Cơ sở lý luận về thị trường và hoạt động mở rộng thị trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Pdf 24

Cơ sở lý luận về thị trường và hoạt động
mở rộng thị trường trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biên tập bởi:
Nguyễn Văn Anh
Cơ sở lý luận về thị trường và hoạt động
mở rộng thị trường trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biên tập bởi:
Nguyễn Văn Anh
Các tác giả:
Nguyễn Văn Anh
Phiên bản trực tuyến:
/>MỤC LỤC
1. Khái niệm về thị trường
2. Quy luật của thị trường
3. Vai trò của thị trường
4. Chức năng của thị trường
5. Phân loại thị trường
6. Khái niệm mở rộng thị trường
7. Vai trò của hoạt động mở rộng thị trường
8. Các khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp
9. Những yêu cầu của hoạt động mở rộng thị trường
10. Nội dung của hoạt động mở rộng thị trường
11. Xây dựng chiến lược mở rộng thị trường
12. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động mở rộng thị trường của doanh nghiệp
13. Nhóm các nhân tố khách quan
Tham gia đóng góp
1/42
Khái niệm về thị trường
Khái niệm về thị trường

2/42
hoặc đơn giản hơn “ thị trường là tổng hợp các số cộng của người mua về một sản phẩm
hàng hoá hay dịch vụ ”.
Hiểu một cách tổng quát, thị trường là nơi mà người mua và người bán tự tìm đến với
nhau qua trao đổi, thăm dò, tiếp xúc để nhận lời giải đáp mà mỗi bên cần biết
Còn hiểu theo góc độ Marketing, thuật ngữ thị trường được dùng để ám chỉ một nhóm
khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định. Bởi mặc dù tham gia thị trường phải
có cả người bán và người mua nhưng những người làm Marketing lại coi người bán hợp
thành ngành sản xuất cung ứng, còn người mua mới hợp thành thị trường.
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong
muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong
muốn đó.
Như vậy, theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc số người có nhu cầu và
mong muốn vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua hàng hoá
thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người
đã mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác
nhau.
Tuy nhiên, dù hiểu thị trường theo cách nào thì mục tiêu lựa chọn duy nhất của doanh
nghiệp vẫn là lợi nhuận các doanh nghiệp đều thông qua thị trường mà tìm cách giải
quyết các vấn đề :
Phải phân loại hàng gì? Cho ai?
• Số lượng bao nhiêu ?
• Mẫu mã , kiểu cách , chất lượng như thế nào?
Và cũng qua đó người tiêu dùng biết được :
• Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình ?
• Nhu cầu được thoả mãn đến mức nào ?
• Khả năng thanh toán ra sao?
Tất cả những câu trả lời trên chỉ có thể trả lời chính xác trên thị trường. Sự nhận thức
phiến diện về thị trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủ quan duy ý
chí trong quản lý và chỉ đạo kinh tế đều đồng nghĩa với việc đi ngược lại các hệ thống

thì có bao nhiêu sản phẩm sẽ được người tiêu dùng chấp nhận mua.
4/42
Quy luật cạnh tranh :
Các chủ thể tham gia cạnh tranh phải dùng mọi biện pháp để độc chiếm hoặc chiếm hữu
ưu thế thị trường về sản phẩm cạnh tranh, nhờ đó thu lợi nhuận kinh tế cao nhất trong
phạm vi cho phép.
Các phương pháp cơ bản để cạnh tranh là:
• Thu nhỏ chi phí lao động cá biệt của doanh nghiệp dưới mức chi phí lao động
xã hội trung bình.
• Sử dụng tích cực các yếu tố về thị hiếu, tâm lý khách hàng để sớm đưa ra các
sản phẩm mà người tiêu dùng chấp nhận.
• Sử dụng sức ép phi kinh tế để độc chiếm hoặc chiếm ưu thế trên thị trường.
Quy luật lưu thông tiền tệ :
Quy luật này chỉ ra rằng số lượng (hay khối lượng ) tiền lưu thông phải phù hợp với tổng
giá trị hàng hoá lưu thông trên thị trường. Số lượng tiền cho lưu thông được tính bằng
thương giữa tổng giá trị hàng hoá lưu thông với tốc độ vòng quay của tiền.
Tiền tệ là phương tiện của trao đổi ( lưu thông), là thứ dầu mỡ bôi trơn cho quá trình
trao đổi. Nếu vi phạm quy luật này sẽ dẫn tới ách tắc trong lưu thông hoặc lạm phát, gây
khó khăn, dẫn đến mất ổn định nền kinh tế.
Ngoài ra thị trường còn có các quy luật khác như quy luật kinh tế, quy luật giá trị thặng
dư…
5/42
Vai trò của thị trường
Vai trò của thị trường
Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá là sản xuất ra hàng
hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác. Vì thế các doanh nghiệp không
thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị
trường. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng theo chu

hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó mà vị thế của
doanh nghiệp càng cao.
Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ thuận lợi hơn dẫn tới doanh thu và lợi nhuận
nhanh hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái đầu tư hiện đại hoá sản xuất, đa dạng hoá
sản phẩm, tăng thêm khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Khi đó thế và lực của
doanh nghiệp cũng được củng cố và phát triển.
7/42
Chức năng của thị trường
Chức năng của thị trường
Chức năng thực hiện :
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường. Thực hiện hoạt động
này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực hiện các quan hệ và
hoạt động khác.
Thị trường thực hiện : hành vi trao đổi hàng hoá ; thực hiện tổng số cung và cầu trên thị
trường ; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hoá ; thực hiện giá trị ( thông qua
giá cả ); thực hiện việc trao đổi giá trị …Thông qua chức năng của mình. Giá trị trao đổi
là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về
kinh tế trên thị trường.
Chức năng thừa nhận :
Hàng hoá được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó. Việc bán hàng được thực hiện
thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Thị trường thừa nhận chính là người mua
chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đã
hoàn thành. Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng cũng đã
khẳng định trên thị trường khi hàng hoá được bán.
Thị trường thừa nhận : tổng khối lượng hàng hoá ( tổng giá trị sử dụng ) đưa ra thị trường
; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu với từng hàng hoá ; thừa nhận giá thị sử
dụng và giá cả hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị sử dụng và
giá trị xã hội ; thừa nhận các hoạt động mua và bán vv…Thị trường không phải chỉ thừa
nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất , quá trình mua bán mà thông qua
sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường mà thị trường còn kiểm tra, kiểm

trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động của hàng hoá; các điều
kiện dịch vụ cho mua và bán hàng hoá, các quan hệ tỷ lệ về sản phẩm vv…
Thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh tế .Trong quản lý kinh tế,
một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định .Ra quyết định cần có thông
tin.Các dữ liệu thông tin quan trọng nhất là thông tin từ thị trường. Bởi vì các dữ kiện
đó khách quan , được xã hội thừa nhận.
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mỗi hiện tượng kinh
tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này. Vì là những tác dụng vốn có
bắt nguồn tư bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn đề chức năng nào quan trọng
nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào. Song cũng cần thấy rằng chỉ
khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng.
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sự hiểu
biết cặn kẽ tính chất của thị trường. Nhận biết được đặc điểm và sự hoạt động của từng
loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thị trường, từ đó thấy rõ đặc điểm
9/42
hình thành và vận động của giá cả thị trường do đó cần phải nghiên cứu, phân loại các
hình thái thị trường
10/42
Phân loại thị trường
Phân loại thị trường
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sự hiểu biết
cặn kẽ tính chất của từng hình thái thị trường. Phân định các hình thái thị trường là chia
thị trường theo góc độ khách quan khác nhau. Phân định hình thái thị trường là cần thiết,
khách quan để nhận thức cặn kẽ về thị trường.
Hiện nay trong kinh doanh người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân định
hình thái thị trường. Mỗi cách phân định có một hình thái thị trường riêng đối với quá
trình kinh doanh. Sau đây là một số cách phân định chủ yếu về nội dung, tính chất của
từng hình thái thị trường tương ứng với các phân định đó.
Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các quốc gia, thị trường chia
thành thị trường quốc nội và thị trường quốc tế:

