Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thi hành tại thành phố hồ chí minh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LỮ BỈNH HUY

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN HỮU CHÍ

HÀ NỘI, NĂM 2016






DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHTN

: Bảo hiểm thất nghiệp


vực thành thị có 16,93 triệu người chiếm 31,65

; nữ có 26 triệu người chiếm

48,60%); cả nước có 1.051.600 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, trong
đó nữ có 461.200 người chiếm 43,9

; khu vực thành thị có 502.900 người chiếm

47,8%); nhóm thanh niên (15-24 tuổi có 559.400 người chiếm 53,2

. Trong số

những người bị thất nghiệp, có 417,3 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật chiếm
39,7

, bao gồm: 155.500 đại học trở lên; 115.000 đẳng chuyên nghiệp; 6.100 cao

đẳng nghề; 63.800 trung cấp chuyên nghiệp; 15.000 trung cấp nghề; 26,9 nghìn sơ
cấp nghề và 35.200 có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng. Đáng chú ý, trong số những
người bị thất nghiệp, trong quý 4/2015, tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ so với quý 3 song
vẫn tăng so với cùng kỳ 2014. Nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp đứng ở vị
trí cao nhất là 8,16 , tiếp theo là cao đẳng nghề 3,44 . Tỷ lệ thất nghiệp trong
nhóm tuổi thanh niên là 7,21 , gấp 3,3 lần tỷ lệ chung. Trong đó, thanh niên thành
thị là 12,21 . Đáng lưu ý, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 20-24 có trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở mức rất cao: cao đẳng chuyên nghiệp là 19,58

và đại học

trở lên 20,79 . Tình trạng thất nghiệp dài hạn đã được cải thiện: tỷ lệ người bị thất

Sau 7 năm thực hiện, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp đã mang lại nhiều
thành công, được khẳng định là một chính sách đúng đắn, có tác dụng tích cực góp
phần quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội nói chung và chính sách đã tác
dụng tích cực, thiết thực, trực tiếp tới người lao động, người sử dụng lao động, do
đó chính sách đã được đón nhận và đi vào cuộc sống. Năm 2015, số người tham gia
bảo hiểm thất nghiệp là 10,3 triệu người, thu bảo hiểm thất nghiệp là 9.939,5 tỷ
đồng. Năm 2016 ngành Bảo hiểm xã hội xác định chỉ tiêu: số tham gia bảo hiểm
thất nghiệp là 10.485.992 người, tổng thu bảo hiểm thất nghiệp là 10.363 tỷ đồng và
tổng chi bảo hiểm thất nghiệp là 7.371 tỷ đồng3.
Việc thực hiện những quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong
thực tế nói chung hay tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chắc chắn còn phát sinh
những vấn đề cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp nhằm phát huy cao
nhất những ưu việt của chính sách bảo hiểm thất nghiệp nên việc nghiên cứu những
quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp thông qua thực tiễn thi hành
2

Luân Dũng 2016 , Đặt chỉ tiêu GDP bình quân đầu người lên 3.200–3.500 USD, Website Cafef.vn,tại địa
chỉ />truy cập ngày 03/5/2016
3
Quang Lê (2016), Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp năm 2015 tăng 11,6% so với năm 2014,
Cổng thông tin điện tử việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, tại địa chỉ
/>ham_gia_Bao_hiem_that_nghiep_nam_2015_tang_11_6__so_voi_2014, truy cập ngày 03/5/2016.


3

tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra những bất cập là rào cản, khó khăn trong thực
tiễn từ đó có những kiến nghị giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết, có ý nghĩa quan
trọng nhằm hoàn thiện một chính sách mới được ban hành với vai trò đảm bảo an
sinh xã hội. Đây cũng là lý do để em chọn đề tài luận văn Thạc sĩ luật học cho

Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ này; Khi
xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên hay không nên đề cập đến vấn đề
bảo hiểm thất nghiệp; Sự cần thiết khách quan phải triển khai Bảo hiểm thất nghiệp,
phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểm chung khi tổ chức
triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta; Phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên
nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những
khu vực nào đó; Các công trình khác trình bày thực trạng việc thực hiện Bảo hiểm
thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội,…
Hiện nay pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi. bổ sung nên
những công trình khoa học trên mang giá trị lịch sử và đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu về quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật
Việc làm áp dụng từ năm 2015 và quan trọng là đánh giá thực tiễn thi hành tại thành
phố Hồ Chí Minh từ đó có những kiến nghị, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật
mới ban hành.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đánh giá chung tình hình thực hiện pháp luật bảo hiểm thất
nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, những quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
còn thiếu khả thi trong thực tiễn và đưa ra kiến nghị để tham khảo hoàn thiện quy
định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp.
- Nhiệm vụ: nghiên cứu pháp luật có liên quan về bảo hiểm thất nghiệp; thực
tiễn thi hành tại thành phố Chí Minh qua đánh giá tác động những bất cập nhằm
kiến nghị hoàn thiện pháp luật nói chung và nâng cao hiệu quả thực thi tại địa
phương nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các quy định của pháp luật liên quan đến bảo hiểm
thất nghiệp từ khi có chính sách bảo hiểm thất nghiệp 2009 đến nay.


