Tài liệu BÁO CÁO TỔNG KẾT 15 NĂM TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM - Pdf 96

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Số: /VP-BHXH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2007
BÁO CÁO TỔNG KẾT
15 NĂM TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM
Sau gần 15 năm tổ chức thực hiện chính sách BHYT, từ khi triển khai các mô hình thí
điểm về BHYT với nhiều hình thức, tên gọi khác nhau như: Quỹ bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng;
Quỹ khám chữa bệnh nhân đạo Vĩnh Phúc; Quỹ BHYT tự nguyện ở Bến Tre, Quảng Trị và Quỹ
khám chữa bệnh đường sắt vv cho đến khi được tổ chức thành một hệ thống tập trung thống
nhất từ Trung ương đến địa phương như hiện nay, chính sách BHYT ở Việt Nam đã được hình
thành và ngày càng phát triển với những thành tựu rất đáng khích lệ. BHYT đã đi từ không đến
có, ngày càng phát triển cả về lọai hình, số lượng người tham gia, chất lượng của các dịch vụ y tế
được cung cấp, khẳng định được vị trí của mình trong đời sống xã hội và đang trở thành một
trong những nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân.
Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển đã qua, có thể thấy chính sách
BHYT ở Việt Nam được triển khai, tổ chức thực hiện qua 3 giai đoạn cụ thể như sau:
I. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 1998
Năm 1992 được coi là một mốc son lịch sử trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
BHYT ở Việt Nam. Với việc tổ chức thực hiện thí điểm thành công quỹ BHYT ở một số địa
phương trong thời gian từ 1989-1991 đã cho thấy thực hiện chính sách BHYT là hướng đi đúng
đắn, một giải pháp tích cực để tạo nên một nguồn lực tài chính ổn định cho hoạt động KCB
nhằm tăng cường chất lượng phục vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho nhân dân theo định hướng
công bằng, hiệu quả, cơ bản và lâu dài, góp phần thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác y tế.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thí
điểm thực hiện BHYT, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Điều lệ BHYT kèm
theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam.
1. Về tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHYT:
Trong giai đoạn này, bộ máy triển khai thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam được tổ
chức theo mô hình đa quỹ, chịu sự quản lý, giám sát toàn diện của Hội đồng quản trị BHYT tại

hoạch đã được Hội đồng quản trị BHYT phê duyệt. BHYT Việt Nam ngoài chức năng chỉ đạo và
hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ đối với BHYT cấp tỉnh còn trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn
kinh phí thu được từ các đối tượng tham gia BHYT là người lao động thuộc khối các cơ quan
Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương thức quản lý, sử dụng quỹ BHYT trong giai đoạn này đã tạo nên và duy trì tính
chủ động về mặt tài chính cho cơ quan BHYT các địa phương, ngành, phù hợp với đặc điểm tình
hình kinh tế xã hội và khả năng thanh toán của quỹ BHYT theo địa bàn hành chính và tính chất
đặc thù của các ngành.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cơ chế quản lý và sử dụng quỹ BHYT phân tán, cục bộ
nêu trên là không thực hiện được đầy đủ tính cộng đồng – nguyên lý số một của hoạt động BHYT
trên phạm vi cả nước. Cơ chế này không cho phép điều tiết quỹ BHYT từ nơi còn dư đến nơi
thiếu và mang nặng tính cục bộ địa phương. Thực tế đã cho thấy, không ít địa phương do có số
thu BHYT thấp hoặc tần suất khám chữa bệnh của người tham gia BHYT cao đã dẫn đến tình
trạng mất cân đối quỹ BHYT. Tính đến năm 1997 đã có 17 tỉnh, thành phố bị bội chi và mất cân
đối quỹ BHYT gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Nam Định, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Đà nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Tháp, Bình Dương, Tiền
Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu mà BHYT Việt Nam không thực hiện điều tiết
được các nguồn kinh phí còn dư ở một số địa phương, ngành khác để đảm bảo kịp thời nguồn
kinh phí cho các cơ sở KCB thuộc các địa phương nói trên. Trong khi nhiều địa phương lâm vào
tình trạng vỡ quỹ BHYT như trên thì không ít các tỉnh, thành phố và đặc biệt là BHYT các ngành
có số kết dư lớn lại sử dụng nguồn tài chính này cho các mục đích khác không đúng với quy định
của chính sách BHYT hiện hành như đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị,
dụng cụ y tế vv… Cơ chế quản lý, sử dụng quỹ trong giai đoạn này cũng đã tạo ra sự mất công
bằng trong việc đảm bảo quyền lợi cho người bệnh có thẻ BHYT. Một số địa phương, đặc biệt là
các ngành có số thu BHYT lớn, tần suất khám chữa bệnh của người tham gia BHYT lại thấp nên
dư quỹ nhiều và mức chi trả chi phí khám chữa bệnh cũng rộng rãi hơn các địa phương có số thu
BHYT thấp, nhất là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ngay tại cùng một cơ sở KCB cũng đã
2
có sự chênh lệch về mức chi trả cho cùng một loại bệnh giữa những người tham gia BHYT thuộc
các địa phương, ngành khác nhau. Sự không thống nhất và mất công bằng trong đảm bảo quyền

cao, chưa có cơ chế chính sách khuyến khích mở rộng lọai hình tham gia BHYT tự nguyện.
