quy định pháp luật về bảo hiểm y tế - Pdf 94

Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHYT 3
1.1 Khái niệm BHYT 3
1.2 Ý nghĩa va vai trò của BHYT 3
Chương II: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ BHYT 6
2.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của BHYT Việt Nam 6
2.2 Quy định mới về BHYT 7
2.2.1 Mức phí mới khi đóng BHYT 7
2.2.2 Mức hưởng BHYT theo quy định mới 9
Chương III : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN BHYT (2008-2012)
3.1 Việc ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm y tế .
10
3.2 Về việc mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế 11
3.3 Về cơ chế tài chính để mở rộng diện bao phủ và thực hiện chinh sách Bảo
hiểm y tế 12
3.4 Về việc quản lý, sử dụng quỹ và cấp, đổi thẻ Bảo hiểm y tế 14
3.5 Về cung ứng dịch vụ y tế cho người tham gia Bảo hiểm y tế 18
3.6 Về công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế 21
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 1
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hằng
ngày dù luôn chú ý ngăn ngừa và để ý phòng ngừa nhưng con người vẫn có
nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Có người có thể vượt qua nhưng
có những người không thể vượt qua khỏi, chính vì vậy bảo hiểm ra đời. Do nhu
cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu
đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Ngày nay, sự giao lưu kinh
tế, văn hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng

dân. Với những đặc thù của mình, BHYT đã bảo đảm cho mọi người, nhất là
những đối tượng “yếu thế” trong xã hội, ai cũng được tiếp cận các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cơ bản, có chất lượng tốt; bảo vệ nhân dân khỏi gánh nặng
quá sức về tài chính do chi phí của các dịch vụ y tế mà họ cần sử dụng gây nên.
Khi tham gia BHYT, những người có điều kiện kinh tế khó khăn, hay họ mắc
bệnh hiểm nghèo thì họ sẽ được BHYT gánh khó khăn về chi phí KCB. Đồng
thời, BHYT cũng đảm bảo cho những người bệnh có cùng nhu cầu được tiếp
cận như nhau đến các dịch vụ y tế hiện có; người bệnh có nhu cầu nhiều hơn
được chăm sóc được chăm sóc nhiều hơn. Trong cuộc sống, con người có điều
kiện chăm sóc sức cho chính mình và cho người than của mình. Có thể nói khi
có BHYT thì mỗi con người có điều kiện chăm sóc sức khỏe trung bình trong
xã hội bất kể là họ giàu nghèo hay ở bất kì địa vị nào. BHYT cùng với sự phát
triển của con người cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp.
Từ khi ra đời, BHYT huy động được và sử dụng nhiều nguồn lực để chia
sẽ rủi ro; góp phần đắc lực giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong; nâng cao sức
khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi và góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Trang 3
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Hai là, BHYT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và thúc đẩy tiến
bộ xã hội.
Ngoài tính xã hội của mình BHYT còn thể hiện tính kinh tế của mình.
BHYT góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã
hội. Một xã hội dù phát triển đến đâu thì cũng chỉ được coi là một xã hội tiến
bộ khi có mạng lưới y tế tốt và mọi người dân khỏe mạnh. Sức khỏe là tài sản
quý nhất của mỗi người. Khi bị ốm đau hay mắc bệnh, con người không chỉ bị
suy giảm về sức khỏe, giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng đến tinh thần
của họ và những người thân. Tham gia BHYT, người lao động và thành viên
gia đình họ, ai cũng đượi chăm sóc sức khỏe, giảm ốm đau, khỏi bệnh tật. Khi
có BHYT, người tham gia được chăm sóc sức khỏe. Với thể chất và tinh thần

