Pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn thi hành tại huyện hóc môn thành phố hồ chí minh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÂM THANH NHỰT

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm

HÀ NỘI – NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ luật học này là công trình nghiên cứu
của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm - Giảng viên Khoa
Pháp luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội. Các số liệu, tài liệu tham khảo trong
luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Xác nhận của giảng viên hƣớng dẫn

Ngƣời thực hiện

PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm



1.1.1. Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm ......................................... 6
1.1.2. Vai trò của giải quyết việc làm cho người lao động........................ 11
1.2.Giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành .......... 13
1.2.1. Trách nhiệm của các chủ thể hữu quan trong việc giải quyết
việc làm ...................................................................................................... 13
1.2.2. Các biện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm ............. 17
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI HUYỆN HÓC MÔN- THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ................................................................................................ 29
2.1. Vị trí địa lý và tình hình phát triển kinh tế - xã hội Huyện
Hóc Môn .................................................................................................... 29
2.2. Thực trạng giải quyết việc làm tại Huyện Hóc Môn ..................... 33
2.2.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình việc làm ............. 33
2.2.2. Quỹ giải quyết việc làm .................................................................... 36


2.2.3. Hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm ........................................... 37
2.2.4. Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ............................... 39
2.2.5. Dạy nghề gắn với việc làm ............................................................... 41
2.2.6. Thực tiễn thực hiện chính sách việc làm công ..................................... 44
2.2.7. Thực tiễn thực hiện các biện pháp giải quyết việc làm khác ................ 44
2.2.8 Một só nhận xét về thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm ở
huyện Hóc Môn ............................................................................................... 45

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM Ở HUYỆN HÓC MÔN- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH……………………………………………………..........................48
3.1. Hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm........................................ 48

tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm đang tạo lên sức ép to lớn đối với
nền kinh tế. Trong bối cảnh đó việc chăm lo giải quyết việc làm đã trở thành
nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi gia đình và
toàn xã hội phải quan tâm.Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch giải quyết
việc làm là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Đây là một bộ phận
quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.Nó hỗ trợ, thúc đẩy, xây
dựng các kế hoạch bộ phận khác trong tổng thể hệ thống kế hoạch hoá quốc
gia nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần
đưa nước ta có được vị thế mới trên trường quốc tế.
Giải quyết việc làm ở các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước
có lực lượng lao động lớn như Việt Nam đang ngày càng trở thành vấn đề cấp
bách, nếu không giải quyết tốt sẽ trở thành yếu tố kìm hãm tăng trưởng kinh
tế và là nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa nhất gây ra những tiêu cực về mặt xã
hội. Đối với nước ta, giải quyết việc làm còn là tiền đề quan trọng để sử dụng
có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp


2

ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người.
Xuất phát từ tầm quan trọng và tính bức xúc của vấn đề giải quyết việc
làm, từ nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của người lao động, Đảng và
Nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp để tạo việc làm,
kiểm soát thất nghiệp. Việc ban hành các văn bản luật như BLLĐ, Luật
Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm Xã hội, Luật Đất đai, Luật Giáo dục nghề
nghiệp, Luật việc làm…đã xác lập khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, tạo
môi trường thông thoáng, thuận lợi trong việc đầu tư phát triển sản xuất, thúc
đẩy quan hệ lao động và thị trường lao động phát triển, người lao động tự tạo
việc làm và có việc làm, đáp ứng yêu cầu bức xúc về đời sống của xã hội.

Ngân (Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007), “Giải quyết việc làm cho lao động
Việt Nam: Nghịch lý thiếu, thừa” của tác giả Lan Ngọc (Báo Lao động số 291
ngày 16/12/2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn cầu của tác giả
Phan Trọng Nghĩa (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 năm 2008), “Việc
làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của tác giả Nguyễn Tiệp (Tạp
chí Lao động - xã hội số 394 năm 2010).
Bên cạnh đó là các Đề tài khoa học: “Đánh giá việc thực hiện chiến
lược việc làm giai đoạn 2001 - 2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong
kỳ đại hội X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu,
đánh giá tác động về lao động, việc làm và xã hội sau khi Việt Nam gia nhập
WTO và đề xuất những giải pháp” của Cục Việc làm năm 2008, “Cơ sở lý
luận và thực tiễn xây dựng luật việc làm” của Cục Việc làm (2009),. Ngoài ra
còn có các công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như luận văn thạc sỹ
luật học “Việc làm và quy định của pháp luật về việc làm ở Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Quynh (2003),
“Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối
cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lâm Thị Thu Huyền
(2012).