các quy luật kinh tế của thị trường được phát huy tác dụng và do đó vai trò, chức năng
của thị trường người mua không phải chỉ là công cụ điều tiết sản xuất xã hội mà nó còn
trở thành công cụ để bỏ sung cho kế hoạch. đối với thị trường này thì thái độ khôn khéo
của các nhà kinh doanh để đạt được thành công là nhận thức, tiếp cận, xâm nhập và khai
thác thị trường.
Căn cứ vào mối quan hệ cung cầu và khả năng biến nhu cầu
thành hiện thực, thị trường chia thành thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và
thị trường lý thuyết :
Thị trường thực tế là một bộ phận của thị trường mà trong đó yêu cầu tiêu dùng đã được
đáp ứng thông qua việc cung ứng hàng hoá và dịch vụ.
Thị trường tiềm năng bao gồm thị trường thực tế và một bộ phận thị trường mà trong đó
khách hàng có yêu cầu tiêu dùng nhưng chưa được đáp ứng.
Thị trường lý thuyết bao gồm tất cả các nhóm dân cư trên thị trường kể cả người chưa
có yêu cầu tiêu dùng hoặc không có khả năng thanh toán.
Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi, thị trường
thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ :
Thị trường hàng hoá là thị trường trong đó đối tượng trao đổi là hàng hoá, vật phẩm tiêu
dùng với mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất. Thị trường hàng hoá bao gồm nhiều bộ
phận thị trường khác nhau, điển hình là thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu
tiêu dùng. Trên thị trường tư liệu sản xuất thường có các nhà kinh doanh lớn, cạnh tranh
12/42
diễn ra mạnh hơn, quy mô thị trường lớn hơn nhưng nhu cầu thị trường không phong
phú, đa dạng như nhu cầu thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liêu sản xuất bị phụ
thuộc vào thị trường hàng tiêu dùng. Còn trên thị trường hàng tiêu dùng số lượng người
mua và người bán nhiều, mức độ cạnh tranh của thị trường này không gay gắt như trên
thị trường tư liệu sản xuất. Khả năng hình thành các cửa hàng đường phố, siêu thị của
thị trường tiêu dùng rất lớn, hình thức mua bán trên thị trường cũng rất phong phú (bán
buôn, bán lẻ , đại lý …). Thị trường bán lẻ là thị trường chủ yếu của hàng tiêu dùng.
Thị trường dịch vụ là thị trường trao đổi các chủng loại dịch vụ như sửa chữa, lắp đặt,
bảo hành và các dịch vụ khác, không có sản phẩm tồn tại dưới hình thái vật chất, không

có gì để đảm bảo rằng chúng ta sẽ tiếp tục đạt được thành công và hiệu quả hơn nữa.
Bởi không có một hệ thống thị trường nào tồn tại vĩnh viễn và do đó việc tiến hành xem
xét lại những chính sách, sản phẩm, hoạt động quảng cáo, khuyếch trương là cần thiết.
Thị trường thay đổi, nhu cầu của khách hàng biến động và những hoạt động cạnh tranh
sẽ đem lại những trở ngại lớn đối với những tiến bộ mà doanh nghiệp đã đạt được. Sự
phát triển không tự dưng mà có, nó bắt nguồn từ việc tăng chất lượng sản phẩm và áp
dụng những chiến lược bán hàng một cách có hiệu quả trong cạnh tranh.
Mở rộng thị trường là hoạt động phát triển đến “ nhu cầu tối thiểu ” bằng cách tấn
công vào các khách hàng không đầy đủ, tức là những người không mua tất cả sản phẩm
của doanh nghiệp cũng như của người cạnh tranh
Biết được biến động của thị trường và chu kỳ sống có hạn của hầu hết các sản phẩm là
điều cốt tử đảm bảo cho sự phát triển trước mắt cũng như triển vọng lâu dài. Kế hoạch
mở rộng phải được vạch ra một cách thận trọng để tránh đầu tư quá mức vào thiết bị
và nhân lực, những yếu tố này sẽ đè nặng lên công ty khi thị trường suy thoái. Và hoạt
động mở rộng thị trường của doanh nghiệp là cần thiết và thích hợp.
14/42
Vai trò của hoạt động mở rộng thị trường
Vai trò của hoạt động mở rộng thị trường
Hoạt động mở rộng thị trường là một trong những tác động Marketing nhằm mở rộng
phạm vi thị trường cũng như phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt
động mở rộng thị trường giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và mở rộng hệ
thống sản xuất và tiêu thụ các chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp với mục tiêu lợi
nhuận và duy trì ưu thế cạnh tranh.
Góp phần khai thác nội lực doanh nghiệp
Dưới giác độ kinh tế, nội lực được xem là sức mạnh nội tại, là động lực, là toàn bộ
nguồn lực bên trong của sự phát triển kinh tế. Trong phạm vi kinh doanh của một doanh
nghiệp, nội lực bao gồm :
• Các yếu tố thuộc về quá trình sản xuất như đối tượng lao động, tư liệu lao
động, sức lao động.
• Các yếu tố thuộc về tổ chức quản lý xã hội, tổ chức quản lý kinh tế.