ổn định cho các sở y tế.
Chương II:
NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
2.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của BHYT Việt Nam
Tại phiên họp ngày 15/4/1992, kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII đã
thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, BHYT
được quy định tại điều 39 của Hiến pháp: “Thực hiện BHYT tạo điều kiện để
mọi người dân được chăm sóc sức khỏe”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho
việc triển khai thực hiện chính sách BHYT sau này.
Trang 5
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Ngày 18/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số
299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở nước ta.
Với mục đích huy động nguồn lực của các cá nhân trong các đơn vị trên địa
bàn cả nước thực hiện định hướng chiến lược công tác bảo vệ sức khỏe nhân
dân với mục tiêu từng bước xã hội hóa sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
cho nhân dân, đảm bảo sự công bằng trong công tác chăm sóc sức khỏe của
mọi người dân, phù hợp với khả năng kinh tế xã hội.
Trong 5 năm đầu 1992 – 1997, BHYT Việt Nam đã quán triệt thực hiện
nghiêm túc chính sách, chế độ BHYT, điều lệ BHYT khắc phục khó khăn cố
gắng dành được những kết quả ban đầu với hơn 20% dân số cả nước tham gia
BHYT.
Ngày 13/8/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 58/CP thay cho Nghị
định 299/HĐBT nhằm sửa đổi bổ sung một số điều trong điều lệ cũ cho phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội. Nhờ đó mà BHYT Việt Nam đã
khắc phục được những khó khăn, ổn định công tác thu BHYT, quyền lợi của
người tham gia BHYT được đảm bảo.
Đặc biệt, Luật BHYT có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 đã hướng đến mục
tiêu BHYT toàn dân vào năm 2014, làm tăng nhanh đối tượng tham gia BHYT,
nâng cao quyền lợi cho người tham gia BHYT.

dụng cho xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng cho người thuộc hộ gia đình
cận nghèo từ ngày 1/7/2009. Hỗ trợ tối thiểu bằng 50% mức đóng đối với học
sinh, sinh viên mà thuộc hộ cận nghèo và hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng đối với
học sinh, sinh viên mà không thuộc hộ cận nghèo, chính sách này được thực
hiện từ ngày 1/1/2010.
Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và
diêm nghiệp có mức sống trung bình được nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 30%
mức đóng BHYT từ ngày 1/1/2012.
Trang 7
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Người thuộc hộ gia đình cận nghèo và người thuộc hộ gia đình làm nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có từ 2 thân nhân trở lên tham
gia BHYT thì người thứ nhất đóng bằng mức quy định; người thứ 2,3,4 đóng
lần lượt bằng 90%, 80%, 70% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ 5 trở
đi đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất.
Nghị định quy định rõ, từ ngày 1/7/2009, học sinh, sinh viên đóng
60.000đồng/người (khu vực thành thị) và 50.000 đồng/người (khu vực nông
thôn, miền núi).
Mức đóng 6 tháng đối với 5 đối tượng: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất
sức lao động hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng
do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người thuộc hộ gia đình làm nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; thân nhân của người lao động
hưởng lương mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và sống trong cùng
hộ gia đình; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể là 160.000 đồng/tháng
(khu vực thành thị) và 120.000 đồng/tháng (khu vực nông thôn, miền núi).
Từ ngày 1/1/2010, mức đóng góp hằng tháng đối với đối tượng tự nguyện tham
gia BHYT bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối tượng đóng.
2.2.2 Mức hưởng BHYT theo quy định mới
Đối với người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh theo quy định thì

sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012”. Đoàn giám sát của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo của Chính phủ và một số bộ, ngành
liên quan; tổ chức giám sát tại 09 tỉnh/thành phố. Kết quả cụ thể là:
3.1 Về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật bảo
hiểm y tế
Đến nay, Chính phủ, Bộ Y tế và bộ ngành liên quan đã hướng dẫn thi
hành 15 điều tại 2 nghị định của Chính phủ, 2 quyết định của Thủ tướng Chính
phủ, 14 thông tư. Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã ban hành 06 quyết
định và khoảng 150 văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ; Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) đã ban hành các văn bản
hướng dẫn để tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương. Về cơ bản, nội dung
các văn bản này phù hợp với pháp luật, được triển khai tương đối kịp thời, đáp
ứng yêu cầu của cuộc sống.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa ban hành Hướng dẫn về khám bệnh để sàng
lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh được quỹ Bảo hiểm y tế chi trả; chưa hướng
dẫn danh mục một số bệnh cần chữa trị dài ngày và sửa đổi quy định về xác
định dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn được Bảo hiểm y tế chi trả; chưa xác định
tiêu chí hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình
làm cơ sở để Nhà nước hỗ trợ mua Bảo hiểm y tế; còn vướng mắc trong các vấn
đề thanh toán đối với người bị tai nạn giao thông, hợp đồng khám chữa bệnh
Trang 10
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Bảo hiểm y tế, phân hạng bệnh viện tư nhân, phân công trách nhiệm trong tuyên
truyền, phổ biến chính sách pháp luật về Bảo hiểm y tế.
3.2 Về việc mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế
Sau 4 năm thực hiện (2009-2012), tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế
tăng từ 58,2% (2009) lên 66,8% (2012) (tăng thêm 8,6% dân số tham gia Bảo
hiểm y tế, tương đương 9,24 triệu người, bình quân tăng 2,8%/năm). Có 21 tỉnh
có tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế tăng trên 15%. Nhiều tỉnh cơ bản đã đạt
Bảo hiểm y tế toàn dân do mở rộng số đối tượng được ngân sách cấp mua Bảo