5



7. Bố cục của luận văn
Bố cục của Bản luận văn bao gồm 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và
phần kết luận.
Trong đó phần nội dung bao gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật bảo hiểm thất
nghiệp.
Chương 2: Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất
nghiệp.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại thành
phố Hồ Chí Minh và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp.


7

CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP
LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP QUỐC TẾ
1.1 . Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm thất nghiệp
Xem xét một cách khái quát là khi có một số người muốn làm việc nhưng
không thể có được việc làm thì được hiểu là thất nghiệp.
Nhà kinh tế học M.Keynes, Samuelson có quan điềm:“Thất nghiệp là vấn đề
trung tâm trong các xã hội hiện đại. Đó là hiện tượng người có năng lực lao động
không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Và trong
nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào khả năng giải quyết việc làm
của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ”, Ông đã cho rằng khả
năng quản lý nhà nước dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp.
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO định nghĩa: “Thất nghiệp là sự ngừng thu
nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp

lý, thiếu thông tin việc làm… 5 Thất nghiệp trá hình là dạng thất nghiệp của
những người lao động không được sử dụng hoặc không được sử dụng hết kỷ năng.
(6) Thất nghiệp ẩn là dạng thất nghiệp không được báo cáo.
1.1.2. Khái niệm người thất nghiệp
ILO quan điểm người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động, hiện tại không có việc làm, muốn làm việc và hiện rất sẵn sàng
để làm việc, đang tích cực tìm kiếm việc làm6. Quan điểm này cho rằng chỉ những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không có việc làm và đang đi
tìm việc làm thì mới gọi là người thất nghiệp. ILO cũng cho rằng việc “tiến hành
những bước đi cụ thể nhằm tìm kiếm việc làm được trả công hoặc tự tạo việc làm”
đó là đang tìm việc làm.
Những người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc làm thì không được coi là
người thất nghiệp.
Khái niệm người thất nghiệp đã được luật hóa theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2006 hiện đã hết hiệu lực quy định người thất nghiệp là “người
đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao
động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Quy định này so với tiêu
6

Nguồn Bộ LĐ TB & XH, Tienpham51 26/3/13 trong thời sự Vấn đề thất nghiệp và khái niệm người thất
nghiệp
tại
địa
chỉ
website
truy cập ngày 03/05/2016


9



10

trình làm việc, kích thích tăng năng suất lao động, thu hẹp khoảng cách mâu thuẫn
quyền lợi giữa người lao động và người sử dụng lao động. Có thể hiểu BHTN là
một trong những chế độ thuộc hệ thống các chế độ về an sinh xã hội của một quốc
gia, được hình thành nhằm khắc phục những biến cố xẩy ra đối với việc làm của
người lao động bằng các biện pháp trợ cấp kinh tế và hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới.
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người
lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm
việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp7.
Phân biệt bảo hiểm thất nghiệp với các loại hình bảo hiểm khác
BHTN cũng giống các loại hình bảo hiểm khác là nhằm bù đắp, chia sẻ
những tổn thất do rủi ro không mong muốn mang tới. BHTN cũng là một loại hình
bảo hiểm con người, nhưng nó khác nhau ở chỗ là không có hợp đồng bảo hiểm
trước, người tham gia và người thu hưởng là một.
BHTN không có con số dự báo chính xác về số lượng cũng như là mức độ
thiệt hại về kinh tế có thể là rất lớn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế
So sánh với bảo hiểm xã hội thì BHTN cũng bù đắp những rủi ro cho người
lao động trong quan hệ lao động nhưng BHTN có các nội dung khác về đối tượng,
mục đích và cách thức triển khai. Những khác biệt đó là:
- Đối tượng tham gia BHTN bao gồm cả người sử dụng lao động và người
lao động nhưng đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì chỉ là người lao động
chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc viên chức chấm dứt Hợp đồng làm việc.
- Mục đích: ngoài mục đích trợ cấp tài chính thì BHTN còn thực hiện các
chính sách khác là hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề và hỗ trợ đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao
động.
- Pháp luật liên quan đến BHTN có nhiều ngành luật như lao động, doanh

1.2.2. Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp
Mục đích lớn nhất của BHTN là đảm bảo cho người lao động mất việc làm
có một khoản thu nhập, bảo hiểm y tế trong một khoảng thời gian nhất định và có
các biện pháp hỗ trợ khác như tư vấn học nghề, dạy nghề, giới thiệu việc làm nhằm
giúp cho họ nhanh chóng trở lại thị trường lao động. Ngoài ra BHTN còn giảm một
phần gánh nặng cho ngân sách Nhà nước đối với các khoản chi cho an sinh xã hội
đó cũng là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề an sinh xã hội.


