Báo cáo: "giải pháp và thực trang về bảo hiểm y tế ở việt nam" - Pdf 21

2.3 Thành tựu và khó khăn:
2.3.1 Thành tựu:
2.3.1.1 Mở rộng sự tham gia của nhiều đối tượng-tăng số thu BHYT:
Sau năm thực hiện thí điểm và nhiều năm triển khai chính thức chính sách BHYT,
đến nay đối tượng tham gia đã tăng đáng kể. Tổng số người tham gia các loại hình
BHYT năm 1993 chỉ đạt 3.8 triệu người, chiếm 5.4% dân số cả nước; đến năm
1999 (năm đầu tiên thực hiện quản lý tập trung thống nhất toàn ngành BHYT)
tổng số người tham gia hơn 9.8 triệu người, đạt tỷ lệ 13.5% dân số; cuối năm
2003, BHYT đã bao phủ được khoảng 20% dân số. Đầu năm 2003, hệ thống
BHYT Việt Nam sát nhập vào Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện khai
thác triệt để đối tượng tham gia, mở rộng loại hình BHYT tự nguyện; năm 2004 số
người tham gia đã tăng gấp 4.5 lần năm 1993, đặc biệt là khu vực ngoài quốc
doanh và những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ý thức của những người
chủ sử dụng lao động đã thay đổi , không còn tránh nộp hoặc chai lì trong việc nộp
tiền bảo hiểm – vì sợ đụng chạm đến quyền lợi của nhân viên từ đó ảnh
Số thu về BHYT cũng tăng theo sự mở rộng đối tượng tham gia: Năm 1993 thu
BHYT đạt 112 tỷ đồng, chiếm 8,6% ngân sách y tế; năm 1998 thu BHYT đạt 694
tỷ đồng, chiếm 28,4% ngân sách y tế; năm 2003 thu đạt 2069 tỷ đồng, chiếm
37,7% ngân sách y tế.
2.3.1.2 Gia tăng việc Khám chữa bệnh cho đối tượng là người nghèo:
Người nghèo đã được xã hội quan tâm, chăm sóc nhiều hơn thông qua chính sách
BHYT, từ đó thực hiện đầy đủ ý nghĩa nhân đạo của chính sách này. Sự ra đời của
Quyết định 139/2002/ QĐ-TTg ngày 15/10/2002 về việc khám chữa bệnh cho
người nghèo là một chính sách có ý nghĩa lớn, thể hiện sự ưu việt của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa trong việc chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng chính sách xã
hội. Đến năm 2003 đã có 24 tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện theo hình thức mua
thẻ BHYT cho hộ gia đình nghèo; 31 tỉnh thực hiện theo hình thức thực thanh thực
chi và 9 tỉnh còn lại thực hiện cả 2 hình thức. Cuối tháng 12/2003, tổng số người
cấp thẻ BHYT là 3,58 triệu và gần 7,43 triệu người được hưởng chế độ theo
phương thức thực thanh thực chi.
2.3.1.3 Quyền lợi của người tham gia BHYT được đảm bảo:

thành một cơ chế quản lý mới giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch
vụ y tế, trong đó cơ quan Bảo hiểm xã hội giữ vai trò là người giám sát chất lượng
các dịch vụ y tế, đảm bảo quyền lợi cho người bệnh khi sử dụng dịch vụ y tế.
2.3.2 Khó khăn:
- Có sự tham gia của các đơn vị kinh doanh bảo hiểm khác như Bảo Minh, Viet
nam care,…tăng sự cạnh tranh, trong khi công tác tuyên truyền về chính sách
BHYT còn kém.
- Mức thu BHYT tự nguyện không đáp ứng được với quyền lợi mở rộng và giá
dịch vụ y tế. Đối tượng tham gia chủ yếu là những người mắc bệnh mãn tính, hiểm
nghèo, có chi phí điều trị lớn.
- Số lượt khám chữa bệnh tăng nhanh nhưng cơ sở vật chất và nhân sự của
ngành y tế chưa đáp ứng được dẫn đến ùn tắc bệnh nhân, do đó người bệnh BHYT
phải chờ khám, nhận thuốc.