ngành giáo dục và nhà trường đối với vấn đề cấp thẻ Bảo hiểm y tế; chưa gắn
việc triển khai chính sách Bảo hiểm y tế với hộ gia đình nên còn phổ biến tình
trạng chỉ khi ốm nặng hay phát hiện mắc bệnh nan y, mãn tính mới mua Bảo
hiểm y tế tự nguyện để đi khám chữa bệnh; quy định trẻ em dưới 6 tuổi có thể
dùng giấy khai sinh đi khám chữa bệnh làm chậm quá trình cấp thẻ Bảo hiểm y
tế, gây khó khăn trong việc thanh toán, quản lý đối tượng này.
3. 3 Về cơ chế tài chính để mở rộng diện bao phủ và thực hiện chính sách Bảo
hiểm y tế
Từ năm 2009-2012, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho khoảng 70% số đối
tượng tham gia Bảo hiểm y tế, chủ yếu hỗ trợ cho người có công, người nghèo,
cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên,
đối tượng bảo trợ xã hội. Số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ tăng nhanh từ 4.537
tỷ đồng (2009) lên 10.372 tỷ đồng (2010) và 16.937 tỷ đồng (2012), với tỷ lệ
tương ứng so với tổng số thu Bảo hiểm y tế các năm là 35%, 42% và 43%.
Về cơ bản, các tỉnh đã bố trí kịp thời ngân sách để mua Bảo hiểm y tế
cho các đối tượng được Nhà nước hỗ trợ. Phần ngân sách hỗ trợ cho các đối
tượng tham gia Bảo hiểm y tế so với tổng số chi thường xuyên cho ý tế hàng
năm đã tăng từ 27% (2009) lên 33% (2012). Năm 2012, ngân sách nhà nước chi
thường xuyên cho các bệnh viện trong cả nước là 17.821 tỷ đồng chiếm 27,8%
tổng chi cho y tế. Việc thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế
được tiến hành đồng thời với việc chuyển dần cấp ngân sách chi thường xuyên
Trang 12
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
cho bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân mua Bảo hiểm y tế và là lộ
trình Bảo hiểm y tế toàn dân, huy động sự đóng góp của xã hội và người dân
tham gia Bảo hiểm y tế.
Chủ sử dụng lao động và người lao động, nhóm cán bộ, công chức làm việc
trong khu vực công và đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện đóng trên
52.540 tỷ đồng chiếm 49% tổng số thu Bảo hiểm y tế, số tiền này đã tăng từ
7.170 tỷ (2009) lên 18.072 tỷ đồng (2012), nhưng tỷ lệ này có xu hướng giảm

Bộ Y tế đã cập nhật danh mục thuốc, kỹ thuật y tế mới làm cơ sở cho Bảo
hiểm xã hội thanh toán cho các bệnh viện. Nhiều bệnh viện được thanh toán
đúng thời hạn, có nơi rút ngắn thời gian thanh toán hơn so với quy định. Bên
cạnh đó, còn một số vướng mắc về cách tính vượt quỹ khám chữa bệnh ở bệnh
viện, định mức thanh toán giữa bệnh viện và cơ quan Bảo hiểm xã hội, sự khác
nhau về mức trần tuyến 2 giữa các bệnh viện cùng hạng.
Về công tác giám định Bảo hiểm y tế, toàn ngành Bảo hiểm xã hội hiện
có khoảng 2.300 cán bộ làm công tác giám định, trong đó khoảng 32% có trình
độ đại học y, dược, 22% trung cấp y, dược. Việc giám định Bảo hiểm y tế được
triển khai trực tiếp tại các bệnh viện Trung ương, hầu hết Bảo hiểm xã hội các
tình phân cấp giám định cho Bảo hiểm xã hội huyện. Hiện nay, Bảo hiểm xã hội
mới thực hiện giám định Bảo hiểm y tế cho khoảng 20% tổng số bệnh án khám
bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế, 80% bệnh án chưa giám định vẫn được thanh
toán theo quyết toán của bệnh viện.
Kết quả giám định Bảo hiểm y tế cho thấy có tình trạng lạm dụng Bảo
hiểm y tế cả về phía cán bộ y tế cũng như người có thẻ Bảo hiểm y tế. Những vi
phạm phổ biến đó là lạm dụng xét nghiệm, thuốc, hóa chất, vật tư y tế, kê đơn
thuốc ngoài danh mục cho phép, kê khống tiền thuốc, bệnh nhân nằm ghép
nhưng vẫn thanh toán mỗi người/01 giường bệnh, lập hồ sơ bệnh án khống, sử
dụng chung xét nghiệm ở một số bệnh viện để thanh toán với quỹ Bảo hiểm y
tế; có nơi, cán bộ y tế ở bệnh viện sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế của người thân để
làm thủ tục lấy thuốc ở bệnh viện; người có thẻ Bảo hiểm y tế lạm dụng thông
Trang 14
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
qua việc cho mượn thẻ, đi khám nhiều nơi trong ngày (nhất là các bệnh mãn
tính), cho thuê thẻ Bảo hiểm y tế và thuê người bị bệnh mãn tính đi khám chữa
bệnh để lấy thuốc.
Về sử dụng quỹ Bảo hiểm y tế: Số tiền thu Bảo hiểm y tế tăng nhanh qua
các năm, từ 13.037 tỷ đồng (2009), 25.581 tỷ đồng (2010) đã lên đến 40.237 tỷ
đồng (2012). Số chi Bảo hiểm y tế cũng tăng qua các năm, từ 15.481 tỷ đồng

