báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở việt nam - Pdf 10

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH Y TẾ
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM
(Dự thảo 2)
HÀ NỘI, 8/2006
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
2
Mục lục
A. Mở đầu 3
B. Phương pháp, đối tượng nghiên cứu 4
C. Kết quả nghiên cứu và bàn luận 5
I. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHÍNH SÁCH BHYT 14 NĂM QUA 5
1. Về đối tượng tham gia BHYT 5
2. Về mức đóng 7
3. Về quyền lợi 8
4. Về phương thức thanh toán 11
5. Về tổ chức thực hiện 14
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHYT HIỆN HÀNH 15
1. Diện bao phủ 15
2. Quyền lợi 32
3. Mức phí, phương thức thanh toán và khả năng đáp ứng tài chính của quỹ BHYT 40
3. Tổ chức quản lý và năng lực quản lý 51
D. Kết luận 55
E. Khuyến nghị 59
I. Đối với văn bản luật và dưới luật về BHYT 59
1. Về diện bao phủ 59
2. Về quyền lợi BHYT 59
3. Về nghĩa vụ đóng góp 60
4. Về phương thức thanh toán 61
5. Về tổ chức quản lý 62

phát triển một nền y tế công bằng, hiệu quả và phát triển;
c) Phân tích, dự báo khả năng phát triển BHYT ở các khía cạnh kinh tế, xã
hội và luật pháp;
d) Khuyến nghị một số nội dung cần nêu rõ trong dự thảo Luật BHYT.
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
4
B. Phương pháp, đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là nghiên cứu cắt ngang, có
phân tích, phối hợp với nghiên cứu định tính. Phần nghiên cứu bàn giấy “desk
study” rà soát phân tích các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách BHYT,
các thông tin, báo cáo sẵn có, dữ liệu thứ cấp từ các nguồn khác nhau (Chính
phủ, Bộ Y tế và các bộ có liên quan, Tổng cục Thống kế, BHYT VN trước đây,
BHXH VN vv). Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, phần nghiên cứu định
tính thực hiện ở 7 địa phương được lựa chọn có chủ đích. Những địa phương
đó là: Bắc Kạn, Bắc Ninh, TP Hà Nội, Thanh Hoá, Gia Lai, TP Hồ Chí Minh và
Đồng Tháp. Ngoài ra, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã phối hợp với các
nghiên cứu khác để thực hiện nghiên cứu định tính bổ sung tại một số địa
phương khác (bao gồm Lào Cai, Hà Giang và Khánh Hoà).
Nội dung và chỉ số nghiên cứu chủ yếu bao gồm:
- Những thay đổi cơbản trong chính sách BHYT từ 1992 ở các khía cạnh
diện bao phủ, quyền lợi, mức đóng, phương thức thanh tóan chi phí
khám chữa bệnh và hệ thống tổ chức thực hiện;
- Kết quả thực hiện chính sách BHYT khu vực bắt buộc, tự nguyện;
- Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, tính
bèn vững của các chương trình BHYT và khả năng bao phủ của BHYT
xã hội trong thời gian tới;
- Những bất cập về mặt chính sách BHYT cần sửa đổi, bổ sung.
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
5
C. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

