Pháp luật về đình công, giải quyết đình công và thực tiễn thi hành tại tỉnh bắc ninh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY TRANG

PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngân Bình

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi,
có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là TS Đỗ Ngân Bình. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ
quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Nếu phát
hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội
đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2016

1. NLĐ: Người lao động
2. NSDLĐ: Người sử dụng lao động
3. ILO: Tổ chức Lao động thế giới
4. TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
5. BLLĐ: Bộ luật Lao động
6. BLLĐ 2006: Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2006
7. BLTTDS 2015: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH
CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG ............................................................. 7
1.1. Những vấn đề lý luận về đình công...................................................... 7
1.1.1. Khái niệm đình công....................................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm đình công ........................................................................ 9
1.1.3. Phân loại đình công ...................................................................... 13
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết đình công ................................... 14
1.2.1. Khái niệm về giải quyết đình công ............................................... 14
1.2.2. Vai trò của việc giải quyết đình công ............................................ 16
1.3. Điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề đình công và giải quyết đình
công ......................................................................................................... 18
1.3.1. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề đình
công và giải quyết đình công .................................................................. 18
1.3.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về đình công và giải quyết
đình công................................................................................................ 19
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật lao động Việt Nam về
đình công và giải quyết đình công ............................................................ 24
1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985 (Giai đoạn nền kinh tế tập
trung)...................................................................................................... 24

KẾT LUẬN.................................................................................................. 85


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đình công là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, được pháp luật
thừa nhận là quyền của NLĐ. Năm 1982, Việt Nam đã tham gia Công ước về
các quyền kinh tế xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc, trong đó có quy định
về quyền đình công của NLĐ: “Các quốc gia tham gia công ước này cam kết
bảo đảm (…) quyền đình công miễn là quy định này được tiến hành phù hợp
với pháp luật”, theo đó pháp luật Việt Nam đã thừa nhận quyền đình công và
cụ thể hóa tại BLLĐ qua các thời kỳ.
Đình công một mặt là biểu hiện của quyền dân chủ, bảo vệ quyền hợp
pháp và lợi ích chính đáng của người lao động, một mặt lại là hiện tượng ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế xã hội và đôi khi cả chính trị. Cái khó của nhà
làm luật là xây dựng pháp luật sao cho vừa đảm bảo được quyền của NLĐ,
đưa quyền đình công theo định hướng giảm thiểu sự thiệt hại về kinh tế và
đảm bảo trật tự xã hội. Tuy nhiên bản chất của đình công là đe dọa gây thiệt
hại hoặc gây thiệt hại về mặt kinh tế đối với NSDLĐ nhằm thỏa mãn các yêu
sách. Chính vì vậy khi pháp luật nghiêng về hướng bảo vệ nền kinh tế và sự
ổn định xã hội hơn thì quyền đình công sẽ bị thu hẹp lại. Điều đó không hạn
chế được đình công mà ngược lại càng khiến hiện tượng đình công xảy ra
phức tạp, không đúng trình tự thủ tục, khiến cơ quan nhà nước cũng như
NSDLĐ không kịp có phương hướng giải quyết.
Hiện nay, theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
thì 100% các cuộc đình công đều diễn ra không đúng trình tự thủ tục, các
cuộc đình công xảy ra bất ngờ, không báo trước khiến NSDLĐ và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết đình công không chủ động trong công tác

Với thực trạng đình công tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về đình công và giải quyết đình công với nhiều quy mô như khóa luận ,luận
văn, luận án như: Luận án tiến sỹ của Tiến sỹ Đỗ Ngân Bình về “Pháp luật về
đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế” năm 2005; Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc sỹ
Đinh Văn Sơn “Đình công và giải quyết đình công theo pháp luật Việt Nam
hiện hành” năm 2002; Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc sỹ Trần Hồng
Hạnh “Đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam” năm 2008; cùng nhiều
khóa luận tốt nghiệp khác.