4

Các công trình nêu trên đã đề cập tới khía cạnh pháp luật về việc làm
và giải quyết việc làm ở mức độ nhất định.Song việc tiếp tục nghiên cứu để
có các góc nhìn đa chiều và góp thêm tiếng nói để hoàn thiện pháp luật việc
làm trong giai đoạn hiện nay cũng là cần thiết nhất là khi chúng ta đang triển
khai thực hiện luật Việc làm. Đặc biệt đây lại là công trình nghiên cứu về
thực hiện pháp luật giải quyết việc làm ở một địa phương cụ thể - đó là thực
tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm tại Huyện Hóc Môn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ
các nội dung nghiên cứu.
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau để nghiên cứu: phương
pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; phương pháp tổng kết lịch sử;
phương pháp thống kê, điều tra…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm theo
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm tại
Huyện Hóc Môn - Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết
việc làm ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm taị Huyện Hóc
Môn- Thành phố Hồ Chí Minh


6

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH
1.1. Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm là vấn đề mang tính chất toàn cầu, phản ánh sự phát triển của
lao động xã hội. Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế
giới động vật nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên, đối với con người,
kiếm sống không chỉ là hoạt động đơn thuần giúp con người thích ứng với

nhận tiền công hoặc hiện vật; còn người thất nghiệp là những người không có
việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ trở lại làm việc.
Gần đây nhất, năm 2005, Tổ chức Lao động quốc tế đã đưa vào Từ điển
chuyên ngành khái niệm “việc làm”.Theo đó, “Việc làm là công việc được trả
công. Việc làm cũng đề cập đến đối tượng người tự tạo việc làm và tham gia
làm việc để được trả công” (Employment: work carried out in return for
payment. Also refers to the number of people in paid employment and selfemployment).Đây là khái niệm ngắn gọn, chỉ chung chung đến những công
việc do cá nhân thực hiện cho chính bản thân hoặc cho chủ thể khác để được
trả công.
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm nói chung là“công
việc được giao cho và được trả công”
Dưới góc độ pháp lý, quyền việc làm được coi là quyền hiến định của
mọi công dân. Tuy nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp
trong phạm vi những gì mà pháp luật cho phép. Do đó, mọi hoạt động của con
người không trái pháp luật nhưng pháp luật không cho phép đều không được
thừa nhận là có việc làm. Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên
chế Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm
chỉnh.Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi
là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là quốc doanh và tập thể. Bên
cạnh đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hoá,


8

không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất
nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước
là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh
tế, có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch.
Cũng từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể
hiện các chế độ như tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân

luật cấm”.
Như vậy, trên cơ sở những quy định của BLLĐ, ta có thể hiểu một cách
khái quát nhất: việc làm là hoạt động lao động, mang lại thu nhập cho người
lao động và không bị pháp luật cấm.
Từ quan niệm trên cho thấy việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố:
Thứ nhất, là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sức lao động
của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Thứ hai, việc làm tạo ra thu nhập, điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và
nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Những hoạt động của con
người dù có tiêu tốn sức lực mà không tạo ra thu nhập, tức không vì mục đích
kiếm sống thì không được thừa nhận là việc làm.
Thứ ba, hoạt động đó không bị pháp luật cấm.Điều này chỉ rõ tính chất
pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành
nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt
Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp
pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do
liên doanh liên kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong
khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay
ngoài khu vực Nhà nước. Điều này còn khẳng định tính chất pháp lý trong
hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực
phi chính thức.
Tuy nhiên, với dấu hiệu này có thể thấy giữa các quốc gia khác nhau
quan niệm về việc làm có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục
tập quán của quốc gia đó. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép
và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị


10

cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề này


Bên cạnh quan niệm về việc làm, pháp luật cũng quy định về vấn đề
giải quyết việc làm, bảo đảm việc làm cho người lao động. Điều 13 BLLĐ
năm 1994 khẳng định: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả
năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của
các doanh nghiệp và toàn xã hội”. Điều 9 BLLĐ năm 2012 cũng khẳng định:
“Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải
quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội
có việc làm”. Đây là những khẳng định có tính chất tuyên ngôn của Nhà nước
về vấn đề giải quyết việc làm cho người laođộng. Theo đó, giải quyết việc
làm còn bao gồm phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm, khuyến khích
mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế nhằm tự tạo việc làm cho mình
và cho xã hội.Điều này có nghĩa là, vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân chịu
tác động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền tự do
kinh doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế, khuyến khích đầu tư... Còn việc làm cho người lao động trong
quan hệ với người sử dụng lao động chịu sự tác động của các chế độ pháp lý
như quyền được lao động, tự do tìm kiếm việc làm, tự do cư trú, hợp đồng lao
động, dạy nghề, bảo đảm việc làm, thất nghiệp...
Do vậy giải quyết việc làm được hiểu là tổng hợp các biện pháp nhằm
tạo việc làm, hạn chế thất nghiệp nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và đảm
bảo các vấn đề xã hội.
1.1.2. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm
1.1.2.1. Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể
thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên
suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã
hội, nó chi phối mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân, việc làm sẽ tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân
mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.

huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội,
đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Nếu không giải


13

quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền
kinh tế.
1.1.2.2. Dưới góc độ chính trị - pháp lý
Ở khía cạnh pháp lý, có việc làm là quyền cơ bản của con người. Mỗi
cá nhân có khả năng lao động, có nhu cầu lao động đều có quyền được làm
việc để tạo ra thu nhập cho bản thân nếu hoạt động đó không trái pháp luật.
Điều này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật
của nhiều nước.Điều 2 Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 của Liên
hợp quốc ghi nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề,
được có những điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng vàđược bảo vệ
chống lại thất nghiệp”. Điều 1 Công ước số 122 của ILO về chính sách việc
làm năm 1964 cũng nêu rõ: “Các nước thành viên phải tuyên bố vàáp dụng
một chính sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất
vàđược tự do lựa chọn” cho người lao động.
Ngay tại Điều 9 của Bộ Luật lao động năm 2012 của Việt Nam cũng
khẳng định: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm
tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động
đều có cơ hội có việc làm”.
Về mặt pháp lý, những quy định trên của quốc tế cũng như của quốc
gia là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho mỗi cá nhân đều có việc làm và thu nhập,
có được cuộc sống ổn định và bền vững, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con
người.
1.2. Giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện

thị trường lao động ở nước ngoài.
- Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc
làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
- Có chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với
việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
- Có chính sách ưu đãi đối với ngành, nghề sử dụng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều
1

Khoản 1 Điều 57 Hiến pháp năm 2013


15

kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Để thực hiện trách nhiệm này, Chính phủ sẽ thống nhất quản lý nhà
nước về việc làm trong phạm vi cả nước; Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về việc làm;
Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý
nhà nước về việc làm và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương.
Cùng với Nhà nước, các cơ quan, tổ chức cũng có trách nhiệm trong
lĩnh vực giải quyết và đảm bảo việc làm. Cụ thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có
trách nhiệm tuyên truyền, vận động cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức và
cá nhân tạo việc làm cho người lao động; tham gia với cơ quan nhà nước
trong việc xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về việc
làm theo quy định của pháp luật.Đặc biệt, theo Luật Công đoàn năm 2012 thì
Công đoàn - với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời là tổ

sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc
sa thải người lao động trái pháp luật dẫn đến người lao động bị mất việc làm.
Đối với người lao động, bên cạnh quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp,
việc làm và nơi làm việc, pháp luật cũng nhấn mạnh trách nhiệm của người
lao động là phải “chủ động tìm kiếm việc làm và tham gia tạo việc làm”6 dưới
sự khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước. Khi đã có việc làm, người lao động
có trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ các cam kết về công việc phải làm trong
hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể; chấp hành các yêu cầu của
người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện việc làm7. Có như vậy mới
giữ được việc làm lâu dài, đảm bảo được việc làm ổn định trong hoàn cảnh thị
trường lao động biến động không ngừng. Ngoài ra, người lao động làm việc
theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ

2

Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm năm 2013
Khoản 1 Điều 154 Bộ luật Lao động năm 2012
4
Khoản 2 Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010
5
Khoản 1 Điều 44 Bộ luật Lao động năm 2012
6
Khoản 3 Điều 8 Luật Việc làm năm 2013
7
Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012
3


17


Khoản 3 Điều 53 Luật Việc làm năm 2013


18

trước hết thuộc về nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng chính sách
phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động đồng thời bố
trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việc làm.Để làm được điều này,
trước hết phải xây dựng các chương trình về việc làm.Ở cấp quốc gia, căn cứ
điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ có trách nhiệm trình
Quốc hội quyết định chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề.
Ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng chương
trình việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
Nội dung của chương trình về việc làm bao gồm: Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu,
đối tượng, phạm vi thực hiện, thời gian, tổ chức thực hiện và cơ chế, chính
sách để thực hiện.Các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội và người sử dụng lao động khác trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chương trình việc làm.
Việc xây dựng và thực hiện các chương trình về việc làm nhằm đảm bảo cho
mọi người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có có việc
làm đầy đủ và có hiệu quả, thông qua đó giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội. Trên thực tế, tùy thuộc điều kiện kinh
tế - xã hội của từng thời kỳ mà chương trình việc làm sẽ được xây dựng độc
lập.
- Hình thành và sử dụng các loại quỹ về việc làm
Quỹ việc làm cũng được coi là biện pháp quan trọng nhằm hỗ trợ giải
quyết việc làm.Chính vì vậy cần phải hình thành các quỹ việc làm. Theo quy
định của pháp luật hiện hành, có bốn loại quỹ giải quyết việc làm, gồm Quỹ
quốc gia giải quyết việc làm, Quỹ giải quyết việc làm ở địa phương, Quỹ giải
quyết việc làm cho người tàn tật và Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước. Các quỹ

phương11.
Quỹ việc làm cho người tàn tật được hình thành từ các nguồn: ngân
sách địa phương, khoản thu từ các doanh nghiệp nộp do không nhận đủ số lao
9

Điều 20 Nghị định số 61/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/07/2015 quy định về chính sách hỗ trợ tạo
việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm
10
Điều 4 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2014 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Bộ luật lao động về việc làm
11
Thông tư số 107/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 07/12/2005 hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng Quỹ
giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quản lý Quỹ quốc gia về việc làm


20

động là người tàn tật vào làm việc theo qui định, trợ giúp của các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước và các nguồn thu khác. Quỹ việc làm cho người tàn
tật được sử dụng vào mục đích: cấp để hỗ trợ hoặc cho vay với lãi suất thấp
cho một số cơ sở, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tàn tật; các hoạt
động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật12.
Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước được hình thành từ các nguồn: đóng
góp của doanh nghiệp và người lao động, hỗ trợ của ngân sách nhà nước và
các nguồn thu hợp pháp khác. Quỹ này được thành lập nhằm phát triển và mở
rộng thị trường lao động ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn lao động, hỗ
trợ giải quyết rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp13.
- Thực hiện chính sách việc làm công
Chính sách việc làm công là chính sách trong lĩnh vực việc làm được
quy định trong luật Việc làm 2013.Việc làm công là việc làm tạm thời có trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status