- Cán bộ xã già yếu nghỉ việc hưởng trợ cấp hàng tháng;
- Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa
học ;
- Thân nhân sĩ quan Quân đôị nhân dân; sĩ quan nghiệp vụ trong lực
lượng Công an nhân dân;
Điều lệ BHYT hiện hành, ban hành theo nghị định số 63/2005/NĐ-CP, có
hiệu lực từ 1/7/2005 đã chính thức đưa vào điều lệ BHYT một số đối tượng
đang tham gia BHYT bắt buộc nhưng chưa có trong điều lệ BHYT ban hành
theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định 58 quy định một số đối
tượng mới tham gia BHYT bắt buộc sau đây:
- Người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có dưới 10 lao
động (kể trong các hợp tác xã);
- Người lao động trong mọi tổ chức được thành lập và hoạt động hợp
pháp;
- Cựu chiến binh thời chống Pháp, chống Mỹ.
Một trong những điểm đáng lưu ý về khía cạnh chính sách là người lao
động trong các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều được tham gia
BHYT bắt buộc, khác với quy định trước đây là BHYT chỉ thực hiện đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên.
b. BHYT tự nguyện
Trong khi quy định về đối tượng tham gia BHYT bắt buộc liên tục được điều
chỉnh qua mỗi kỳ sửa đổi điều lệ BHYT thì quy định về đối tượng tham gia
BHYT tự nguyện cơbản không thay đổi từ Nghị định đầu tiên về BHYT tới nay.
Tất cả các đối tượng ngoài diện tham gia BHYT bắt buộc có thể tham gia
BHYT tự nguyện. Sự khác biệt đáng chú ý nhất là trong Thông tưhướng dẫn
thực hiện BHYT tự nguyện gần đây nhất đã có quy định về tỷ lệ người tham
gia BHYT tối thiểu trong từng cộng đồng. Tuy vậy, tỷ lệ đó chưa đủ an toàn,
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
7
ngược lại, nó trở thành một yếu tố hỗ trợ cho lựa chọn bất lợi

Lựa chọn bất lợi: những người có nguy cơbệnh tật, chi phí y tế lớn tham gia BHYT nhiều hơn so với
người khỏe mạnh, tạo nên gánh nặng cho quỹ BHYT.
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
8
b. BHYT tự nguyện
Trong 14 năm qua, mức phí BHYT tự nguyện luôn luôn được Chính phủ
giao cho các bộ liên quan hướng dẫn và quy định cụ thể.
Thông tưđầu tiên về BHYT tự nguyện, trong đó có hướng dẫn về mức phí
BHYT tự nguyện cho học sinh, sinh viên là thông tưsố 14/TT-LB, ban hành
ngày 19/9/1994. Mức phí được áp dụng là từ 10.000 đồng đến 40.000
đồng/học sinh/năm học, tùy thuộc vào vùng kinh tế và cấp học.
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách BHYT, ngày 7/8/2003, Liên bộ Tài
chính – Y tế lần đầu tiên ban hành một thông tư liên tịch (thông tư
77/2003/TTLT-BTC-BYT) hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho nhiều
nhóm đối tượng, theo đó mức phí BHYT dao động từ 25.000 đồng đến
140.000 đồng, tùy thuộc nhóm đối tượng và khu vực (thấp nhấp ở nhóm học
sinh sinh viên khu vực nông thông và cao nhất là nhân dân khu vực thành thị).
Bảng 1. Mức phí BHYT tự nguyện theo nhóm đối tượng tham gia và
khu vực theo thông tưsố 77/2003/TTLT-BTC-BYT
Đơn vị tính: đồng/người/năm
KHU VỰC
ĐỐI TƯỢNG THỰC HIỆN Thành thị Nông thôn
Dân cưtheo địa giới hành chính 80.000 – 140.000 60.000 - 100.000
Hội, đoàn thể 80.000 – 140.000 60.000 - 100.000
Học sinh, sinh viên 35.000 – 70.000 25.000 - 50.000
3. Về quyền lợi
a. BHYT bắt buộc
Nghị định 299/HĐBT năm 1992 quy định khá rộng, nhưng không cụ thể về
gói quyền lợi của người tham gia BHYT. Theo quy định tại điều 13 và điều 15,
người được BHYT có quyền “được khám chữa bệnh ở các cơsở y tế thuận lợi