12

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài các nghiệp vụ thu chi thì
BHTN còn khảo sát, nghiên cứu, điều tra thông tin về thị trường lao động, hướng
nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp để tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động
tìm kiếm việc làm. Như vậy xuất phát từ quan hệ lao động giống bảo hiểm xã hội
nhưng BHTN gắn liền với tình trạng việc làm.
Việc làm và BHTN là hai mặt của sự thống nhất, có quan hệ chặt chẽ và biện
chứng với nhau đều với mục tiêu chung là hướng về người lao động, đảm bảo an
sinh xã hội từ việc đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động. Giải quyết
việc làm là quá trình tiếp nối của BHTN, giải quyết tốt vấn đề việc làm thì thất
nghiệp sẽ giảm. Các đối tượng tích cực tham gia BHTN thì giúp cho quan hệ lao
động lành mạnh.
Bởi vậy không thể quan điểm là BHTN chỉ là chi trả trợ cấp cho người thất
nghiệp trong một thời gian nhất định giải quyết hậu quả mà BHTN còn có chức
năng hướng nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý, bồi dưỡng nâng
cao năng lực nghề nghiệp cho người lao động, bảo vệ việc làm, tìm kiếm việc làm,
làm cầu nối cho cung cầu của thị trường lao động. Việc thực hiện tốt các chính sách
và giải pháp đồng bộ sẽ phát huy vai trò của BHTN trong hàng loạt những biện
pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.3. Mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp với các trợ cấp cho người lao động

quy định của pháp luật lao động, pháp luật về viên chức10. Trước năm 2015 chính
sách BHTN theo qui định tại Luật Bảo hiểm xã hội thì cũng quy định tương tự là
“Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này
không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định
của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức” 11. Như vậy từ sau ngày
01/01/2009, người lao động bị mất việc làm thì được hưởng các chế độ BHTN đối
với thời gian có tham gia BHTN và được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc
làm đối với khoản thời gian chưa hưởng từ 2009 trở về trước.
1.2.4. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
- Trước tiên BHTN giúp cho duy trì, ổn định trật tự xã hội: khi người lao động
bị mất việc làm, thu nhập của họ cũng bị giảm, nó ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ
8

Điều 48, Bộ luật Lao động năm 2012
Điều 49, Bộ luật Lao động năm 2012
10
Khoản 3, Điều 45, Luật Việc làm
11
Khoản 6, Điều 139, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006
9


14

chức đời sống sinh hoạt gia đình, mặt khác, thất nghiệp cũng có thể là mầm mống
của các tệ nạn xã hội. Khi người thất nghiệp nhận được một khoản trợ cấp trong
tình thế khó khăn nhất thời, như là một cứu cánh giúp cho họ duy trì và ổn định
cuộc sống không bị xáo trộn nhiều trong một thời gian nhất định. Các chế độ BHTN
kèm theo như bảo hiểm y tế, hỗ trợ dạy nghề, giới thiệu việc làm,…tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho người lao động sớm tìm được việc làm trở lại. Có thể nói BHTN


15

Vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp đã được ILO đề cập trong
các Công ước và Khuyến nghị sau đây: Công ước số 44 “Bảo đảm tiền trợ cấp cho
những người thất nghiệp” năm 1934; Công ước số 102 “Quy phạm tối thiểu về
ansinh xã hội” năm 1952; Công ước số 168 “Xúc tiến bảo vệ và phòng chống thất
nghiệp” năm 1988.
1.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Tổ chức Lao
động Quốc tế
 Công ước số 44:
Công ước số 44 được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua
ngày 23 tháng 6 năm 1934. Theo Công ước này, đối tượng áp dụng BHTN được
quy định tại Điều 2, Công ước, chỉ những người làm công ăn lương làm công cho
chủ mới được hưởng BHTN; còn những người lao động độc lập thì không thuộc
đối tượng BHTN. Tại Điều 2 cũng ghi: Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể
đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối với một số đối tượng thuộc các dạng sau:
Người giúp việc nhà; Người lao động làm việc tại nhà; Công chức Nhà nước có
việc làm ổn định; Người lao động có thu nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi
ro thất nghiệp; Những người lao động làm việc theo mùa vụ; Những lao động trẻ,
sát cận tuổi lao động theo quy định; Những lao động đã vượt quá tuổi quy định,
nghỉ hưu, đang được hưởng trợ cấp hưu trí; Người lao động làm việc tùy dịp hoặc
phụ trợ; Thành viên trong gia đình của chủ nhân. Công ước không áp dụng thủy thủ,
thủy thủ đánh cá và lao động nông nghiệp.
 Công ước số 102
Công ước số 102 gọi tắt là “Công ước về quy phạm tối thiểu về An sinh xã
hội, 1952” được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua ngày
28 tháng 6 năm 1952, quy định tại phần IV-Trợ cấp thất nghiệp như sau: “Mọi nước
thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho những
người được bảo vệ được nhận trợ cấp khi thất nghiệp” Điều 19).