- Việc thống kê, quản lý đối tượng có thẻ BHYT tham gia khám chữa bệnh từ
các cơ sở y tế gặp nhiều khó khăn. Chưa có sự thống nhất, đồng bộ về ứng dụng
công nghệ thông tin giữa ngành y tế và Bảo hiểm xã hội để giảm áp lực cho cơ sở
y tế và cơ quan Bảo hiểm xã hội.
- Tình hình vượt chi quỹ khám chữa bệnh chậm được xử lý, gây khó khăn
trong việc đảm bảo nguồn chi và tình hình tài chính của các cơ sở khám chữa
bệnh.
2.4 Nguyên nhân và tồn tại
2.4.1 Tồn tại:
- Chính sách BHYT hiện tại đang áp dụng chủ yếu theo phương thức
BHYT cho từng cá nhân, duy chỉ có BHYT cho người nghèo, BHYT tự nguyện
cho học sinh, hộ gia đình, đoàn thể, nông dân thực hiện theo phương thức cộng
đồng hộ gia đình. Do vậy, phương thức theo từng cá nhân không mang tính cộng
đồng, rộng rãi không bền vững và khó tiến đến BHYT toàn dân.
- Phương thức thanh toán giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ sở khám
chữa bệnh đang thực hiện theo phí dịch vụ y tế. Phương thức này không khuyến
khích các bệnh viện tiết kiệm chi tiêu, không khuyến khích người bệnh sử dụng

+ Cơ chế thực hiện chưa nhất quán, nơi thực hiện qua hình thức mua BHYT,
nơi thực thanh thực chi.
+ Việc huy động thêm nguồn ngoài từ nguồn Ngân sách nhà nước cho quỹ
khám chữa bệnh cho người nghèo còn hạn chế.
+ Việc sử dụng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo còn hạn chế. Lấy ví dụ năm
2003
2.4.2 Nguyên nhân:
- Chế tài đối với chính sách BHYT chưa rõ ràng, cần sớm ban hành Luật BHYT
để có khung quy định cụ thể cho từng chủ thể tham gia
- Sự phối hợp giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ sở khám chữa bệnh chưa chặt
chẽ
- Nhà nước chưa có chiến lược cụ thể cho ngành BHYT, khi xảy ra tình trạng tồi
tệ liên quan đến công tác BHYT thì đưa ra những Nghị định, Thông tư để bù đắp
những chỗ thiếu, trống.
- Cơ sở khám chữa bệnh chưa nhìn nhận đúng chính sách BHYT nên có sự phân
biệt đối xử với người khám chữa bệnh bằng BHYT, thiếu trang thiết bị y tế tại
tuyến cơ sở
3.1 Mục tiêu:
Hiện nay đất nước đang trong giai đoạn chuyển biến tích cực, đặc biệt là sự gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chuyến thăm của Chủ tịch nước ta đến
đất nước Hoa Kỳ kể từ năm 1975 đến nay vào tháng 06/2007 đã mở ra quan hệ
song phương tốt đẹp giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh bậc
nhất Thế giới. Kinh tế phát triển, chính trị xã hội ổn định là những điều kiện thuận
lợi thúc đẩy nền y học, dân trí phát triển; Song song đó, những chính sách của
Đảng và Nhà nước, hệ thống Luật pháp phải ngày càng hoàn thiện hơn, có mục
tiêu rõ ràng hơn, trong số đó Chính sách BHYT cũng không nằm ngoài quy trình.
Thị trường BHYT ở Việt Nam khá non trẻ, đặc biệt là bảo hiểm trong lĩnh vực sức
khỏe. Về chăm sóc sức khỏe thì chỉ có một số ít công ty thực hiện ở phạm vi hẹp
như: bảo hiểm phẫu thuật nằm viện, bảo hiểm toàn diện cho học sinh.
Với đại đa số người dân Việt Nam, bảo hiểm nói chung, BHYT nói riêng

NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định “…Phát triển
BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực
hiện chia sẻ giữa người khỏe và người ốm, giàu với nghèo, người trong độ tuổi lao
động với trẻ em, người già”.
Đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà Đảng, Nhà nước và mọi người dân đều
mong muốn. Mọi người đều tham gia BHYT và được chia sẻ rủi ro, tổn thất với
nhau, đặc biệt là những người thuộc diện nghèo khó. Mục tiêu này làm chính sách
BHYT trở thành một chính sách nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận. Đất nước
ta hiện nay tuy đạt được những bước phát triển đáng đánh dấu mốc, nhưng so với
các nước khác thì thu nhập vẫn còn khiêm tốn, sự chênh lệch về thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư thể hiện rõ nét trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, chi phí bỏ ra
để thanh toán các khoản khám chữa bệnh cũng song song với thu nhập được
hưởng, người có thu nhập cao hầu hết đều không màng đến tấm thẻ BHYT, họ tập
trung khám bệnh tại các bệnh viện lớn và phòng tư của các bác sĩ tiếng tăm,
còn những người nghèo, chính sách, hưu trí thì tấm thẻ BHYT như là tấm bùa hộ
mệnh đối với họ. Mục tiêu BHYT toàn dân không những đạt được về diện rộng
mà còn phải đảm bảo tính bền vững lâu dài và phải trở thành nhu cầu thiết yếu của
mọi công dân.
Để thực hiện được mục tiêu đầy nhân đạo này thì sự kết hợp của Đảng, Nhà
nước, chính quyền địa phương ;sự đổi mới tầm nhận thức của các cơ sở khám
chữa bệnh, sự nhiệt tình hoạt động của cơ quan Bảo hiểm xã hội và ý thức của
người dân là sức mạnh. Ví dụ như sự chi Ngân sách của Nhà nước về y tế, sự
tuyên truyền trong dân sâu rộng của cơ quan Bảo hiểm xã hội kết hợp với các đoàn
thể tại địa phương, nâng cao thu nhập của người dân đồng thời tăng chi phí về
BHYT để người dân được hưởng những dịch vụ hiện đại, cơ sở hạ tầng về y tế
cũng cần được chỉnh trang cho đúng tiến trình phát triển, không còn tình trạng quá
tải tại các bệnh viện, cơ sở y tế.
+ Hướng tới BHYT mọi người cùng có quyền lợi thụ hưởng như nhau:
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 187/191 về
tình trạng công bằng trong chăm sóc sức khỏe, gần cuối bảng xếp loại.

tình trạng công bằng trong chăm sóc sức khỏe, gần cuối bảng xếp loại.
Mọi người dân khi tham gia BHYT đều có quyền thụ hưởng như nhau, không phụ
thuộc vào thu nhập của từng cá nhân. Để thực hiện được mục tiêu này thì chỉ Nhà
nước mới đảm đương nổi, mục tiêu này rất đúng, phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân, là mục tiêu phi lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu này rất khó thực hiện. Việt
Nam là một trong số các quốc gia đông dân trên thế giới. Đến năm 2004, dân số
Việt Nam lên tới trên 82 triệu người, với dân số trẻ chiếm đa số, trong đó số người
chưa có BHYT hơn 70%. Nếu tiến tới mọi người dân đều tham gia và phải đều
được hưởng mọi quyền lợi như nhau khi sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh
thì gánh nặng về Ngân sách Nhà nước khi chi để thực hiện việc này rất không khả
thi, cũng như cơ quan Bảo hiểm xã hội không đủ điều kiện, nhân lực, để thực hiện
tốt cả hai chính sách Bảo hiểm xã hội và BHYT. Cần chăng chia sẻ với các công
ty bên ngoài với hình thức đấu thầu để chia sẻ bớt một phần gánh nặng, nhưng
mục tiêu phi lợi nhuận sẽ bị phá bỏ, vì không ai kinh doanh lại không vì mục tiêu
lợi nhuận cả. Vì vậy, nghiên cứu mục tiêu này trong dài hạn và đưa ra
3.2.1.1 Cơ quan Bảo hiểm xã hội: Với tư cách là người đại diện cho
quyền lợi và lợi ích của người tham gia BHYT, người bán sản phẩm BHYT thì
phải tự cải tiến theo những giải pháp như sau:
Cải cách trong nội bộ: Cơ quan Bảo hiểm xã hội phải nghiên cứu và phối
hợp với các Ban, ngành khác như Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, Bộ Y tế, Bộ
Tài chính đưa ra được những chính sách hoặc trình cấp cao hơn (Chính phủ) để