3

Vấn đề đình công và giải quyết đình công cũng được đề cập trong một số
bài tạp chí như: “Pháp luật đình công và giải quyết đình công nhìn từ góc độ
thực tiễn” - Tiến sỹ Đào Thị Hằng, đăng trên Tạp chí luật học số 5/2004;
“Những bất cập của pháp luật về giải quyết đình công ở Việt Nam hiện nay và
môt số kiến nghị” - Thạc sỹ Đỗ Ngân Bình, tạp chí Luật học số 3/2004; “Một
số ý kiến về luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh
chấp lao động và đình công” - Thạc sỹ Đỗ Ngân Bình, tạp chí Luật học
6/2004.
Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp cũng đã giành một chuyên đề
cho vấn đề đình công và giải quyết đình công, số chuyên đề 12/2011, tên
chuyên đề: “Thực trạng đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam”, chịu
trách nhiệm xuất bản Giáo sư, Tiến sỹ Lê Hồng Hạnh.
Sau khi BLLĐ 2012 có hiệu lực, đã có một số công trình nghiên cứu về
đình công và giải quyết đình công như: Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc sỹ
Chử Thị Xuyên năm 2013 “Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình
công trong Bộ luật Lao động năm 2012”; Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc
sỹ Hà Thị Hoa Phượng năm 2013 “Đình công và giải quyết đình công theo Bộ

đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
4. Mục tiêu nghiên cứu luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật đình công và giải quyết đình công, trên cơ sở đó đề xuất những
giải pháp hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công; đánh giá
thực trạng thi hành pháp luật đình công và giải quyết đình công trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần đảm bảo thi hành pháp
luật đình công và giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới trả lời các câu hỏi sau:
- Thế nào là đình công và giải quyết đình công?
- Pháp luật về đình công và giải quyết đình công Việt Nam phát triển qua
các thời kỳ như thế nào?
- Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công và giải quyết
đình công?
- Tình hình đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra như thế nào?
- Từ những bất cập của pháp luật và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh, cần những kiến nghị gì?
6. Phương pháp nghiên cứu


5

Luận văn được thực hiện trên cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó luôn khẳng định quyền đình công là
quyền của NLĐ. Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của
triết học Mác - Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật làm cơ sở nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến đình công và giải quyết đình công.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về đình công, giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.


7

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI
QUYẾT ĐÌNH CÔNG
1.1. Những vấn đề lý luận về đình công
1.1.1. Khái niệm đình công
Đình công là hiện tượng xảy ra tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị
trường, nó xảy ra như một biểu hiện của sự bế tắc trong quan hệ giữa NLĐ
với NSDLĐ, hoặc đôi khi giữa NLĐ với một chủ thể khác. Đình công là một
vấn đề phức tạp, để có thể hiểu rõ về bản chất của vấn đề này, cần xem xét
đình công dưới ba góc độ: xã hội, kinh tế, pháp lý.
Dưới góc độ xã hội, đình công là một hiện tượng có tính quần chúng, vì
đình công là sự ngừng việc được thực hiện bởi tập thể NLĐ. Đình công còn
mang tính liên kết cao giữa các cá nhân bởi sự ngừng việc được thực hiện một
cách có tổ chức. Tập thể lao động đình công mang những tính chất của một
“đám đông”, cụ thể: thứ nhất, trong đám đông, các thành viên của nó vô danh,
cái vô danh trong đám đông khiến người ta cảm thấy một sự an toàn và được
bảo vệ nhất định; thứ hai, đám đông gây phấn khích, số đông cộng hưởng và
tạo ra một năng lượng đặc biệt, một sự hưng phấn có tính lây lan; thứ ba đám
đông chuyển động, trăm người như một đều cùng thực hiện một hành vi nào
đấy. Với tất cả những tính chất trên, đám đông làm giảm đáng kể ý thức trách
nhiệm của mỗi người về hành vi của mình1. Với những tính chất này đình
công là hiện tượng có khả năng gây mất ổn định đối với trật tự xã hội đối với
các cuộc đình công có quy mô lớn, có sự tham gia đông đảo của NLĐ, “hiệu

hội văn hóa của Liên hợp quốc ngày 16/02/1996. Văn phòng ILO khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương đưa ra nhận định về đình công như sau: “Đình
công là một sự ngừng việc tạm thời có dự tính hoặc sự bỏ việc của một nhóm
công nhân trong một doanh nghiệp hoặc một vài doanh nghiệp để biểu thị
một mối quan tâm hoặc gây áp lực bắt doanh nghiệp thực hiện các đòi hỏi về
tiền lương, giờ làm việc và điều kiện lao động. Các vụ đình công được đặc
trưng bởi mức độ khác nhau về hình thức và cách thức tổ chức, về mức độ
tham gia và khởi xướng của công đoàn hoặc các nhóm công nhân. Chúng
cũng khác nhau về thời gian và ý nghĩa từ những cuộc biểu tình ngắn nhằm
mục đích thương lượng cho tới đấu tranh lao động và chính trị lâu dài.
Những người tham gia đình công vẫn cho rằng họ là những NLĐ của doanh

2

Đỗ Mạnh Cường (2011), “Các chủ thể trong quan hệ lao
/>1/7/2016.