4. Về tình hình thu quỹ BHYT:
Cùng với sự gia tăng diện bao phủ BHYT, số thu quỹ BHYT cũng liên tục tăng đều qua
các năm và ngày càng có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động của ngành y tế nói
chung, công tác khám chữa bệnh nói riêng, góp phần giảm thiểu gánh nặng về tài chính y tế cho
Ngân sách nhà nước. Sau một năm triển khai thực hiện, quỹ BHYT đã thu được 114 tỷ đồng,
bằng 7,2% ngân sách nhà nước dành cho y tế trong đó quỹ BHYT bắt buộc là 111 tỷ, BHYT tự
nguyện bước đầu mới thu đạt 3 tỷ đồng. Số thu quỹ BHYT liên tục tăng đều qua các năm và đến
năm 1998 số thu BHYT đã chiếm 28,4% NSYT với tổng thu đạt 695 tỷ đồng trong đó 624 tỷ thu
được từ các nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc và số thu quỹ BHYT tự nguyện đã được
71tỷ, tăng gần 24 lần so với năm đầu tổ chức thực hiện chính sách BHYT.
3
5. Vấn đề đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT
Chính sách BHYT ở Việt Nam tuy còn rất mới mẻ vào giai đoạn này nhưng đã khẳng
định được tính ưu việt của một chính sách xã hội, một hướng đi đúng đắn trong sự nghiệp chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện, quyền lợi của người
tham gia BHYT đã được đảm bảo đúng theo quy định và từng bước mở rộng, nâng cao, chất
lượng các DVYT ngày càng tốt hơn và tiếp cận gần hơn với người tham gia BHYT. Quỹ BHYT
đã đảm bảo chi trả chi phí khám chữa bệnh cho hàng triệu người có thu nhập thấp, người có công
với nước, hàng chục ngàn người mắc các bệnh hiểm nghèo trên phạm vi cả nước không phân biệt
giàu, nghèo đã được quỹ BHYT chi trả những chi phí lớn mà bản thân họ và gia đình không thể
nào có khả năng tự trang trải được.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế là, sau khi xảy ra tình trạng bội chi quỹ KCB
BHYT tại nhiều tỉnh, thành phố vào năm 1997, nhiều giải pháp đã được thực hiện nhằm giảm
thiểu tình trạng bội chi quỹ như áp dụng các quy định về mức chi phí tối đa cho một ngày điều trị
nội trú của Thông tư liên Bộ số 11/TTLB ngày 19/9/1997 của liên Bộ Y tế-Tài chính-Lao động
TBXH-Ban Vật giá Chính phủ. Giải pháp này phần nào đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người
bệnh có thẻ BHYT khi một số cơ sở KCB hạn chế dịch vụ kỹ thuật và thuốc chỉ định cho người
bệnh.
II. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1998 ĐẾN 2005

hệ thống BHYT Việt Nam từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam, một cơ quan thuộc Chính phủ quản
lý và điều hành chung các chính sách an sinh xã hội. Với sự chuyển đối cơ bản này, bộ máy tổ
chức thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh thêm một bước, đảm bảo năng
lực điều hành đáp ứng với những yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao theo mục tiêu thực hiện
BHYT toàn dân đã được khẳng định trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Bên
cạnh mục tiêu tinh giản bộ máy theo chương trình cải cách của Chính phủ, chính sách BHYT
cũng được tăng cường tổ chức thực hiện theo hướng tập trung, thống nhất. BHXH Việt Nam thực
hiện đầy đủ và triệt để chức năng chỉ đạo và điều tiết các hoạt động liên quan đến chính sách xã
hội, đảm bảo tốt hơn sự công bằng trong chăm sóc y tế cho cộng đồng.
2. Về quản lý và sử dụng quỹ BHYT:
Từ năm 1999 -2002, về nguyên tắc quỹ BHYT được quản lý tập trung tại BHYT Việt
Nam nhưng trong thời kỳ này, riêng quỹ khám chữa bệnh BHYT được giao cho BHYT cấp tỉnh
trực tiếp quản lý và sử dụng theo sự chỉ đạo và điều hành của BHYT Việt Nam. Nguyên tắc này
được thực hiện như một giai đoạn quá độ chuyển tiếp từ quản lý quỹ phân tán, cục bộ địa phương
sang quản lý tập trung thống nhất toàn ngành nhằm duy trì tính chủ động và nâng cao trách
nhiệm của Giám đốc BHYT cấp tỉnh, đảm bảo khả năng cân đối và sự an toàn của quỹ BHYT tại
từng địa phương và ngành trước khi có sự điều tiết, cân đối quỹ từ Trung ương. BHYT Việt Nam
trực tiếp quản lý nguồn quỹ dự phòng khám chữa bệnh hàng năm, nguồn kết dư (nếu có) và thực
hiện điều tiết quỹ khám chữa bệnh trên phạm vi cả nước trong trường hợp có sự mất cân đối cục
bộ quỹ BHYT tại một số địa phương, ngành.
Bên cạnh đó, để tăng cường hiệu quả sử dụng quỹ BHYT và khắc phục tình trạng bội chi
quỹ khám chữa bệnh BHYT, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP
ngày 15/8/1998 của Chính phủ đã cho phép triển khai thực hiện một số biện pháp kiểm soát quỹ
KCB BHYT như cùng chi trả chi phí KCB đối với một số nhóm đối tượng, thực hiện khoán quỹ
KCB ngoại trú cho các cơ sở KCB ban đầu và xác định một mức trần thanh toán chi phí trong
khu vực điều trị nội trú. Với việc áp dụng các biện pháp kiểm soát như trên, đặc biệt là cơ chế
cùng chi trả chi phí KCB, hiệu quả sử dụng quỹ BHYT đã được nâng cao lên một bước đáng kể.
Quỹ BHYT đã được tăng cường sự kiểm soát từ chính những người tham gia BHYT, hiện tượng
lạm dụng, sử dụng sai mục đích quỹ khám chữa bệnh BHYT đã được hạn chế và tình trạng bội
chi quỹ cũng dần được khắc phục và bắt đầu có kết dư.

vào những năm 1998-1999. Tỷ lệ này vào những năm tiếp theo có sự gia tăng đột biến khi nhận
thức của các cấp chính quyền địa phương đã có sự chuyển biến rõ rệt. Số người nghèo có BHYT
đã cú sự gia tăng rừ rệt từ 364.000 người năm 1998 lên hơn 4,8 triệu vào năm 2005. Tuy vậy, tỷ
lệ này vẫn còn rất khiêm tốn so với thực tế vì theo chuẩn nghèo quốc gia thì hiện Việt Nam có
khoảng 18 triệu người thuộc diện nghèo đói cần có BHYT.