đưa ra được những Nghị định, thông tư hướng dẫn rõ ràng, hợp với ý nguyện của
nhân dân nhưng vẫn đảm bảo cho Quỹ khám chữa bệnh hoạt động hiệu quả, không
còn tình trạng bội chi,…Muốn vậy, từ phía cơ quan Bảo hiểm xã hội phải cải cách
từ bên trong, từ đội ngũ cán bộ làm công tác giám định chi như tập huấn nghiệp vụ
không chỉ làm công tác giám định mà còn phải tham mưu, tư vấn từ thực tế cho
lãnh đạo, song song đó phải từng bước cải cách, nâng cao thu nhập của họ; sau đó
khảo sát tình hình thực tế của người dân khám chữa bệnh đưa ra được những sản
phẩm cạnh tranh không thể chung chung khám chữa bệnh sàn cho tất cả mọi người
được. Ví dụ: chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo đã có, vậy chính sách

CT, xét nghiệm chuyên sâu hoặc “phóng tay” cho nhiều loại thuốc đắt tiền thì quỹ
BHYT phải thanh toán những phần này, vỡ quỹ là điều khó tránh khỏi. Muốn thực
hiện tốt việc quản lý tài chính quỹ BHYT thì cần phải nghiên cứu để tin học hóa
toàn bộ quá trình quản lý chi phí khám chữa bệnh có sự liên kết, kết nối dữ liệu
ngay từ khâu khai thác, phát hành thẻ BHYT, phân bổ quỹ khám chữa bệnh, giám
định chi phí khám chữa bệnh và thanh quyết toán với cơ sở khám chữa bệnh. Phần
mềm giám định chi phí khám chữa bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh cần có sự kết
hợp với ngành Y tế để tạo sự thống nhất giữa hai cơ quan.
Danh mục chi trả: Cơ quan Bảo hiểm xã hội nên thường xuyên cập nhật hóa danh
mục chi trả để sát thực tế, tư vấn một cách sát thực, tránh tình trạng bội chi, không
đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT.
Việc nghiên cứu sản phẩm “ thẻ từ BHYT” cũng là một giải pháp cần quan tâm do
thực tế số lượng bệnh nhân đông và mã thẻ, ký hiệu trên thẻ lại nhiều dễ dẫn đến
sự sai sót khi nhập dữ liệu, làm báo cáo là nguyên nhân cho việc tính chi phí thanh
quyết toán khám chữa bệnh sai, tổn thất xảy ra là điều khó tránh khỏi. Và tấm “thẻ
từ BHYT” này phải có giá trị lưu hành trên toàn quốc, thông qua tấm thẻ từ BHYT
thì chủ thẻ có thể đến khám chữa bệnh ở bất kỳ bệnh viện nào có ký hợp đồng
+ Thực hiện việc trích lại một phần quỹ khám chữa bệnh tại những cơ quan có số
lượng lao động lớn (trên 500 lao động) (trước kia là trích lại 5% tổng số tiền nộp
BHYT cả năm) và trường học để thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho
học sinh, sinh viên.
+ Đầu tư cho công tác tuyên truyền những căn bệnh phổ biến thông thường như
cảm cúm, đau bao tử, …và vệ sinh an toàn tránh nhiễm bệnh
3.2.1.2 Cơ sở khám chữa bệnh: khi khám chữa bệnh cho bệnh nhân
BHYT, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm khám, điều trị theo đúng chuyên
môn và y đức ngành y, đồng thời tuân thủ các quy định về quyền lợi BHYT. Cụ
thể như sau:
Tập huấn cho đội ngũ y bác sĩ về chính sách BHYT, không để tình trạng bệnh nhân
BHYT vào khám bệnh thì thái độ của các y bác sĩ thay đổi hoàn toàn, thiếu sự
nhiệt tình, khám qua loa, kê đơn thuốc cho có, thiếu trình độ chuyên môn (đặc biệt

thiện môi trường y học.
3.2.2 Mở rộng phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh,
phương thức tham gia:
Hiện nay đang áp dụng hình thức thanh toán theo phí dịch vụ ( như phần 2
đã đề cập). Phương thức thanh toán này bộc lộ nhiều khuyết điểm như dễ dẫn đến
vỡ quỹ khám chữa bệnh, tình trạnng bội chi, cơ sở khám chữa bệnh không tiết
kiệm được chi phí. Cần áp dụng nhiều phương thức thanh toán chi phí khám chữa
bệnh khác như thanh toán theo định suất ,…nhằm tạo lập quyền chủ động cho cơ
quan Bảo hiểm xã hội cũng như cơ sở khám chữa bệnh, nâng cao trách nhiệm của
bệnh viện và chất lượng cung cấp dịch vụ y tế cho mọi đối tượng tham gia BHYT.