động tập
truy
cập

thể”,
ngày


9

nghiệp với quyền được trở lại làm việc khi vụ tranh chấp được giải quyết3.
ILO đã đưa ra một khái niệm khá rõ ràng, bao quát được hầu hết các loại đình
công có thể xảy ra trên thực tế.

tr.98.
5
Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động phối hợp Dự án quan hệ lao động Việt Nam - ILO (2012),
“100 thuật ngữ thông dụng nhất về quan hệ lao động được quốc tế sử dụng”, NXB Lao động - Xã hội, Hà
Nội, tr. 61.


10

thường, người lao động có nghĩa vụ phải làm việc theo thoả thuận với
NSDLĐ. NLĐ nghỉ việc không được sự đồng ý của NSDLĐ mà không có lý
do chính đáng có thể bị xử lý kỷ luật lao động. Tuy nhiên trong trường hợp
xảy ra bất đồng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động hay một chủ
thể khác, tập thể lao động có thể ngừng việc nhằm gây áp lực buộc chủ thể kia
phải chấp nhận các yêu sách. Sự ngừng việc này có nhiều dạng, nhiều mức độ
khác nhau, có thể là ngừng việc một cách triệt để, tức là không thực hiện các
công việc theo các quy định và thỏa thuận hợp pháp của các bên, cũng có thể
là sự nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, không sử dụng hết công suất máy
móc, thời gian làm việc, không thực hiện một phần công việc theo thỏa thuận
(hay còn gọi là lãn công). Đa số các nước trên thế giới chỉ công nhận sự
ngừng việc triệt để là một biểu hiện của đình công, đối với các quốc gia này,
hành vi lãn công có thể bị xử lý kỷ luật lao động. Một số ít các quốc gia như
Mỹ, Na Uy, Malayxia, Nga lại công nhận việc ngừng việc không triệt để cũng
là một biểu hiện của đình công.
Biểu hiện ngừng việc của NLĐ tham gia đình công chỉ có tính chất tạm
thời, tức là chỉ tạm ngừng quan hệ lao động. Trong ý thức của NLĐ, sự ngừng
việc này chỉ là trong một khoảng thời gian nhất định chứ họ không dự định
nghỉ việc lâu dài, không bỏ việc và không đi làm cho người khác. Theo ILO
“những người tham gia đình công vẫn cho rằng họ là những NLĐ của doanh
nghiệp có quyền được trở lại làm việc khi vụ tranh chấp được giải quyết”.

đình công, đình công có yêu sách rõ ràng và đã được chuẩn bị trước. Thành
phần lãnh đạo đình công có thể là tổ chức đại diện của những người lao động
như công đoàn hay nghiệp đoàn, có thể chỉ là một người hay một nhóm người
được tập thể lao động bầu ra tại thời điểm chuẩn bị đình công. Tư cách lãnh
đạo của những người này có được pháp luật thừa nhận hay không phụ thuộc
vào quan điểm của từng Nhà nước. Thứ hai, NLĐ phải cùng ngừng việc vì
mục tiêu chung, nghĩa là những yêu sách đưa ra đối với NSDLĐ mang lại lợi
ích cho toàn bộ NLĐ tham gia đình công.
Như vậy, nếu chỉ có một vài, một số NLĐ hoặc một nhóm nhỏ ngừng việc
mà mỗi người vì những lý do khác nhau và không liên quan đến nhau thì chỉ
là sự ngừng việc của những cá nhân. Thông thường, nếu cá nhân tự ý ngừng
việc nhằm gây sức ép với NSDLĐ sẽ bị coi là vi phạm kỷ luật lao động và có
thể phải chịu các hình thức kỷ luật.
6

Đỗ Ngân Bình (2005), “Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế”, Luận án Tiến sỹ luật học, đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.23,24.