s
ố 58/1998/NĐ
-
CP
1. Khám bệnh, chẩn đoán và điều trị
2. Xét nghiệm, chiếu chụp x quang, thăm dò chức năng;
3. Thuốc trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế;
4. Máu, dịch truyền;
5. Các thủ thuật, phẫu thuật;
6. Sử dụng vật tưy tế, thiết bị y tế và giường bệnh.
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
10
nhân. Đồng thời, Nghị định 58 không giới hạn cung ứng dịch vụ khám chữa
bệnh chỉ trong khu vực y tế công, nhưquy định tại Điều lệ BHYT cũ.
Năm 2005, sau gần 7 năm thực hiện Nghi định 58, quyền lợi của người
tham gia BHYT được điều chỉnh tiếp theo những quy định tại Điều lệ BHYT
mới, ban hành theo Nghị định 63/2005 ở những điểm chính sau đây:
 Không thực hiện cùng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh đối với tất cả
người tham gia BHYT;
 Đối với dịch vụ y tế kỹ thuật cao, chi phí lớn, ngừoi bệnh BHYT (trừ một số
nhóm đối tượng ưu tiên) tự chi trả phần chi phí vượt mức tối đa ;
 Ngoài ra, Điều lệ BHYT mới quy định một số nhóm đối tượng tham gia
BHYT được thanh toán chi phí vận chuyển trong trường hợp chuyển tuyến.
b. BHYT tự nguyện
 BHYT tự nguyện cho học sinh, sinh viên
Năm 1994, thông tưliên bộ số 14/TT-LB (Giáo dục đào tạo và Y tế) hướng
dẫn thực hiện BHYT học sinh đã quy định quyền lợi của học sinh tham gia
BHYT, bao gồm một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế nhà
trường, chữa bệnh nội trú và trợ cấp mai táng phí (500.000 đồng). Quyền lợi
chữa bệnh ngoại trú chỉ giới hạn trong sơcứu tai nạn và “ốm đau đột xuất”.

Trong 14 năm qua, phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
đã được thay đổi nhiều lần qua 3 lần ban hành Điều lệ BHYT. Mặc dù vậy,
phương thức chi trảtheo phí dịch vụ(fee-for-service payment), vốn là một
phương thức thanh toán có nhiều bất lợi trong tài chính y tế, vẫn đang là
phương thức thanh toán được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ hệ thống cung
ứng dịch vụ cho bệnh nhân BHYT.
Có thể điểm lại những phương thức thanh toán chi phí khác nhau qua các
giai đoạn nhưsau:
Giai đoạn 1 (từ 1993 - 23/11/1994)
- Thanh toán chi phí khám chữa bệnh nội trú theo giá ngày giường bình
quân. Giá ngày giường bình quân được gọi là giá một đơn vị điều trị
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
12
bình quân và được tính theo công thức = (tổng chi nghiệp vụ phí + công
vụ phí +phụ cấp lương + lương)/tổng số ngày điều trị của bệnh nhân ra
viện năm trước) (Thông tưsố 09 BYT/TT ngày 17 tháng 6 năm 1993).
- Thanh toán chi phí khám chữa bệnh ngoại trú: theo nguyên tắc khoán
quỹ ngoại trú theo số thẻ đăng ký (quỹ khoán bằng 13.5% tổng thu
BHYT của sốthẻ BHYT đăng ký tại cơsở khám chữa bệnh ) nhưquy
định tại Thông tưsố 09 BYT/TT ngày 17 tháng 6 năm 1993).
Giai đoạn 2 (từ 23/11/1994 đến 19/12/1998)
Phương thức thanh toán trong giai đoạn này được quy định bởi Nghị
định 95/CP và thông tưsố 20/TT-LB ngày 23/11/1994 của Bộ Y tế, Tài chính,
Lao động TBXH và Ban Vật giá Chính phủ hướng dẫn thực hiện Nghị định số
95/CP về việc thu một phần viện phí.
Nghị định 95/CP quy định “người có thẻ BHYT được cơquan BHYT trả
một phần viện phí cho các cơsở khám chữa bệnh” (khỏan 3, Điều 3). Phương
thức thanh toán một phần viện phí là “thu theo dịch vụ đối với người bệnh
ngoại trú và thu theo ngày giường điều trị đối với người bệnh nội trú” (Khỏan 2,
Điều 5 của Nghị định).