Cơ chế thanh toán giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với các cơ sở khám chữa
bệnh cần xác định rõ ràng. Không nên khống chế nguồn chi đối với các cơ sở
khám chữa bệnh ( dễ dẫn đến việc khám bệnh hình thức, không đủ liều, thuốc qua
loa như thực tế dư luận phản ánh)
Các phương thức cần nghiên cứu để thay thế phương thức thanh toán theo
phí dịch vụ mà các nước trên thế giới đang áp dụng:
�Thanh toán theo định suất với những quy định công bằng hơn. Quỹ
phải được khoán hợp lý ở nơi đăng ký ban đầu, được tính toán đầy đủ, có tính đến
trình độ chuyên môn của từng tuyến điều trị, tính đến cơ cấu đối tượng đăng ký
ban đầu, quỹ được chuyển kịp thời cho bệnh viện tự quản lý chi tiêu.
�Thanh toán theo định mức ngân sách
�Thanh toán theo chẩn đoán (Nhật Bản đang áp dụng)
�Kết hợp nhiều phương thức thanh toán cho từng nhóm đối tượng khám
chữa bệnh nội trú và ngoại trú. Muốn thực hiện được sự đa dạng hóa phương
thức này thì phải làm thí điểm tại một số địa phương chọn lọc theo vùng
trên cơ sở khảo sát hướng khám chữa bệnh của nhân dân và của các nhóm đối
tượng.
Phương thức tham gia cũng cần điều chỉnh mở rộng hơn trong BHYT tự
nguyện, không nên khống chế phần trăm tham gia trong hộ gia đình. Vì mục tiêu
là hướng tới BHYT toàn dân nên ai có nhu cầu tham gia thì nên đáp ứng. Việc này

nhất để phân biệt BHYT và bảo hiểm thương mại.
Để thực hiện tốt điều này thì nên chăng Quỹ BHYT chi trả chi phí khám chữa
bệnh cho người tham gia các chi phí dịch vụ y tế cơ bản như thu phí thủ thuật,
phẫu thuật, các chi phí trực tiếp cho người bệnh, còn các chi phí vật tư y tế đắt tiền
sẽ thanh toán thống nhất theo một mức trần chung cho tất cả những người tham
gia BHYT; Cụ thể là điều chỉnh có hệ thống quyền lợi của người tham gia BHYT
nhất là vấn đề chi trả chi phí khám chữa bệnh, xây dựng khung chế độ BHYT cơ
bản, gói dịch vụ y tế cơ bản , còn các dịch vụ y tế khác sẽ được chi trả nếu tham
gia các loại hình BHYT bổ sung ( khác); loại hình BHYT bổ sung này phải do tư
nhân thành lập, hỗ trợ. Do vậy, để thực hiện thì phụ thuộc vào nguồn thu BHYT
nên ngoài nguồn thu từ hoạt động BHYT cơ bản còn có nguồn thu từ BHYT bổ
sung, tránh tình trạng “ gián tiếp bao cấp” khi quỹ khám chữa bệnh bội chi, thực
hiện tốt mục tiêu xã hội hóa BHYT.
Các tiêu chí để đánh giá chất lượng khám chữa bệnh công bằng:
+ Mọi người dân phải được tiếp cận các dịch vụ y tế
+ Dịch vụ y tế phải được cung cấp dựa theo nhu cầu chứ không phải theo khả năng
chi trả.
+ Mọi người dân không phải từ bỏ các nhu cầu thiết yếu khác (ăn, học,…) để trả
cho dịch vụ y tế.
+ Mọi sự cắt giảm trong sử dụng dịch vụ phải liên quan đến giảm “cầu không cần
thiết” chứ không phải do gánh nặng về tài chính.
+ Người nghèo phải nhận được cùng một chất lượng dịch vụ như là người không
nghèo.
Tóm lại thì điều chỉnh quyền lợi BHYT phải thực hiện song hành với tăng mức
đóng BHYT thông qua nhiều yếu tố liên quan về kinh tế, xã hội, ngân sách.