đoạn 2012-2015. Tuy nhiên, số phần mềm đã có chỉ đáp ứng cho việc xử lý
nghiệp vụ độc lập tại các đơn vị Bảo hiểm xã hội cấp huyện, một phần ở cấp
tỉnh và giám định viên ở các cơ sở khám chữa bệnh. Hiện tại, dữ liệu nghiệp vụ
còn phân tán, chia cắt, ít có sự liên thông với nhau và chưa được tập trung tại
cấp tỉnh. Tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa hình thành được hệ thống
quản lý, lưu trữ cơ sở dữ liệu quốc gia.
Việc quản lý, cấp, đổi thẻ Bảo hiểm y tế thời gian đầu, phát sinh một số
vướng mắc, sai sót về thông tin trên thẻ, mức hưởng, đến nay đã được khắc
phục và dần đi vào ổn định. Các tổ chức chịu trách nhiệm quản lý các nhóm đối
tượng đã có cố gắng trong việc lập danh sách để cấp thẻ kịp thời cho các đối
tượng tham gia. Tuy nhiên, các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên, vùng đồng bào dân tộc thiểu số các sai sót trên vẫn còn xảy ra khá phổ
biến.
Để người dân tiếp cận và tham gia Bảo hiểm y tế thuận lợi, ngành Bảo
hiểm xã hội đã xây dựng mạng lưới đại lý Bảo hiểm y tế tại các xã và các
trường học. Đến nay, toàn quốc có gần 11.400 đại lý thu Bảo hiểm y tế tại 76%
tổng số các xã trong cả nước để bán Bảo hiểm y tế cho nhóm tự nguyện, hộ cận
nghèo và gần 22.700 đại lý Bảo hiểm y tế tại các trường học.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, còn một số vấn đề còn tồn tại: Số kết
dư lớn quỹ Bảo hiểm y tế là vấn đề đáng quan tâm, bởi đây là loại quỹ ngắn
hạn, chỉ giới hạn đóng và sử dụng trong năm. Chưa có phương thức thanh toán
hợp lý, khoa học giữa các bệnh viện với cơ quan Bảo hiểm xã hội về chi phí
Trang 16
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
khám chữa bệnh; số hồ sơ bệnh án giám định còn thấp nên chưa bảo đảm việc
thanh toán chính xác, chưa thể phát hiện đầy đủ việc lạm dụng Bảo hiểm y tế ở
các bệnh viện; một số bệnh viện gặp khó khăn trong việc chi trả một số dịch vụ
y tế mới cho bệnh nhân Bảo hiểm y tế. Đại lý Bảo hiểm y tế ở xã hoạt động
mang tính hành chính, chưa thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân
dân tham gia Bảo hiểm y tế, một số đại lý chỉ bán Bảo hiểm y tế tự nguyện cho

khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Hầu hết những bệnh nặng, mạn tính… cần điều
trị dài ngày, chi phí lớn đều đưa về các bệnh viện Nhà nước.
Từ năm 2009-2012, số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế tăng mạnh, cụ
thể: năm 2009, tổng số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế là trên 92 triệu; năm
2010, tổng số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế là gần 102 triệu; năm 2011,
tổng số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế là trên 114 triệu; năm 2012, tổng số
lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế là trên 121 triệu.
Người tham gia Bảo hiểm y tế ngày càng có nhiều cơ hội hơn trong việc
tiếp cận dịch vụ y tế. Năm 2009, bình quân khám chữa bệnh là 1,84
lượt/thẻ/năm đến năm 2012 đã tăng lên 2,04 lượt/thẻ/năm, trong đó khám chữa
bệnh ngoại trú tăng từ 1,7 lên 1,87 lượt/thẻ/năm. Việc tăng mức chi trả từ quỹ
Bảo hiểm y tế và danh mục quyền lợi tiếp tục mở rộng cho thấy vai trò ngày
càng quan trọng của Bảo hiểm y tế trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.
Việc đấu thầu thuốc được thực hiện theo 3 hình thức đó là đấu thầu tập
trung, đấu thầu theo đơn vị và đấu thầu đại diện. Năm 2012, đã có 46/63 tỉnh áp
dụng đấu thầu tập trung theo tỉnh, 7 tỉnh áp dụng hình thức đấu thầu đại diện, 10
tỉnh đấu thầu theo từng đơn vị, các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, bộ, ngành
khác tự tổ chức đấu thầu. Về cơ bản, đã bảo đảm có đủ thuốc thuộc danh mục
thuốc do Bộ Y tế ban hành, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, tỷ trọng chi cho
thuốc chiếm khoảng 60% tổng chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế.
Từ năm 2012, giá dịch vụ y tế được sửa đổi đối với 447 dịch vụ và điều
chỉnh 3/7 yếu tố. Đến nay, đã có 62/63 tỉnh triển khai thực hiện với mức giá
dịch vụ y tế chiếm khoảng 60-85% so với mức giá tối đa, nhiều tỉnh miền núi áp
Trang 18
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
giá gần với mức tối đa. Việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế là bước đi quan trọng
trong lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, xác định rõ phần Nhà nước hỗ
trợ, phần người dân đóng góp trong Bảo hiểm y tế.
Tuy nhiên, chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế khác nhau do giá dịch
vụ y tế còn khác nhau giữa các địa phương; việc chăm sóc sức khỏe cho người

để người dân đến tuyến bệnh viện cao hơn. Việc cung ứng dịch vụ y tế có chất
lượng là yếu tố quyết định sự thành công của chính sách Bảo hiểm y tế, tuy
nhiên chưa quy định về gói dịch vụ Bảo hiểm y tế cơ bản nên quá trình thực
thiện đã phát sinh những vướng mắc, áp dụng quyền lợi cho người bệnh còn
khác nhau. Do tổ chức đấu thầu thuốc theo từng bệnh viện hoặc theo tỉnh, chưa
tổ chức đấu thầu thuốc quốc gia đối với một số thuốc, vật tư y tế thường dùng,
có chi phí cao nên giá thuốc khác nhau giữa các bệnh viện và giữa các tỉnh.
3.6 Về công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế
Trong những năm qua, Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và UBND
cấp tỉnh đã phối hợp với ngành tuyên giáo, các bộ, ngành và các tổ chức triển
khai tuyên truyền vận động chính sách pháp luật Bảo hiểm y tế bằng nhiều hình
thức góp phần nâng cao nhận thức của xã hội và người dân về Bảo hiểm y tế; tổ
chức tập huấn cho cán bộ y tế và cán bộ Bảo hiểm xã hội.
Qua gần 4.500 lượt kiểm tra tại các cơ sở khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế
đã phát hiện nhiều sai phạm, đặc biệt là việc lạm dụng thuốc, lạm dụng xét
nghiệm và đã yêu cầu xuất toán 149 tỷ đồng, một số trường hợp vi phạm pháp
luật đã bị xem xét xử lý hình sự. Tại một số địa phương, công tác thanh tra,
kiểm tra Bảo hiểm y tế trên địa bàn cũng được quan tâm và đã xử lý những
trường hợp vi phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, những trường hợp vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Bảo hiểm y tế chưa được xử lý theo quy định của pháp
luật, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong thanh tra, kiểm tra; cơ
chế tự quản, tự giám sát của các bệnh viện cũng như công tác thanh tra của
chính quyền địa phương còn hạn chế.
Trang 20
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền về Bảo hiểm y tế còn hình thức, chưa
thực hiện thường xuyên, liên tục; chưa có mạng lưới cộng tác viên sâu rộng đến
các cộng đồng dân cư; chưa xác định nhóm đối tượng cần tập trung trong tuyên
truyền, vận động. Công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước
và Bảo hiểm xã hội còn hạn chế, kết quả mờ nhạt, chưa chủ động phát hiện các