12

Thứ ba, đình công phải xuất phát từ sự tự định đoạt của NLĐ.
Đây là dấu hiệu về mặt ý chí của những NLĐ, thể hiện ở việc họ tự mình
quyết định ngừng việc, tham gia đình công trong khi vẫn có đầy đủ những
điều kiện để làm việc. Đình công là hành vi của tập thể nhưng lại là quyền của
từng cá nhân, hành vi của tập thể tồn tại trên cơ sở đảm bảo quyền của cá
nhân, tức là mỗi cá nhân NLĐ phải được thực hiện quyền tự định đoạt trong
việc tham gia đình công. Quyền tự định đoạt còn thể hiện ở việc cá nhân được
lựa chọn một hành vi trong nhiều hành vi, tức là NLĐ lựa chọn việc tham gia
đình công khi vẫn có thể tiếp tục làm việc, không do yếu tố khách quan mà

diễn ra rất đa dạng với nhiều loại hình và tính chất khác nhau, vì vậy phân
loại đình công là một vấn đề có ý nhĩa trong lý luận và thực tiễn.
Có các cách phân loại đình công như sau:
Căn cứ vào phạm vi đình công, đình công bao gồm: đình công doanh
nghiệp, đình công bộ phận, đình công ngành hoặc liên ngành, tổng đình công.
Đình công doanh nghiệp là đình công do tập thể lao động trong phạm vi
một doanh nghiệp tiến hành. Đình công bộ phận là đình công do tập thể lao
động trong phạm vi một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp tiến hành. Đình
công ngành hoặc liên ngành là những cuộc đình công của người lao động
trong phạm vi một ngành hoặc liên ngành trong phạm vi toàn quốc tiến hành.
Tổng đình công là cuộc đình công do giới lao động tiến hành trên phạm vi
toàn quốc. Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ công nhận đình công trong
phạm vi doanh nghiệp là hợp pháp.
Căn cứ vào tính hợp pháp của cuộc đình công, đình công bao gồm: đình
công hợp pháp và đình công bất hợp pháp.
Đình công hợp pháp là đình công đảm bảo được đầy đủ các điều kiện do
pháp luật quy định về mục đích đình công, đối tượng được phép đình công,
thời điểm có quyền đình công, thủ tục chuẩn bị đình công, quyền lãnh đạo
đình công và phương thức đình công. Đình công bất hợp pháp là đình công
không tuân theo các điều kiện trên.
Căn cứ vào mục đích của đình công, đình công được chia làm hai loại là
đình công kinh tế và đình công chính trị.
Đình công kinh tế là đình công được tập thể lao động tổ chức vì quyền và
lợi ích về kinh tế liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp của họ không được đảm
bảo. Đình công chính trị là việc tập thể người lao động ngừng việc để phản
đối những chính sách thuần túy về chính trị, những chính sách đối nội, đối
ngoại của đất nước mà không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích nghề


14

lại thừa nhận việc đình công của tập thể NLĐ đối với NSDLĐ khác.
7

Đỗ Ngân Bình, tlđd chú thích 6, tr.27.


15

Hoạt động giải quyết nguyên nhân của cuộc đình công.
Do đa số các cuộc đình công xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể nên
hoạt động này thông thường sẽ là giải quyết tranh chấp lao động dẫn đến đình
công. Việc giải quyết nguyên nhân của cuộc đình công chủ yếu do các bên tự
quyết định nhằm đảm bảo ở mức cao nhất sự tự định đoạt của các bên, phù
hợp với bản chất của đình công là cuộc đấu tranh kinh tế do người lao động
tiến hành nhằm gây sức ép với chủ thể đối diện. Toà án khi giải quyết đình
công thường chỉ xét tính hợp pháp của cuộc đình công, việc giải quyết nguyên
nhân của cuộc đình công chỉ được tiến hành khi có đơn khởi kiện theo thủ tục
giải quyết tranh chấp lao động.
Hoạt động giải quyết hậu quả của cuộc đình công và những vấn đề liên
quan đến cuộc đình công.
Giải quyết đình công nếu chỉ dừng lại ở việc giải quyết tính hợp pháp, giải
quyết nguyên nhân của cuộc đình công sẽ không toàn diện, bởi lẽ, nó còn gắn
liền với hoạt động giải quyết hậu quả của cuộc đình công. Giải quyết hậu quả
của cuộc đình công thường gắn với trách nhiệm (hay chế tài) nếu có của các
bên trong quá trình đình công và nó liên quan mật thiết đến quá trình xem xét
tính hợp pháp của cuộc đình công. Một cuộc đình công bất hợp pháp, ngoài
việc phải ngừng cuộc đình công, tập thể người lao động có thể phải bồi
thường theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quan điểm này, giải quyết
đình công sẽ bao gồm hoạt động xét tính hợp pháp của cuộc đình công và giải
quyết nguyên nhân, hậu quả của cuộc đình công.