Phương thức thanh toán trong giai đoạn này được quy định tại Điều lệ
BHYT mới, ban hành theo Nghị định 63/2005, bao gồm các phương thức thanh
toán theo phí dịch vụ, thanh toán theo định suất, theo nhóm chẩn đoán hoặc
các phương thức thanh toán khác. Thông tưliên tịch 21/2005 ngày 27/7/2005
của liên bộ hướng dẫn chi tiết hai phương thức thanh toán giữa quỹ BHYT và
cơsở y tếlà thanh toán theo phí dịch vụ có trần và thanh toán theo định suất.
Cơsở khám chữa bệnh lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp để ký hợp
đông với cơquan BHXH.
b. BHYT tự nguyện
Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh của các chương trình
BHYT tự nguyện trong nhiều năm qua luôn luôn tương đồng với phương thức
BHYT bắt buộc. Thông tưgần đây nhất hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện
(thông tưliên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/8/2005) quy định “cơsở
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
14
KCB lựa chọn hình thức thanh toán theo phí dịch vụ hoặc thanh toán theo định
suất theo hướng dẫn tại Thông tưsố 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005
của liên Bộ Y tế, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc”.
5. Về tổ chức thực hiện
Trong 14 năm qua, hệ thống BHYT đã có nhiều thay đổi về tổ chức. Nếu
xem xét hệ thống tổ chức BHYT từkhía cạnh mức độ phân quyền, phân cấp,
mối quan hệ với các cấp chính quyền và hệ thống y tế của các tỉnh, thành phố
thì có thểtạm chia quá trình thay đổi tổ chức của hệ thống BHYT thành 3 giai
đoạn nhưsau:
i. Giai đoạn từ 1/10/1992 đến 1/10/1998: hệ thống BHYT được tổ chức
theo mô hình đa quỹ, phân tán theo tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương;
ii. Giai đoạn từ 1/10/1998 đến 1/1/2003: hệ thống BHYT được tổ chức
theo mô hình đơn quỹ, những có phấn cấp, có phân quyền mạnh cho
các quỹ BHYT tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Điều lệ BHYT ban hành theo Nghị định 63/2005 bổ sung một số nhóm đối
tượng tham gia BHYT bắt buộc, trong đó toàn bộ người nghèo (khoảng 20
triệu người nghèo trên cả nước theo chuẩn mới) đều được Nhà nước cấp
ngân sách để mua thẻ BHYT. Vì vậy, số người tham gia BHYT đã tăng rất
nhanh trong năm 2005 và năm 2006. Số người tham gia BHYT thuộc các đối
tượng khác nhau thể hiện ở bảng 3 dưới đây.
Bảng 3. Diện bao phủ BHYT bắt buộc và tự nguyện năm 2005
Chương trình BHYT Số người
1 Bắt buộc 14.700.000
2
4
5
6
Tự nguyện
Học sinh
Hộ gia đình
Thân nhân người tham gia BHYT bắt buộc
Thành viên các tổ chức xã hội – nghề nghiệp
7.700.000
481.000
268.000
786.000
Tổng 23.800.000
Nguồn: Số liệu của BHXH Việt Nam
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
16
a. BHYT bắt buộc
 Các nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc
Quy định hiện hành về BHYT bắt buộc theo Nghị định 63/2005/NĐ-CP
và thông tưsố 21/2005/TTLT-BYT-BTC tạo ra những thay đổi về đối tượng