người lao động được tìm kiếm việc làm hiệu quả”.
Trường hợp được bảo vệ được quy định tại Điều 10 bao gồm: “Những người
có khả năng lao động nhưng bị thất nghiệp toàn phần do không có việc làm phù
hợp, dẫn đến mất nguồn sống”. Ngoài ra Điều 10 của Công ước cũng quy định:
“Mỗi nước thành viên sẽ cố gắng mở rộng sự bảo vệ đối với những trường hợp: Mất
tiền lương vì thất nghiệp từng phần do tạm thời giảm bớt công việc bình thường tại
nhà hoặc do pháp luật quy định;Sự đình chỉ hoặc giảm bớt thu nhập do đình chỉ tạm
thời công việc mà không có bất cứ sự gián đoạn nào trong mối quan hệ việc làm bởi
những lý do, đặc biệt là kinh tế, công nghệ, cơ cấu hoặc nhu cầu tự nhiên tương tự”.
Đồng thời, mỗi nước thành viên sẽ cố gắng trả thêm trợ cấp làm việc không trọn giờ
cho những người lao động đang tìm kiếm việc làm tòan bộ thời gian. Toàn bộ số trợ


17

cấp và tiền lương từ việc làm không trọn giờ của họ có thể duy trì sự khuyến khích
đạt tới việc làm toàn bộ thời gian.
Những người được bảo vệ được quy định tại Điều 11: “Những người làm
công ăn lương theo quy định, không ít hơn 85

tòan bộ những người làm công ăn

lương, kể cả những người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người
học nghề.” hoặc “những người làm công ăn lương theo quy định không ít hơn 50
toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc nơi được quy định đặc biệt theo trình
độ phát triển, những người làm công ăn lương không ít hơn 50

tòan bộ những

người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 20 người trở lên”.


người được bảo vệ là người thường trú mà các phương tiện sinh sống khi trường
hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định, thì trợ cấp là chế độ chi trả
định kỳ một khoản được ấn định theo một bảng tính quy định hoặc theo bảng tính
do các cơ quan có thẩm quyền quyết định theo những quy tắc nhất định.
Thời gian hưởng trợ cấp được xác định tại Điều 24: “Trợ cấp phải được trả
trong suốt thời gian trường hợp bảo vệ xảy ra, với một ngoại trừ là thời gian được
trợ cấp có thể giới hạn: a. Ở 13 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ
là người làm công ăn lương; b. Ở 26 tuần trong trong thời kỳ 12 tháng nếu người
được bảo vệ là người thường trú mà các phương tiện sinh sống trong trường hợp
bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định.”
Thời gian hoãn hưởng trợ cấp được quy định như sau: “Trợ cấp có thể không
được trả trong một thời gian tạm chờ là 7 ngày đầu tiên trong từng trường hợp gián
đoạn thu nhập, và những ngày thất nghiệp trước và sau một công việc tạm thời
không quá một thời hạn đã định sẽ được tính như một bộ phận của trường hợp gián
đoạn thu nhập đó. Nếu là người lao động làm theo mùa vụ thì thời gian được hưởng
trợ cấp và thời gian tạm chờ có thể được quy định thích hợp với điều kiện làm việc
của họ”.
 Công ước số 168
Điều 12 quy định phương pháp bảo vệ: “Mỗi nước thành viên có thể lựa
chọn quy định một hoặc nhiều phương pháp bảo vệ, có hoặc không có hệ thống
đóng góp, hoặc bằng sự kết hợp giữa các hệ thống đó”.
Mức trợ cấp được xác định dựa vào nguyên tắc chung Điều 14 : “Trong
trường hợp thất nghiệp hoàn toàn, khoản trợ cấp được chi trả định kỳ sẽ được tính
toán trên cơ sở cung cấp cho người được hưởng một khoản thay thế một phần tiền


19

công và chuyển tiếp, đồng thời tránh tạo ra việc không khuyến khích làm việc hoặc

không có mặt trên lãnh thổ của nước thành viên; (2) Bị cơ quan có thẩm quyền xác
nhận rằng đương sự bị sa thải do lỗi cố ý; (3) Có xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền rằng đương sự tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng; (4) Trong thời gian có
tranh chấp về lao động, khi đương sự bỏ việc để tham gia vào tranh chấp lao động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status