51 của Luật bảo hiểm y tế.
Hai là, chất lượng khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế ở tuyến dưới chưa đáp
ứng yêu cầu do hạn chế về nhân lực chuyên môn và kỹ thuật y tế đã gây nên
tình trạng quá tải, chờ đợi lâu ở các bệnh viện tuyến trên; tinh thần thái độ và y
đức của cán bộ y tế chậm được cải thiện đã tạo tâm lý lo ngại đối với người
tham gia Bảo hiểm y tế và xã hội.
Ba là, các hình thức lạm dũng quỹ Bảo hiểm y tế, nhất là tại các bệnh
viện ngày càng tinh vi, khó kiểm soát và phát hiện, song chưa có công cụ và
biện pháp hiệu quả để kiểm soát; vẫn còn tồn tại tình trạng chênh lệch giá thuốc
cùng loại giữa các bệnh viện trong tỉnh, giữa các tỉnh, giữa bệnh viện với thị
trường; tình trạng không công bằng về chi trả quỹ Bảo hiểm y tế cho mỗi ca
bệnh ở các bệnh viện cùng hạng; tình trạng chênh lệch về tần suất khám chữa
bệnh giữa các địa phương.
Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra, công tác quản lý còn hạn chế; chậm
áp dụng công nghệ thông tin để cải tiến thủ tục khám chữa bệnh, thanh toán Bảo
hiểm y tế; tình trạng sai thông tin trên thẻ, cấp chậm, trùng thẻ Bảo hiểm y tế ở
nhiều tỉnh với số lượng khá lớn gây khó khăn cho người có thẻ cũng như lãng
phí ngân sách.
Để vượt qua những thách thức nêu trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã
đưa ra một số đề xuất, kiến nghị: Tiếp tục tăng ngân sách để thực hiện các chính
sách an sinh xã hội trong đó có chăm sóc sức khỏe, xây dựng nền y tế công
bằng, hiệu quả và phát triển; phân bổ nguồn ngân sách theo hướng chuyển từ
chi ngân sách cho bệnh viện sang cấp ngân sách hỗ trợ nhân dân tham gia Bảo
hiểm y tế cùng với lộ trình tính đúng, đủ giá dịch vụ y tế nhằm tăng tỷ lệ tham
Trang 22
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
gia Bảo hiểm y tế và quyền lợi Bảo hiểm y tế cho người dân; quy định về đấu
thầu thuốc Bảo hiểm y tế trong dự án Luật đấu thầu (sửa đổi); xây dựng cơ chế
để khuyến khích tham gia Bảo hiểm y tế theo hộ gia đình; quy định cụ thể trách
nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương đối với việc thực hiện chính

xã) phù hợp với thực tế.Chính phủ tập trung chỉ đạo các tỉnh, thành phố triển
khai các giải pháp hữu hiệu để mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, đặc
biệt quan tâm các địa phương có tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế còn thấp và các
nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế thấp; chỉ đạo xử lý phần quỹ kết
dư theo quy định của pháp luật để đảm bảo hợp lý quyền lợi của các địa phương
Trang 24
Lý thuyết Tài chính công Nhóm 8
có kết dư quỹ bảo hiểm y tế kết quả đạt được trong thực hiện chính sách pháp
luật về bảo hiểm y tế trong thời gian qua là đáng ghi nhận.Tuy nhiên, vẫn còn
những tồn tại vướng mắc liên quan đến các thủ tục về bảo hiểm y tế; chính sách
khuyến khích đối với đại lý bảo hiểm địa phương chưa được quan tâm; bệnh
nhân đến khám tuy có nhiều thuận lợi hơn nhưng danh mục thuốc còn hạn chế.
Người dân lo ngại về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ y tế tuyến dưới nên
tập trung khám chữa bệnh lên tuyến trên khiến nhiều bệnh viện rơi vào tình
trạng quá tải Cần hoàn thiện hệ thống thông tin, lập quản lý danh sách về việc
cấp thẻ bảo hiểm y tế; thực hiện công tác kiểm tra đối chiếu tránh cấp trùng thẻ;
có giải pháp tạo điều kiện cho các cơ sở y tế tư nhân ký hợp đồng khám chữa
bệnh bảo hiểm y tế.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status