Thứ nhất, giải quyết đình công góp phần ngăn chặn, hạn chế những cuộc
đình công bất hợp pháp.
Tùy thuộc vào từng thể chế chính trị, hình thức tổ chức hành chính, mức
độ phát triển kinh tế - xã hội, và yếu tố văn hóa của các quốc gia mà có những
quy định khác nhau về các trường hợp đình công bất hợp pháp. Các quốc gia
khi xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật đình công nói riêng đã cân
nhắc đến đặc điểm của quốc gia để đưa ra những quy định phù hợp, không
làm ảnh hưởng đến thể chế chính trị, xã hội, kinh tế, nền văn hóa của quốc gia
đó. Vì vậy, bất kỳ cuộc đình công bất hợp pháp nào cũng đều có nguy cơ gây
ảnh hưởng lớn đến quốc gia. Khi cuộc đình công được tuyên bố là bất hợp
pháp thì tập thể NLĐ phải ngừng ngay cuộc đình công để trở lại làm việc.
Cuộc đình công bất hợp pháp được ngăn chặn kịp thời, giảm thiểu những rủi
ro đối với quốc gia.
8

Hà Thị Hoa Phượng, tlđd chú thích 3, tr.18.


17

Thứ hai, giải quyết đình công có vai trò bảo vệ lợi ích chính đáng của các
bên trong quan hệ lao động.
Khi tiến hành đình công, những người lao động mong muốn sẽ gây được
sức ép với chủ thể đối diện để đạt được các quyền và lợi ích nghề nghiệp.
Thông qua quá trình giải quyết đình công, các yêu sách của người lao động có
thể được giải quyết nếu yêu sách đó là hợp pháp và chính đáng. Ngay cả trong
trường hợp cuộc đình công là bất hợp pháp, đình công vẫn gây sự chú ý của
công luận và đặc biệt là của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các
yêu cầu của người lao động.
Đối với người sử dụng lao động, việc giải quyết đình công nhanh chóng

1.3. Điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề đình công và giải quyết
đình công
1.3.1. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề
đình công và giải quyết đình công
Đình công là hiện tượng xuất hiện khách quan trong nền kinh tế thị trường
và là một vấn đề phức tạp, mặc dù có những ảnh hưởng tích cực đến đời sống
xã hội như đảm bảo quyền dân chủ của NLĐ, giúp cân bằng lợi ích trong
quan hệ lao động vốn không cân bằng, nhưng đình công luôn tiềm ẩn những
nguy cơ gây ra tác động xấu đến xã hội, nền kinh tế và đôi khi là chính trị của
một quốc gia. Sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với đình công và giải quyết
đình công là cần thiết, đảm bảo phát huy những mặt tích cực và kiểm soát
được những vấn đề tiêu cực mà đình công mang lại.
Thứ nhất, việc điều chỉnh pháp luật về đình công và giải quyết đình công
nhằm góp phần định hướng cho sự phát triển của quan hệ lao động theo ý chí
chủ quan của nhà nước. Đảm bảo việc đình công không gây ảnh hưởng lớn
đến chính trị, sự ổn định cho xã hội và sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, việc điều chỉnh pháp luật đối với đình công giúp bảo vệ quyền và
lợi ích cho bên yếu thế trong quan hệ lao động, là NLĐ. Mặc dù pháp luật
quốc tế thừa nhận quyền đình công của NLĐ, tuy nhiên chỉ khi pháp luật từng
quốc gia cụ thể hóa bằng những quy định cụ để, đảm bảo khung pháp lý cho
NLĐ tiến hành đình công, khi đó NLĐ mới có cơ sở tiến hành thực hiện
quyền dân chủ của mình, bởi đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều
kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.
Thứ ba, pháp luật đình công giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ.
Mặc dù là bên có lợi thế trong quan hệ lao động, nhưng trước những tính chất
cũng như diễn biến phức tạp của đình công, NSDLĐ cũng sẽ có nguy cơ gặp


19


9

Đỗ Ngân Bình, tlđd chú thích 6, tr.42.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status