủ xã hội của mình.
Trong Nhà nớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vấn đề bảo
đảm cho ngời dân đợc tham gia, trực tiếp quyết định đối với một số công việc
của Nhà nớc là một trong những phơng thức quan trọng giúp cho các quyết
định của Đảng và Nhà nớc luôn phản ánh đợc ý chí, nguyện vọng của nhân
dân. Vì vậy, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về trng cầu ý dân nói
riêng phải thể hiện đợc là công cụ hữu hiệu để ngời dân có thể tham gia trực
tiếp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc; đồng thời, cũng là công cụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status