2
2004 2005 2006
Số người % Số người % Số người %
Bắt buộc 8,756,490 45.8 9,227,692 39.5 9,600,000 31.5
Người nghèo 3,954,768 20.7 4,846,979 20.7 11,200,000 36.7
Tự nguyện 6,394,319 33.5 9,294,804 39.8 9,700,000 31.8
Tổng cộng 19,107,581 100 23,371,480 100 30,502,006 100
Nếu chỉ xét riêng những đối tượng tham gia BHYT bắt buộc không phải
là người nghèo, có thể thấy những năm qua số người tham gia BHYT bắt buộc
tăng tương ứng với mức độ tăng trưởng kinh tế, với số lao động trong khu vực
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tưnhân và doanh nghiệp đầu tưnước
ngoài mỗi năm một nhiều hơn. Đáng chú ý về khía cạnh chính sách là từ năm
2003, thân nhân sĩ quan quân đội nhân dân bắt đầu được hưởng chế độ
BHYT.
Số người tham gia BHYT thuộc các doanh nghiệp ngoài nhà nước sở dĩ
tăng nhanh hơn trong hai năm gần đây là do chính sách cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước; số lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước
chuyển sang tham gia BHYT bắt buộc tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà
nước.
Điểm đáng chú ý hiện nay về đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là đa
số người tham gia BHYT bắt buộc là những ngừoi có mức đóng thấp, nguy cơ
cao: gần 20 triệu người nghèo với mức đóng 60.000 đồng/người/năm; trên 1,7
2
Nguyễn Khánh Phương và CS, Đánh giá kết quả thực hiện chính sách BHYT tại Hà Nội, Viện
CLCSYT, 2006
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
18
triệu người về hưu, 1,2 triệu người thuộc nhóm ưu đãi xã hội. Nếu Luật BHYT
không thay đổi cơcấu người tham gia BHYT bắt buộc theo hướng tăng cường
sự đóng góp của các thành viên có thu nhập ổn định, trong tuổi còn lao động

Biểu đồ 2.
Cơ cấu lao động,
phân theo các khu
vực lao động phí
chính quy, chính
quy và khu vực
không tham gia lao
động (thời điểm
2004, nguồn: Tổng
cục thống kê)
Số liệu thống kê cho thấy số lao động chính quy tham gia BHYT bắt
buộc, tính tới thời điểm 31/12/2005 là trên 5,75 triệu/tổng số 11 triệu đối tượng
cần khai thác, đạt tỷ lệ khai thác trên 50% (xem bảng 5 dưới đây).
Bảng 5. Số người tham gia BHYT bắt buộc thuộc khu vực lao động chính quy,
tính tới 31/12/2005.
Trong năm 2005,
số người tham
gia BHYT trong
các tổ chức ngoài
công lập, hộ kinh
doanh cá thể
chiếm tỷ trọng rất
thấp so với tổng
số lao động trong
khu vực này.
Số lao động tham gia BHYT bắt buộc thuộc các hộ kinh doanh cá thể trên cả
nước chỉ là 3.649 người. Không thể không đặt câu hỏi những người tham gia
BHYT có phải chính là những người đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế
không?
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT

- Tính ổn định thấp của doanh nghiệp tưnhân;
3
Nguyễn Khánh Phương, Đánh giá kết quả thực hiện chính sách BHYT tại Hà Nội, Viện CLCSYT, 2006
Việc triển khai HBYT bắt buộc đối với
các doanh nghiệp tưnhân vừa và nhỏ
trên địa bàn rất khó khăn. Các doanh
nghiệp có rất nhiều cách để trốn không
mua BHYT cho người lao động như
không khai báo, ký hợp đồng làm việc
ngắn hạn v.v… và nếu có mua thì họ
cũng chỉ mua cho một số ít người lao
động thôi chứ không mua cả…. Mặt
khác hiệu lực của các văn bản nhằm
bắt các doanh nghiệp thực hiện Luật
lao động chưa đủ mạnh, nhất là việc
mua BHYT và BHXH cho người lao
động…
(Lãnh đạo BHXH Quận Tân Bình)
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
21
- Doanh nghiệp thường trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH bằng cách khai giảm
số lao động thuê mướn, cắt giảm tiền công trong hợp đồng;
- Chất lượng dịch vụ y tế chưa cao;
Trong thảo luận nhóm, đại diện môt số doanh nghiệp tư nhân có tham gia
BHYT đã nêu lý do đóng BHYT vì:
- Doanh nghiệp muốn chứng tỏ mình làm ăn đàng hoàng, chấp hành quy
định của Nhà nước;
- Doanh nghiệp muốn người lao động gắn bó và yên tâm làm việc với doanh
nghiệp;
- Chi phí đóng BHYT không lớn so với chi phí vận hành doanh nghiệp.