3.2.5 Đổi mới cơ chế tài chính bệnh viện:
Mục tiêu của giải pháp này là tạo quyền chủ động về tài chính cho các cơ sở y tế
theo nguyên tắc lấy thu bù chi. Ưu tiên đầu tư cho chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân từ ngân sách Nhà nước và hạn chế dần việc cấp kinh phí từ Ngân sách Nhà
nước đến bệnh viện, chuyển dần nguồn kinh phí này hỗ trợ mua thẻ BHYT cho

phạt, chỉ có quyền kiến nghị, hoặc tham gia đoàn kiểm tra liên ngành kiến nghị
những cơ quan chức năng kiểm tra và xử phạt. Vì vậy, việc trốn đóng BHYT còn
khá phổ biến ở các đơn vị ngoài quốc doanh. Ở các tỉnh, thành phố thì mối quan
hệ giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và Sở y tế chỉ dừng lại ở một bên là đơn vị nhận
cung ứng dịch vụ và một bên thanh toán một phần chi phí cho dịch vụ để đáp ứng
nhu cầu khám chữa bệnh cho người tham gia thông qua Hợp đồng khám chữa
bệnh, dẫn đến tình trạng còn cơ sở y tế từ chối ký hợp đồng khám chữa bệnh
BHYT, nhận đăng ký khám chữa bệnh BHYT có sự lựa chọn đối tượng hoặc hạn
chế nhận bệnh nhân, việc thống nhất giá dịch vụ kỹ thuật cao phục vụ bệnh nhân
BHYT rất khó khăn.
Trong quản lý thực hiện thì các nguồn đóng góp của BHYT được quản lý tập
trung, nhưng hạch toán riêng theo từng nhóm như quỹ BHYT bắt buộc, quỹ
BHYT tự nguyện, quỹ BHYT cho người nghèo nhằm kiểm tra mức đóng và khả
năng chi trả chung của từng nhóm để có sự điều chỉnh mức đóng những năm tiếp
theo. Tuy nhiên, sẽ có sự điều chỉnh kịp thời giữa các nhóm đối tượng tham gia
BHYT khi có sự thiếu hụt quỹ của một nhóm đối tượng nào đó, không để tình
trạng người bệnh của nhóm đó bị hết quỹ mà không được khám chữa bệnh.
3.2.7 Các cơ sở Khám chữa bệnh không đặt trọng tâm là lợi nhuận:
Chính sách BHYT là chính sách nhằm chăm sóc sức khỏe người dân tốt nhất,
không vì mục tiêu lợi nhuận, là chính sách xã hội. Vì vậy, nếu cơ sở khám chữa
bệnh nào đã ký hợp đồng khám chữa bệnh với cơ quan Bảo hiểm xã hội thì mục
tiêu đạt lợi nhuận từ hình thức này khó xảy ra. Thực tế đã chứng minh điều này.
Như phần hai đã phân tích thì các doanh nghiệp bên ngoài kinh doanh thị phần bảo
hiểm sức khỏe chiếm tỷ lệ chưa cao nhưng đa dạng về hình thức như bảo hiểm sức
khỏe toàn diện, bảo hiểm sức khỏe cho giáo viên, bảo hiểm sức khỏe gia đình,…
Vì vậy, cơ quan Bảo hiểm xã hội cần sớm thành lập doanh nghiệp chuyên
kinh doanh về BHYT; doanh nghiệp này sẽ phải thu thập thông tin, tham khảo đối
tượng tham gia bảo hiểm sức khỏe tại các đơn vị bên ngoài để đưa ra những hình
thức thích hợp nhằm kéo các đối tượng này về tham gia BHYT tự nguyện bổ sung
ngoài phần BHYT bắt buộc. Muốn thực hiện được thì cải tiến quy trình cấp thẻ,

bác sĩ và bệnh nhân thông đồng lấy thuốc ra ngoài bán, một người tham gia BHYT
có nhiều thẻ BHYT cùng lúc do quen biết cán bộ làm công tác cấp thẻ)
- Chiếm dụng tiền đóng BHYT hoặc trốn đóng BHYT cho người lao động của các
đơn vị sử dụng lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
- Chậm làm các thủ tục để có thẻ kịp thời cho người mua BHYT ảnh hưởng đến
sức khỏe và quyền lợi của người tham gia.