Sự tác động của hoạt động phát triển thị trường được thể hiện thông qua quá trình thu
hút, huy động các nguồn lực cho sản xuất đồng thời tìm thị trường, tổ chức lưu thông
nhằm tiêu thụ có hiệu quả sản phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất. Nhờ đó doanh
nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh mới trên các thị trường mới và nắm bắt được số
lượng khách hàng mới nhất định. Khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp
cũng vì thế được nâng cao, uy tín doanh nghiệp và nhãn hiệu sản phẩm được biết đến
rộng rãi.
Có rất nhiều loại sản phẩm tiêu thụ thành công trên đoạn thị trường này nhưng chưa chắc
đã thành công trên các đoạn thị trường khác hay ngược lại. Do đó mở rộng thị trường
giúp các doanh nghiệp tìm được các đoạn thị trường tiêu thụ thích hợp cho từng chủng
loại sản phẩm đối với các nhóm khách hàng khác nhau. Điều đó bắt buộc các doanh
nghiệp phải đa dạng hoá các sản phẩm, thay đổi và sáng tạo các sản phẩm mới, tạo ưu
thế và tăng khả năng thích nghi cho sản phẩm trên thị trường. Có thể nói mở rộng thị
trường là công cụ cần thiết trong việc tìm kiếm thị phần, khai thác cho cả sản phẩm đang
có lẫn sản phẩm mới.
Nếu sản phẩm mới có thể đáp ứng được thị trường và sự đáp ứng này phù hợp với sự
nghiên cứu bước đầu về thị trường và với việc thẩm tra các khả năng có thể gặp phải thì
các nhà sản xuất phải xem xét nguồn tài chính và nhân lực để xác định những chi phí
kéo theo để bước vào thị trường mới.
Mở rộng thị trường còn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực, kỹ năng và
chất lượng của lực lượng lao động mà đặc biệt là đội ngũ nhân viên bán hàng. Các nhân
viên tiếp thị và bán hàng được coi như là đội ngũ thống nhất, năng động và tháo vát.
Những ý kiến, sức mạnh và đôi khi khả năng chịu đựng hay phản ứng của họ sẽ là một
yếu tố chủ đạo cho sự phát triển thành công và hữu ích của dự án tiêu thụ hay mở rộng
thị trường.
16/42
Bảo đảm sự thành công cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động mở rộng thị trường giúp cho các doanh nghiệp quan tâm đến các vấn đề:
• Sự tồn tại của một thị trường đứng vững được.
• Quy mô các thời cơ trên thị trường có thể đạt được một cách thực sự

thị trường hiện tại.
Chiến lược phát triển thị trường: tìm kiếm những thị trường mới mà nhu cầu của những
thị trường đó có thể đáp ứng được những sản phẩm hiện có của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển sản phẩm: phát triển những sản phẩm mới mà những thị trường
hiện tại có khả năng quan tâm.
18/42
Khi công ty dự định mở rộng thị trường hay thâm nhập vào thị trường mới phải cân nhắc
thật cẩn thận xem liệu sản phẩm có phù hợp với những đòi hỏi, yêu cầu của thị trường
hay không, sẽ bán được số lượng đủ lớn với mức giá đủ cao để có lợi nhuận hay không.
Nếu không thì có sự lựa chọn nào khác. Thường thì người làm marketing có ít nhất 4
khả năng lựa chọn khi khai thác thị trường mới, đó là :
• Khả năng gặm nhấm thị trường( tăng thị phần của doanh nghiệp ):cơ hội để
doanh nghiệp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên các thị trường hiện
tại.
• Khả năng phát triển thị trường ( mở rộng thị trường của doanh nghiệp ):cơ hội
để doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên các thị trường mới.
• Khả năng phát triển sản phẩm :cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn các sản phẩm
mới kể cả sản phẩm cải tiến để đưa vào tiêu thụ trên các thị trường hiện tại.
• Khả năng đa dạng hoá: cơ hội để doanh nghiệp mở rộng, phát triển hoạt động
thương mại trên cơ sở đưa ra các sản phẩm mới vào bán trên các thị trường
mới, kể cả hoạt động trên lĩnh vực không truyền thống.
Cần chú ý hai dạng thức của đa dạng hoá :
• Đa dạng hoá sản phẩm :tiêu thụ những sản phẩm mới trên thị trường mới thuộc
lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh truyền thống của doanh nghiệp .
Đa dạng hoá kinh doanh: kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm mới trên thị trường mới ,
ngành nghề mới mà trước đó doanh nghiệp chưa từng hoạt động
19/42
Những yêu cầu của hoạt động mở rộng thị
trường
Các khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp

doanh nghiệp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên các thị trường hiện
tại.
• Khả năng phát triển thị trường ( mở rộng thị trường của doanh nghiệp ):cơ hội
để doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên các thị trường mới.
• Khả năng phát triển sản phẩm :cơ hội để doanh nghiệp lựa chọn các sản phẩm
mới kể cả sản phẩm cải tiến để đưa vào tiêu thụ trên các thị trường hiện tại.
• Khả năng đa dạng hoá: cơ hội để doanh nghiệp mở rộng, phát triển hoạt động
thương mại trên cơ sở đưa ra các sản phẩm mới vào bán trên các thị trường
mới, kể cả hoạt động trên lĩnh vực không truyền thống.
Cần chú ý hai dạng thức của đa dạng hoá :
• Đa dạng hoá sản phẩm :tiêu thụ những sản phẩm mới trên thị trường mới thuộc
lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh truyền thống của doanh nghiệp .
Đa dạng hoá kinh doanh: kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm mới trên thị trường mới ,
ngành nghề mới mà trước đó doanh nghiệp chưa từng hoạt động
21/42
Nội dung của hoạt động mở rộng thị trường
Nội dung của hoạt động mở rộng thị trường
Nghiên cứu thị trường xác định thị trường có nhu cầu cao .
• Nghiên cứu thị trường:
Mục đích chủ yếu của việc nghiên cứa thị trường là xác định khả năng tiêu thụ hay bán
một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào đó của doanh nghiệp. Trên cơ sở nghiên
cứa thị trường, doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng với thị trường của các sản
phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức sản xuất, tiêu thụ những sản phẩm hàng
hoá mà thị trường đòi hỏi.
Việc đánh giá chính xác thị trường hiện tại và xác định đúng tiềm năng của thị trường
tương lai là tiêu chuẩn tối quan trọng trong việc xây dựng dự án kinh doanh thực tế và
vững chắc.
Nhân viên tiếp thị và tiêu thụ luôn phải nhận thức được sự cần thiết phải đạt được và
đánh giá toàn bộ thông tin thích hợp về thị trường để công ty tận dụng tối đa năng lực
của mình.

• Thời gian thông thường tối cần để giao hàng.
Nhân tố quan trọng nhất của kiến thức về thị trường là sự hiểu rõ các hoạt động của
những đối thủ cạnh chanh cũng như tác động tiềm tàng của những hoạt động ấy. Không
thể đưa ra một hình ảnh rõ ràng của thị trường tiềm năng nếu không có sự phân tích tỉ
mỷ về sự cạnh chanh của các công ty. Cạnh tranh còn tồn tại thì còn phải nghiên cứu
mọi khía cạnh của những cái mạnh và cái yếu của các đối thủ chính trong các khu vực
thị trường, để hoạch định kế hoạch tiêu thụ nhằm vượt qua cạnh tranh. Càng biết nhiều
và chi tiết những thông tin về cạnh tranh bao nhiêu, doanh nghiệp càng đạt được vị trí
vững trắc bấy nhiêu bởi nhờ đó doanh nghiệp sẽ có khả năng thực hiện với những chiến
lược để đương đầu với bất kỳ thị trường nào mà đối thủ đã xâm nhập vào.
Thông tin chiếm một vị trí quan trọng trong phân tích thị trường. Quy mô hiện tại của
khu vực thị trường trong đó những sản phẩm của doanh nghiệp được bán ở địa phương
trong khu vực, mang tính quốc gia hay nước ngoài đều cần phải xem xét và đánh giá.
Phải xác định số lượng và loại hình các khách hàng hiện có để tạo điều kiện cho những
doanh nghiệp riêng lẻ thiết lập nên biểu đồ khu vực thị trường hiện tại, cũng như trong
tương lai. Những thông tin sống còn này sẽ cho phép những chính sách chiến lược về
sản xuất và tiếp thị hoạt động trong khuôn khổ luồng tiền mặt chắc chắn. Sự hiểu biết
và cảm nhận của khách hàng về thị trường sẽ là vô giá đối với việc đạt đến một cái nhìn
tổng quát, hoàn thiện. Đối thoại tại chỗ với khách hàng ở thị trường là một nguồn thông
tin có giá trị rất quan trọng.
Thiếu sự phân tích thị trường liên tục và chính xác có thể thường xuyên dẫn đến việc sản
xuất quá nhiều trong một quy mô hạn chế hoặc những điều kiện thị trường căng thẳng,
điều này sẽ tạo ra việc ứ đọng hàng hoá với hậu quả là lợi nhuận bị “ăn mòn” và chi phí
tăng cao.
• Xác định thị trường có nhu cầu cao:
23/42

Trích đoạn Tham gia đóng góp Chương trình Thư viện Học liệu Mở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status