Cựng với loại hỡnh BHYT bắt buộc, phỏt triển cỏc loại hỡnh tham gia BHYT tự nguyện
cũng được xác định là một trong số nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn này. Bên cạnh việc duy
trỡ và triển khai thực hiện tốt BHYT học sinh, các nhóm đối tượng tiềm năng khác như các hộ
nông dân, hộ tiểu thương thành thị đó bước đầu được xây dựng chương trỡnh, kế hoạch triển
khai thớ điểm tạo tiền đề mở rộng và từng bước phát triển số người tham gia BHYT. Tuy nhiên,
BHYT tự nguyện với tỷ lệ tham gia khá bấp bênh đó làm chậm quỏ trỡnh tăng trưởng. Đặc biệt,
từ năm 1999 - 2001, do có sự cạnh tranh khá gay gắt của các loại hỡnh BHYT thương mại nên số
học sinh tham gia BHYT tự nguyện giảm sút so với năm 1998. Theo tài liệ điều tra y tế quốc gia
năm 1998 - 2002 thỡ tỷ lệ bao phủ BHYT học sinh sinh viờn mới chỉ đạt 25.7%. Tỷ lệ này cao
nhất ở vùng Đông Nam Bộ (37.5%) và thấp nhất ở vùng Tây Bắc (12.1%).
Số liệu thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy số lượng người tham gia BHYT vẫn tăng
đều hàng năm. Đặc biệt, sau khi BHYT được sát nhập vào BHXH Việt Nam, đối tượng tham gia
và diện bao phủ BHYT đã có sự tăng trưởng rất nhanh mà vẫn tiết kiệm được biên chế và chi phí
quản lý hành chính. Nếu như sau gần 6 năm triển khai thực hiện chính sách BHYT, đến năm
1998 tỷ lệ bao phủ BHYT mới đạt 12.7% dân số cả nước thỡ đến năm 2005 đó bao phủ được
28% dân số có BHYT với trên 23,7 triệu người tham gia. Việc tăng số người tham gia BHYT đó
gúp phần củng cố và tạo nguồn tài chớnh ổn định vững chắc cho công tác khám chữa bệnh
BHYT và tạo tiền đề để xây dựng và triển khai thực hiện lộ trỡnh BHYT toàn dõn.
4. Về tình hình thu quỹ BHYT:
Nguồn thu quỹ BHYT ngày càng chiếm tỷ trong cao trong tổng ngân sách nhà nước dành
cho y tế, đến giai đoan này đó đạt tỷ lệ khoảng trên 35% ngân sách y tế và chiếm tới 50% tổng
6
chi phí khám chữa bệnh tại cơ sở y tế. Việc triển khai thực hiện cơ chế quản lý tập trung thống
nhất toàn ngành đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng nhanh số đối tượng tham gia và nguồn
thu cho quỹ BHYT. Bên cạnh đó, mức tiền lương tối thiểu cũng có sư gia tăng qua các thời kỳ đó

khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được
chăm sức sức khỏe ngay tại y tế tuyến xó. Cũng trong giai đoạn này, việc mở rộng loại hỡnh
cung cấp dịch vụ y tế từ cỏc cơ sở y tế ngoài công lập bắt đầu được thỉ điểm tổ chức thực hiện và
đó thu được một số kết quả khả quan, tạo cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chính sách BHYT quả
quan trọng, tạo cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chính sách BHYT giai đoạn sau với sự tham gia đầy
đủ và bỡnh đẳng của các cơ sở y tề ngoài công lập.
II. GIAI ĐOẠN TỪ 2005 ĐẾN NAY
Giai đọan này được đánh dấu bởi sự ra đời của Điều lệ BHYT mới ban hành kèm theo
Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ. Kết quả sau gần hai năm triển
khai tổ chức thực hiện cho thấy chính sách BHYT đã thu được những tành tựu đáng khích lệ. Bên
cạnh đó, cũng đã sớm bộc lộ không ít những khó khăn, bất cập cần được sớm sử đổi, bổ sung và
hoàn thiện thêm, cụ thể như sau:
7
1. Những kết quả đạt được trong tổ chức thực hiện Điều lệ BHYT ban hành kèm theo
Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ:
Thứ nhất, diện bao phủ và số lượng người tham gia BHYT tăng rất nhanh khi thực hiện
Điều lệ BHYT mới ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính
phủ. Nếu như năm 2005, diện bao phủ BHYT ở Việt Nam mới đạt được 28% với 23,7 triệu thẻ
BHYT được phát hành thì chỉ sau một năm thực hiện Điều lệ BHYT mới, diện bao phủ đã tăng
lên 36 % với hơn 34 triệu người tham gia. Ước tính năm 2007 sẽ có khoảng 40 triệu người được
hưởng chế độ BHYT chiếm tỷ lệ 47% dân số. Đặc biệt, toàn bộ người nghèo, đồng bào dân tộc ít
người đã được cấp thẻ BHYT từ nguồn ngân sách nhà nước. Có được kết quả này, trước hết là do
Chính phủ đã mở rộng diện tham gia BHYT bắt buộc cho hàng loạt nhóm đối tượng như người
nghèo, đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã, cựu chiến binh, thân nhân sỹ quan
vv… Bên cạnh đó, loại hình tham gia BHYT tự nguyện cũng được mở rộng đến các nhóm đối
tượng tiềm năng khác như nông dân, hội viên các hội đoàn thể quần chúng, người ăn theo của
người lao động…Tính đến hết năm 2006 đã có trên 11 triệu người có thẻ BHYT tự nguyện, gấp
hơn 2 lần so với năm 2002.