Ngoài vi phạm pháp luật BHYT thì các quy định về BHYT tự nguyện còn chắp vá
chưa đáp ứng mục tiêu đề ra, những bất cập trong quy định về địa vị pháp lý của
các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHYT
Vì vậy, muốn đạt được mục tiêu BHYT toàn dân, muốn mang lại quyền bình đẳng
cho những người tham gia BHYT thì nhiệm vụ đưa ra những chế tài hay hoàn
thiện pháp luật BHYT đang là vấn đề cấp bách hiện nay.
Xây dựng Luật BHYT cần bổ sung và hoàn thiện những điều sau:
- Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật BHYT bao
gồm: cơ quan Bảo hiểm xã hội, cơ sở khám chữa bệnh, người mua BHYT.
- Quy định về chế định hợp đồng khám chữa bệnh BHYT. Vì hợp đồng khám chữa
bệnh BHYT được ký kết giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội (người bán BHYT, người
đại diện cho quyền và lợi ích của người mua) và cơ sở khám chữa bệnh (đơn vị
cung ứng dịch vụ y tế) vì lợi ích của bên thứ 3 (người mua BHYT). Đây là nội
dung quan trọng mà pháp luật BHYT hiện hành chưa có quy định cụ thể.
- Quy định chế tài áp dụng cho những hành vi vi phạm và gian lận về BHYT. Các
chế tài có thể áp dụng là trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính và thậm chí
cả trách nhiệm hình sự. Pháp luật nhiều nước quy định chủ doanh nghiệp trốn
đóng BHYT có thể bị phong tỏa tài khoản, … thậm chí có thể bị khởi tố khi vi
phạm nghĩa vụ đóng BHYT.
Như vậy khi xây dựng luật BHYT cần xuất phát từ thực trạng về điều kiện và các
vấn đề đặt ra trong chăm sóc y tế song hành với việc nghiên cứu, tham khảo có
3.2.9 Đổi mới công tác giám định chi:
Như phần 2 về thực trạng công tác giám định chi chúng ta đã thấy công việc giám
định có khâu rất phức tạp như xem bệnh án có đúng không, đối chiếu danh mục

dược.
+ Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về việc nâng giá thuốc, trốn
thuế.
3.2.11 Thực hiện BHYT bắt buộc với học sinh, sinh viên:
Nhìn nhận thực tế thì loại hình BHYT học sinh là loại hình BHYT mang tính bắt
buộc, vì khi nhập học thì đóng học phí bao gồm tất cả các chi phí cho học tập và
sinh hoạt, các phụ huynh bắt buộc phải đóng phí BHYT chung với học phí cho
con em mình. Để thực hiện được BHYT cho học sinh từ tự nguyện sang bắt buộc
thì công tác tuyên truyền rất quan trọng phải chia ra từng đối tượng cụ thể:
+ Đối với giáo viên: phải tuyên truyền lợi ích của nhiều học sinh tham gia BHYT
thì nhà trường sẽ có nhiều kinh phí để duy trì và thực hiện công tác y tế trường
học.
+ Đối với phụ huynh học sinh: tuyên truyền để các phụ huynh thấy được nếu đóng
tiền BHYT cho con em mình thì không phải lo chi phí khám chữa bệnh cả năm.
Lực lượng học sinh học nghề, sinh viên các trường chuyên nghiệp không phân biệt
công lập hay dân lập đang chiếm một tỷ lệ rất lớn trong dân số. Đây là lực lượng
thanh niên trẻ, khỏe, có ý thức cao, dễ chấp hành chế độ chính sách. Rèn luyện ý
thức tham gia BHYT bắt buộc cho họ, phải cho họ hiểu rằng sự đóng góp của họ
ngày hôm nay, một mặt là thực hiện nghĩa vụ với bản thân và cộng đồng xã hội
trong hiện tại nhưng mặt khác cũng là sự đóng góp cho tương lai khi họ về già,
yếu. Để thực hiện được việc bắt buộc học sinh nghề và sinh viên cần phải có quy
định rõ ràng, cụ thể như sau:
+ Tiêu chí bắt buộc cho sinh viên khi tham gia nhập học là phải tham gia BHYT,
nếu không tham gia sẽ không được nhập học hoặc không được tiếp tục học.
+ Hình thức đóng thông qua thu học phí từ nhà trường và có trích tỷ lệ cho nhà
trường làm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho sinh viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status