tất cả những ai (1) Làm cho công ty với trên 1 năm, có hợp đồng dài hạn; (2)
Có đạo đức tốt; (3) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (4) Tinh thần gắn bó với doanh
nghiệp. Ng-ợc lại, doanh nghiệp cà phê H-ng Bình lại chỉ đóng BHXH và mua
BHYT cho những đối t-ợng nào mà công ty thấy cần phải gắn trách nhiệm của
họ lâu dài với công ty.
Hầu hết các doanh nghiệp t- nhân ở Gia Lai đều gặp một số khó
khăn khi tham gia BHYT: (1) Khó khăn trong đảm bảo nguồn vốn vì phí BHXH
và BHYT (23% ) là khoản tiền t-ơng đối lớn; (2) Công nhân không muốn tham
gia BH vì không muốn bị trừ l-ơng. Một số ng-ời kêu ca về quyền lợi KCB nên
không muốn tham gia.
Các cuộc thảo luận nhóm cho thấy nguyên nhân chính các DN không
tham gia BHYT là do nhận thức của doanh nghiệp và ng-ời lao động còn hạn
chế. Theo các doanh nghiệp t- nhân, cần phải cải tiến thủ tục hành chính;
đóng tiền cho cơ quan BH thì dễ nh-ng giải quyết quyền lợi thi khó.
Cần phải nhìn từ 2 phía cho sòng phẳng, cả bên tham gia và bên chi trả. Nếu
2 bên hợp tác thủ tục nhanh gọn thì sẽ khuyến khích ng-ời LĐ tham gia
Chủ doanh nghiệp ga Đặng Ph-ớc
Viện CLCSYT - Báo cáo đánh giá chính sách và thực hiện chính sách BHYT
23
Thông tưhướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện hiện hành (Thông tưsố
22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/8/2006) cho phép sử dụng quỹ BHYT bắt
buộc để thanh toán chi phí y tế của người tham gia BHYT tự nguyện nếu quỹ
tự nguyện thiếu hụt, tạo ra cơchế thuận lợi, khuyến khích mở rộng đối tượng
tham gia BHYT tự nguyện.
Hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện có 2 điểm quan trọng liên quan
tới đối tượng tham gia và sự bền vững của quỹ, đó là:
 Quy định tỷ lệ thành viên tham gia tối thiểu trong cộng đồng tham gia BHYT
tự nguyện. Tỷ lệ tham gia tối thiểu trong chương trình BHYT cho hộ gia
đình là 10% số hộ trong cộng đồng; trong chương trình BHYT tự nguyện
cho thành viên của các hội, đoàn thể là 30% số thành viên trong hội; đối với

thuộc các hội, đoàn thể
tằng lên so với năm 2004.
Xu hướng này đang tiếp
tục xảy ra trong năm 2006
tại một số địa phương;
một số địa phương đang
tìm cách hạn chế, do phát
hiện tình trạng lựa chọn
bất lợi.
Biểu đồ 3. Tỷ trọng người tham gia năm
2004 – 2005 theo các chương trình BHYT
TN
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2004 2005
Thân nhân người lao
động
Hội đoàn thể
Hộgia đình
Học sinh sinh viên
Số người tham gia BHYT tự nguyện trong thời điểm hiện nay (nửa đầu

huynh học sinh thường mua BHYT cho con em của mình theo tinh thần “bắt
buộc tự nguyện”.
Vì vậy, học sinh, sinh viên đã chiếm tỷ trọng cao nhất trong các nhóm
đối tượng tham gia BHYT tự nguyện. Năm 2004, học sinh chiếm 95% và năm
2005 chiếm 83,5% tổng số người tham gia BHYT tự nguyện.
Các chương trình Bảo hiểm y tế tự nguyện khác
Tốc độ mở rộng diện bao phủ của các chương trình BHYT tự nguyện ở
nông thôn đã tăng tương đối trong 6 năm qua, nhưng không tăng nhiều về số

Trích đoạn Mức phớ, phương thức thanh toỏn và khảnăng đỏp ứng tài chớnh của quỹBHYT Tổchức quản lý và năng lực quản lý Vềtổchức quản lý Đốivới các văn bản luật có liên quan khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status