Thứ hai, quỹ BHYT có sự tăng trưởng rất nhanh, được quản lý chặt chẽ, tập trung và
thống nhất từ Trung ương đến các địa phương và trở thành nguồn cung cấp tài chính chủ yếu

nhóm đối tượng tham gia BHYT, đồng thời chưa có sự hỗ trợ của nhà nước cho các đối tượng
tham gia BHYT tự nguyện. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng mất
cân đối thu chi nghiêm trọng của quỹ BHYT, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bệnh nhân BHYT
và các cơ sở KCB. Điều chỉnh từng bước mức phí BHYT phù hợp là giải pháp quan trọng tạo cơ
sở mở rộng hơn nữa quyền lợi của bệnh nhân BHYT và phát triển BHYT trong thời gian tới.
Mặt khác, việc quy định lấy mức đóng BHYT bình quân chung theo từng địa phương làm
căn cứ để xác định quỹ khám chữa bệnh tại cơ sở KCB đã tạo nên những khó khăn nhất định về
mặt tài chính cho nhiều cơ sở KCB tuyến trên, nhất là các cơ sở y tế có đông đối tượng là cán bộ,
người về hưu, mất sức lao động đăng ký KCB ban đầu do mức đóng bị kéo tụt xuống khi hòa
trộn với các nhóm đối tượng có mức phí thấp như BHYT người nghèo.
Thứ hai, do không có quy định ràng buộc và phân định trách nhiệm rõ ràng giữa các bên
tham gia, việc lựa chọn phương thức thanh toán giữa cơ sở KCB và cơ quan BHXH còn nhiều
khó khăn. Bên cạnh đó, nội dung của phương thức thanh toán mới (định suất) chưa xác định cơ
chế khuyến khích cơ sở KCB tăng cường tiết kiệm chi phí, chỉ định và cung cấp các DVYT một
cách hợp lý, an toàn và hiệu quả. Trong khi giá viện phí cũ theo Nghị định số 95/CP đã quá lạc
hậu và chưa được sửa đổi thì việc phê duyệt giá của các dịch vụ kỹ thuật được bổ sung tại Thông
tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BYT-BTC-BLĐTB&XH lại chưa được các địa phương thực hiện
theo đúng quy định đã và đang tạo ra một nghịch lý là nhiều địa phương có điều kiện kinh tế xã
hội còn thấp, khả năng cung cấp dịch vụ y tế chưa cao lại có mức giá viện phí cao hơn các tỉnh,
thành phố có điều kiện kinh tế và khả năng đáp ứng nhu cầu KCB cao hơn Vấn đề này đã tạo nên
nhiều khó khăn và sơ hở trong thanh toán chi phí KCB BHYT, ảnh hưởng đến việc đảm bảo
quyền lợi người bệnh có thẻ BHYT.
Thứ ba, Danh mục thuốc được xây dựng quá rộng mở nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu sử dụng thuốc thực sự của người bệnh có thẻ BHYT. Không những thế danh mục thuốc này
đã và đang vô tình trở thành căn cứ pháp lý cho quá trình lạm dụng thuốc BHYT, làm gia tăng
chi phí thuốc và khả năng mất cân đối quỹ BHYT.
Danh mục thuốc hiện tại (danh mục ban hành kèm theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BYT
ngày 24/01/2005 của Bộ Y tế) bao gồm 646 họat chất được Cục Quản lý Dược Việt Nam cho
phép lưu hành tại thị trường Việt Nam. Mặt khác, một số thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải
ghép chưa có trong danh mục này nhưng đã được phép lưu hành tại Việt Nam, kể cả các thuốc

càng gia tăng, trong đó không ít chi phí đã bị lạm dụng từ phía cơ sở KCB và người tham gia
BHYT.
Thực tế sau gần hai năm thực hiện Điều lệ BHYT mới cho thấy rất rõ nét tình trạng mất
cân đối thu chi của quỹ BHYT. Tại nhiều địa phương số chi quỹ BHYT cho nửa thời gian cuối
năm 2005 – thời điểm Nghị định số 63 bắt đầu có hiệu lực thi hành đã gấp đôi tổng chi phí 6
tháng đầu năm khi mà chính sách BHYT vẫn đang được tổ chưc thực hiện theo Điều lệ NHYT
ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ. Năm 2006,
tổng chi phí KCB BHYT đã vượt so với nguồn thu khoảng trên 1.400 tỷ đồng và dự kiến năm
2007 quỹ BHYT phải sử dụng hết số kết dư từ hơn 10 năm trước để lại nhưng vẫn mất cân đối,
thu không đủ chi.
Có thể nêu ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Một là phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng quá mức so với khả
năng chi trả của quỹ BHYT. Một số khoản chi phí đang thuộc trách nhiệm chi trả của các nguồn
tài chính bảo hiểm thương mại khác vẫn được thanh toán từ quỹ BHYT với tổng chi phí rất lớn
như tai nạn giao thông. Thống kê sơ bộ 6 tháng đầu năm 2006 cho thấy chi phí tai nạn giao thông
chiếm gần 10% tổng chi phí KCB BHYT. Bên cạnh đó, có quá nhiều dịch vụ kỹ thuật được bổ
10
sung vào danh mục được quỹ BHYT chi trả với mức giá viện phí cao gần sát với mức tính đúng
tính đủ trong khi mức đóng BHYT không thay đổi và sự gia tăng nguồn thu chỉ phụ thuộc vào
mức tăng tiền lương tối thiểu.
- Hai là có sự lựa chọn ngược trong tổ chức thực hiện lọai hình BHYT tự nguyện với phần
lớn người tham gia loại hình BHYT này là những người ốm đau, bệnh tật, trong đó rất nhiều đối
tượng đã mắc các bệnh mãn tính, có chi phí lớn như suy thận, bệnh máu bẩm sinh mới đi mua thẻ
BHYT. Kết quả là chỉ tính riêng năm 2006, quỹ BHYT tự nguyện đã bội chi khoảng 1000 tỷ
đồng.
- Ba là hiện tượng lạm dụng quỹ từ phía người bệnh và các cơ sở KCB BHYT không còn
là cá biệt với những diễn biến phức tạp và nhiều hình thức khác nhau, góp phần đáng kể làm gia
tăng chi phí KCB BHYT như hiện nay.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
Để chính sách BHYT ngày càng hoàn thiện, nhằm từng bước tiến tới thực hiện BHYT

ốm đau, bệnh tật. Hơn nữa, vì nguồn kinh phí y tế dành cho chăm sóc sức khỏe cho các em còn
11
hạn hẹp nên khả năng thực hiện công tác giáo dục, phòng chống các bệnh học đường và chăm sóc
sức khoẻ ban đầu cho học sinh còn rất hạn chế. Hệ thống y tế trường học chậm phát triển và có
nguy cơ bị thu hẹp do không có nguồn kinh phí hoạt động ổn định. Đây là mối quan tâm không
chỉ của ngành giáo dục-đào tạo, ngành y tế mà còn của tất cả tất cả các bậc cha mẹ học sinh. Vì
vậy, giải pháp hữu hiệu để có thể khắc phục các tồn tại trên là để tất cả học sinh ở các bậc học
phổ thông được hưởng quyền lợi BHYT bắt buộc với sự hỗ trợ đóng góp của NSNN, trong đó có
chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học. Do đó, cần quy định chuyển học sinh ở các bậc
học phổ thông từ đối tượng đã tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện nhiều năm sang đối tượng tham
gia BHYT bắt buộc.
Thứ ba, thân nhân, người ăn theo của người lao động là một nhóm đối tượng rất cơ bản,
cần có BHYT. Nhóm đối tượng này tuy đã được bước đầu tổ chức thực hiện BHYT theo loại
hình BHYT tự nguyện trong năm 2005 nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định. Nhóm này cần
có sự hỗ trợ tích cực từ phía người sử dụng lao động để họ có khả năng tham gia BHYT bắt buộc.
Thứ tư, nhóm những hộ gia đình thuộc diện cận nghèo: Đây là nhóm đối tượng cần được
chăm sóc y tế nhưng chưa được thụ hưởng chính sách BHYT theo diện nghèo. Trong thực tế,
những đối tượng này sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn khi không may bị mắc phải ốm đau, bệnh
tật. Hỗ trợ mua thẻ BHYT bắt buộc cho nhóm đối tượng này là một giải pháp tích cực đảm bảo
sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho họ.
2. Về mức đóng BHYT:
Với dự kiến điều chỉnh tăng quyền lợi cho người tham gia BHYT theo hướng toàn diện sẽ
làm cho chi phí KCB mà quỹ BHYT phải thanh toán tăng lên tương ứng. Mức đóng BHYT hiện
nay bằng 3% mức tiền lương, tiền công hoặc mức tiền lương tối thiểu thấp hơn nhiều so với nhu
cầu chi trả các chi phí khám chữa bệnh, nhất là trong thời gian tới giá viện phí sẽ tiếp tục điều
chỉnh tăng, giá thuốc, vật tư y tế có nhiều biến động làm cho quỹ BHYT sẽ không đủ khả năng
thanh toán. Hơn nữa, so với các nước khác trong khu vực, thu nhập đầu người của chúng ta còn
thấp hơn, tỉ lệ đóng BHYT cũng thấp hơn. Vì vậy, cần xây dựng mức đóng góp trên cơ sở tính
toán khả năng cân đối quỹ, có tính ổn định trong vòng từ 5 đến 7 năm. Bên cạnh đó cũng cần có
quy định về mức trần tối đa để đóng BHYT bằng mức lương cao nhất trong hệ thống thang

4. Về việc quản lý, cung ứng, sử dụng và giá thuốc BHYT:
Cần khẩn trương thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, xây dựng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành thành 2 phần cụ thể:
- Danh mục thuốc thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản bao gồm tất cả các lọai thuốc có trong
danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam. Thuốc có trong danh mục này được cơ sở KCB và cơ
quan BHXH phối hợp chặt chẽ để đảm bảo cunng ứng đầy đủ cơ số thuốc phục vụ nhu cầu điều
trị cho người bệnh BHYT không được để người bệnh phải tự mua với bất kỳ lý do gì khi đã thực
hiện đúng, đủ các quy định của Bộ Y tế về việc sử dụng và chi trả tiền thuốc BHYT.
- Danh mục thuốc cùng chi trả giữa cơ quan BHXH và người bệnh có thẻ BHYT bao gồm
tất cả các lọai thuốc được lưu hành hợp pháp trên thị trường Dược phẩm Việt Nam. Căn cứ theo
nhu cầu điều trị và khả năng cân đối quỹ BHYT theo từng thời kỳ, cơ quan BHXH quy định tỷ lệ
% chi trả đối với từng lọai thuốc cụ thể. Danh mục này được sử dụng không phụ thuộc vào tuyến
chuyên môn kỹ thuật tại mỗi cơ sở KCB theo quy định của Bộ Y tế.
Thứ hai, hoàn thiện nguyên tắc chi trả tiền thuốc BHYT:
- Đối với danh mục thuốc thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản:
Về cơ bản cơ quan BHXH chi trả 100% chi phí tiền thuốc có trong danh mục này với cơ
sở KCB hoặc trực tiếp cho người bệnh có thẻ BHYT. Đối với các loại thuốc đã có thuốc mang
tên gốc trên thị trường, cơ sở KCB phải chỉ định và sử dụng loại thuốc mang tên gốc cho người
bệnh. Nếu người bệnh yêu cầu được sử dụng thuốc cùng lọai theo tên biệt dược, cơ quan BHXH
13
thanh toán theo giá thuốc mang tên gốc, phần chênh lệch người bệnh tự trả cho cơ sở KCB như
đối với các trường hợp tự chọn thuốc điều trị trong quá trình KCB theo chế độ BHYT.
Thuốc sử dụng theo danh mục thuốc thiết yếu phải thực hiện theo các quy định về phân
tuyến chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế. Nếu cơ sở KCB chỉ định thuốc vượt tuyến chuyên môn
kỹ thuật, chi phí của các lọai thuốc này sẽ không thuộc phạm vi chi trả của quỹ BHYT (trừ các
trường hợp cấp cứu hoặc có hội chẩn liên khoa đối với một số ca bệnh nặng mà cơ sở KCB có đủ
năng lực chuyên môn để phục vụ việc chẩn đoán và điều trị kịp thời cho người bệnh BHYT).
- Đối với danh mục thuốc cùng chi trả: Cơ sở KCB căn cứ vào mô hình bệnh tật, khả năng
kinh phí và năng lực cung ứng thuốc của thị trường để xây dựng một danh mục thuốc cụ thể theo
tên thành phẩm và thống nhất với cơ quan BHXH tỷ lệ % chi phí được quỹ BHYT thanh toán.

Phương án 1: Thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, theo dự kiến từ năm 2010 dến 2015 sẽ
có khoảng 70 - 85 triệu người tham gia BHYT. Trong điều kiện mức lương tối thiểu năm 2007 là
450.000 đồng, từ năm 2008 tăng lên 540.000 đồng và nếu vẫn giữ nguyên phạm vi quyền lợi
KCB BHYT, giá viện phí và phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT như hiện nay thì mức
đóng BHYT đối với lọai hình tham gia BHYT bắt buộc cần phải được tăng lên bằng 5% tiền
lương, tiền công mới đảm bảo cân đối thu chi quỹ BHYT.Trong khi đó, theo tính toán của BHXH
Việt Nam thì dù mức đóng góp của lọai hình BHYT tự nguyện có được tăng lên bằng 5% lương
tối thiểu thì quỹ BHYT tự nguyện vẫn bị bội chi.
Phương án 2: Về cơ bản, chính sách BHYT vẫn thực hiện theo như phương án 1 nhưng từ
năm 2008 sẽ thực hiện cùng chi trả 20% chi phí KCB cho các đối tượng tham gia BHYT, trừ đối
tượng ưu đãI xã hội và trẻ em dưới 6 tuổi. Với giả thiết mức lương tối thiểu năm 2008 là 540.000
đồng, từ năm 2009-2010 tăng 20%, từ năm 2011-2015 tăng lên tiếp 105 thì quỹ BHYT vẫn cân
15
đối được đến năm 2010 với mức đóng BHYT bằng 3% tiền lương, tiền công. Từ năm 2011-2015,
mức phí BHYT sẽ phảI bằng 4% tiền lương tiền công mới đảm bảo khả năng cân đối của quỹ
BHYT.
Phương án 3: Giả thiết rằng từ năm 2008, giá viện phí sẽ được xây dựng lại theo hướng
tính đúng, tính đủ chi phí cần thiết
Phụ lục 1: Số người tham gia và diện bao phủ BHYT ở Việt Nam từ 1993-2007
Năm
Số người tham gia BHYT
Diện bao phủ
Tổng số
(triệu người)
BHYT bắt buộc
(triệu người)
BHYT tự nguyện
(triệu người)
1993 3,79 3,47 0,32 5,4
1994 4,26 3,72 0,54 5,9

1999 767 67 27,0
2000 970 874,1 95,9 26,8
2001 1.152 1.075 77 26,2
2002 1.270 1.172,9 97,1 28,1
2003 2080 1896,7 183,3 40,4
2004 2261 2058,1 202,9 36,0
2005
2006
2007
Phụ lục 3: Số lượt khám chữa BệNH và số chi KCB từ 1993-2007
Năm Số lượt khám chữa bệnh (nghìn lượt) Số chi BHYT (tỷ đồng)
1993 2.000 75
1994 5.8000 189,9
1995 6000 310,4
17
1996 11.000 489
1997 14.000 522
1998 15.284 567,
1999 14.142 552
2000 15.075 842,
2001 17.576 812,
2002 19.596 938,
2003 20.000 1.670
2004 31.316 1763
2005 35.000 2.775
2006
2007
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status